VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THANH HẢI
BA MÔ HÌNH TRUYỆN LỊCH SỬ TRONG
VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Ngành: Lý luận văn học
Mã số: 9 22 01 20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LA KHẮC HÒA
Hà Nội - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả trình
bày trong luận án là trung thực, đảm bảo tính chính xác và khoa học cao. Các tài liệu
tham khảo, trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về
công trình nghiên cứu của mình.
Hà Nội, tháng 12 năm 2018
Tác giả
Ngô Thanh Hải
LỜI TRI ÂN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................ 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 2
2.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................... 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 3
4. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu ........................................................ 4
4.1. Cơ sở lý thuyết .......................................................................................... 4
4.2. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 4
5. Đóng góp của luận án ........................................................................................... 5
6. Ý nghĩa lý thuyết và ý nghĩa thực tiễn của luận án .............................................. 6
6.1. Ý nghĩa lý thuyết........................................................................................ 6
6.2. Ý nghĩa thực tiễn ....................................................................................... 7
7. Cấu trúc luận án .................................................................................................... 7
NỘI DUNG
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .................................... 8
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu truyện lịch sử ................................................. 8
1.1.1. Một số nghiên cứu ngoài nước ..........................................................................8
1.1.2. Các nghiên cứu về truyện lịch sử ở Việt Nam ..................................................10
1.2. Quan niệm về thể loại và cấu trúc thể loại ........................................................ 21
1.2.1.Thể loại và cấu trúc thể loại trong nghiên cứu văn học ......................... 21
1.2.2. Truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn văn học ............................ 27
1.3. Quan niệm chung về mô hình truyện lịch sử ..................................................... 38
1.3.1. Khái niệm mô hình ................................................................................ 38
1.3.2. Khái niệm mô hình truyện lịch sử ......................................................... 39
Tiểu kết chương ..................................................................................................... 141
Chương 2: MÔ HÌNH TRUYỀN THUYẾT LỊCH SỬ ....................................... 43
2.1. Chủ thể xác tín về chân lý lịch sử gắn với những câu chuyện hồi sinh ............ 44
4.1.2. Chủ thể của những câu chuyện về thân phận cá nhân ........................ 126
4.1.3. Chủ thể của những câu chuyện ngẫu nbiên, bất định.......................... 129
4.2. Bức tranh thế giới lập thể của những mảnh vỡ lịch sử .................................... 132
4.2.1. Những mảnh vỡ ngẫu nhiên, huyền hoặc............................................. 133
4.2.2. Những mảnh vỡ của lịch sử quan phuơng, theo tiến trình biên niên... 134
4.2.3. Sự đan cài các mảnh vỡ, kiến tạo cấu trúc diễn ngôn ......................... 136
4.3. Ngôn ngữ nghệ thuật mang tính tổng hợp cao ................................................ 139
4.3.1. Lịch sử như một ngôn ngữ, một mã nghệ thuật ................................... 139
4.3.2. Phá bỏ phân vai ước lệ ........................................................................ 142
4.3.3. Sự trở về ngôn ngữ thế tục ................................................................... 144
Tiểu kết chương 4 ................................................................................................... 146
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 148
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Trong nền văn học hiện đại Việt Nam, truyện lịch sử là thể loại phát triển mạnh mẽ,
đạt được nhiều thành tựu với những tác giả, tác phẩm xuất sắc, trở thành một khuynh hướng văn
xuôi tiêu biểu. Đặc biệt, từ những năm 1980 trở lại đây, truyện lịch sử có bước chuyển biến lớn
với những cách tân, sáng tạo độc đáo, góc nhìn, ngôn ngữ tự sự mới mẻ, khác biệt so với giai
đoạn trước. Những hiện tượng truyện lịch sử nổi bật, gây tiếng vang lớn, thu hút được sự quan
tâm đặc biệt của giới nghiên cứu, phê bình, tạo ra những cuộc tranh luận sôi nổi, trở thành vấn
đề thời sự văn học. Tuy nhiên, hệ thống lý thuyết thể loại truyện lịch sử làm điểm tựa, nền tảng
cho nghiên cứu, phê bình, tiếp nhận vẫn còn khá khiêm tốn, tản mạn, chưa có tính hệ thống. Đây
là vấn đề bức thiết, đòi hỏi cần có những nghiên cứu chuyên sâu, có sự khái quát, xây dựng hệ
thống lý thuyết thể loại khoa học, toàn diện. Do đó, đề tài của chúng tôi nghiên cứu một hiện
tượng văn học đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, góp phần xác lập cơ sở lý thuyết thể loại
truyện lịch sử trên những khía cạnh nổi bật, đặc trưng, then chốt, bắt kịp với tốc độ phát triển
của thực tiễn sáng tác.
1.2. Mặt khác, khi truyện lịch sử nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của đông đảo các
cao. Với quan niệm về thể loại, nền tảng lý thuyết và phương pháp tiếp cận truyện lịch sử trong
luận án này, chúng tôi hy vọng cung cấp một công cụ lý thuyết, các tha tác và cách thức tiếp cận
truyện lịch sử trong nhà trường phù hợp với đối tượng, tính chất, yêu cầu của công việc giảng
dạy. Qua đây, chúng tôi hy vọng bắc một nhịp cầu nối giữa việc tiếp nhận mang tính phổ thông
trong nhà trường và những nghiên cứu hàn lâm, để có thể hiểu, cảm, lý giải truyện lịch sử và các
hiện tượng văn học khác một cách khoa học, logic, toàn vẹn, triệt để nhất có thể.
1.4. Với đề tài Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam, chúng tôi
quan niệm truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn, đi sâu tìm hiểu hạt nhân cấu trúc thể loại.
Hướng đi này sẽ góp phần lấp đầy những khoảng trống lý thuyết thể loại còn để ngỏ, lý giải
những hiện tượng truyện lịch sử phức tạp, gây nhiều tranh cãi, giải quyết những bất đồng quan
điểm trong nghiên cứu và thực tiễn sáng tác. Mặt khác, dựa trên hệ thống lý thuyết mới, chúng
tôi có thể kiến giải, diễn giải lại các hiện tượng truyện lịch sử quen thuộc cũng như các thể loại
văn học khác. Vì vậy, góc nhìn, cách tiếp cận này hứa hẹn nhiều triển vọng cho nghiên cứu
truyện lịch sử, thể loại và các hiện tượng văn học khác.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nhận diện/ mô tả lịch sử thể loại truyện lịch sử dưới ánh sáng của lý thuyết mới – lý
thuyết diễn ngôn. Từ đó, luận án làm sáng tỏ một số khía cạnh lý thuyết và lịch sử văn học dưới
góc nhìn cấu trúc thể loại.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án của chúng tôi hướng đến việc thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất: Điểm lại, tổng hợp, khái quát hóa lịch sử nghiên cứu truyện lịch sử ở trong và
ngoài nước qua các công trình tiêu biểu. Những xu hướng nghiên cứu và các lý thuyết được sử
dụng là tiền đề, cơ sở để chúng tôi thực hiện luận án này.
2
Thứ hai: Xây dựng một nền tảng lý thuyết thể loại truyện lịch sử trên cơ sở lý thuyết diễn
ngôn và các mẫu gốc trần thuật, làm điểm tựa để đưa ra ba mô hình truyện lịch sử cụ thể, khảo
3
4. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý thuyết
Luận án của chúng tôi sử dụng lý thuyết diễn ngôn, chủ yếu của V.I.Chiupa làm cơ sở.
Từ cơ sở lý thuyết này, chúng tôi quan niệm truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn đặc thù
để thực hiện một chiến lược giao tiếp với sự tham gia, thống nhất của ba yếu tố: chủ thể phát
ngôn, đối tượng hướng tới/ tiếp nhận và cái tham chiếu (nội dung được thể hiện). Ba yếu tố đó
sẽ kết hợp, tạo ra các mô hình cấu trúc, những bức tranh thế giới riêng cho thể loại dựa trên các
mẫu gốc trần thuật. Tiếp cận truyện lịch sử từ góc độ này, chúng tôi quan niệm thể loại chính là
sự thỏa thuận giữa chủ thể phát ngôn và đối tượng hướng tới trên một vấn đề/ đề tài nào đó mà
cả hai cùng quan tâm, được thể hiện bằng phương tiện ngôn ngữ phù hợp.
Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng các lý thuyết khác như: tự sự học hiện đại, ký hiệu học
văn hóa và thi pháp học trong khảo sát, phân tích, khái quát hóa, làm rõ cái nhìn, cách diễn giải
lịch sử trong các mô hình và của mỗi nhà văn. Bên cạnh đó, các lý thuyết này sẽ bổ sung cho lý
thuyết diễn ngôn, làm rõ hơn các yếu tố về hình thức, ngôn ngữ, các cơ chế tạo nghĩa, mã hóa
thành các motif nghệ thuật, xây dựng hình tượng, tổ chức trần thuật, tạo dựng kết cấu… Mỗi
yếu tố cụ thể đó mang nét riêng, tạo ra đặc trưng cho mỗi mô hình cấu trúc truyện lịch sử trong
sự vận động, phát triển của lịch sử văn học.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
4.2.1. Phương pháp luận của lý thuyết diễn ngôn và ký hiệu học văn hóa: đi sâu phân
tích, diễn giải và lý giải truyện lịch sử như một hình thức diễn ngôn đặc thù của văn học. Từ đó,
trên cơ sở chiến lược giao tiếp diễn ngôn giữa chủ thể, cái tham chiếu và đối tượng tiếp nhận,
chúng tôi phân xuất, làm sáng rõ ba mô hình truyện lịch sử từ trên cơ sở các mô hình cấu trúc tự
sự nền móng. Trong diễn ngôn truyện lịch sử, yếu tố lịch sử chỉ là một thứ mã, một loại ngôn
ngữ đặc trưng thể hiện mô hình cấu trúc của thể loại.
4.2.2. Phương pháp nghiên cứu loại hình: khảo sát, tiếp cận truyện lịch sử từ góc nhìn
học, dựa vào các kiểu cấu trúc nền móng và cổ mẫu trần thuật, chúng tôi chia truyện lịch sử
thành ba mô hình: mô hình truyền thuyết, mô hình dụ ngôn và mô hình giai thoại lịch sử. Mỗi
mô hình sẽ thực hiện một chiến lược giao tiếp diễn ngôn riêng với sự tương tác của chủ thể, đối
tượng tiếp nhận và cái được nói tới. Mỗi mô hình sẽ là một cách tiếp cận riêng, gắn với tư
tưởng, hình thức trần thuật, nhào nặn độc đáo trong sự chi phối của các quyền lực chính trị, văn
hóa và cá tính sáng tạo riêng của tác giả.
Thứ ba, ba mô hình truyện lịch sử không tồn tại tách rời mà có sự chuyển hóa, tương tác
với nhau, là sản phẩm sáng tạo của một chủ thể gắn với thời đại, bối cảnh lịch sử, xã hội, văn
hóa, hệ tư tưởng, quan niệm thẩm mỹ, tư duy nghệ thuật nhất định. Do đó, nghiên cứu các mô
hình trong quá trình vận động, phát triển của nền văn học dân tộc và nhân loại, nhất là đặt trong
ký ức thể loại sẽ đem đến một góc nhìn, một cách tiếp cận mới mẻ về văn học sử từ góc nhìn thể
loại. Góc nhìn này sẽ bổ sung, làm sáng tỏ, lý giải nhiều hiện tượng truyện lịch sử nói riêng và
các hiện tượng văn học nói chung một cách thỏa đáng, đa chiều, khách quan. Do đó, luận án
cũng đem đến một cách tiếp cận khác truyện lịch sử cũng như vấn đề thể loại văn học.
Thứ tư, trong luận án, chúng tôi sẽ dừng lại phân tích, diễn giải, lý giải một số tác phẩm
tiêu biểu, thể hiện rõ đặc trưng của mỗi mô hình, đặc biệt là những hiện tượng còn gây nhiều
5
tranh cãi, tạo ra dư luận trái chiều, hoặc những hiện tượng mới, lạ, có quan điểm lịch sử đối lập
với quan điểm chính thống/ được mặc định. Khai thác, diễn giải và lý giải truyện lịch sử như
một diễn ngôn, một hiện tượng ngôn ngữ - văn hóa vốn là sản phẩm của chiến lược giao tiếp
trong một bối cảnh văn hóa, luận án sẽ đem đến sự thức nhận mới, nhìn nhận đúng bản chất hơn
về lịch sử. Theo đó, lịch sử không phải là sự thật như nó vốn có, như cái vốn là, lịch sử chỉ là sự
thật trong một hình thức diễn ngôn nào đó, trong đó có diễn ngôn văn học về lịch sử. Trong diễn
ngôn văn học, lịch sử có vai trò như một mã, ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng. Khảo sát các hiện
tượng truyện lịch sử, chúng tôi bước đầu đánh giá những thành tựu, đóng góp và cả những hạn
chế của thể loại trong nền văn học hiện đại Việt Nam.
Thứ năm, những kết quả nghiên cứu về truyện lịch sử của chúng tôi tiếp tục đặt ra một
tôi hướng tới một góc nhìn khác, không nặng về đánh giá theo kiểu khen, chê, cao, thấp mà đi
sâu vào lý giải cơ chế, hạt nhân cấu trúc tạo ra tác phẩm với tư cách là diễn ngôn thể loại và diễn
ngôn của cá nhân nhà văn. Cách lý giải ấy mang tính bao quát, sẽ giúp chúng ta hiểu và có cái
nhìn thấu đáo với nhiều hiện tượng truyện lịch sử nói riêng và các hiện tượng văn học mới, lạ,
gây hấn với cái nhìn cố hữu, được coi là chuẩn mực xưa nay. Đó cũng là một lần nhìn nhận lại
hiện tượng văn học trong mối tương tác đa chiều của người sáng tạo, người tiếp nhận với đề tài,
tư tưởng, cùng bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, các quyền lực tri thức khi tác phẩm ra đời. Và
lịch sử sẽ được nhìn ở nhiều chiều kích, trên tinh thần đối thoại, dân chủ, để chúng ta đến gần
nhất với sự thật và chân lý từ các sự thật trong diễn ngôn mà các chủ thể đã tạo ra.
Những quan niệm thể loại và các mô hình cấu trúc truyện lịch sử trong luận án của
chúng tôi sẽ góp thêm một góc nhìn, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu truyện lịch sử
nói riêng, thể loại và các hiện tượng văn học nói chung. Phương pháp này đã và đang được ứng
dụng trong nghiên cứu văn chương ở nhiều mức độ, cấp độ và góc cạnh khác nhau khi quan
niệm tác phẩm như một thể loại lời nói, đặt chúng trong chuỗi các lời nói khác để tìm ra đặc
trưng, bản chất, đặt các hiện tượng văn học trong mối quan hệ mật thiết với văn học truyền
thống và cổ đại, trên cơ sở mã gen di truyền của thể loại.
7. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, luận án của chúng tôi được chia thành
bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Mô hình truyền thuyết lịch sử
Chương 3: Mô hình dụ ngôn lịch sử
Chương 4: Mô hình giai thoại lịch sử
7
NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
đưa ra những quan niệm riêng về tiểu thuyết lịch sử. Theo các tác giả của cuốn sách này, “Tiểu
8
thuyết lịch sử có thể thoát thai từ ao ước của một tác giả muốn đào thoát khỏi hiện tại, đồng
thời thỏa mãn ước ao tương tự của độc giả. Nhưng tiểu thuyết lịch sử còn có nhiều tác dụng
nữa. Nó có thể soi sáng những thời kỳ quá khứ con người đã qua, với những mục đích rõ ràng
là gạn lọc những tình trạng tiến thoái lưỡng nan của hiện tại. Nó giúp ta làm những bảng so
sánh, đối chiếu thời đại nọ với thời đại kia” [30; tr.197]. Họ quan niệm rằng“Tác giả tiểu thuyết
lịch sử sử dụng quá khứ như một khí cụ để vẽ lên những điểm tương đồng giữa quá khứ và hiện
tại, và do đó làm sáng tỏ hiện tại.” [30; tr.198]. Cuốn sách này còn đi sâu, mở rộng nghiên cứu
tiểu thuyết lịch sử trong hoạt động tiếp nhận, góc nhìn của người đọc: “Đọc tiểu thuyết lịch sử
là để đưa mình vào những thời đại khác, vì khi người ta khốn khổ thì ưa đi tìm bạn tương tri”
[30; tr.196]. Vì tiểu thuyết lịch sử viết về một thời đại khác, cách xa thời đại tác giả đang sống
nên: “Viết tiểu thuyết lịch sử chẳng khác nào trò chơi ú tim trong bóng tối, và nếu trong trò
chơi này ta chộp được một bàn tay hay một khuôn mặt, thì đã là may mắn lắm rồi” [30; tr.213].
Những kết quả khảo cứu nêu trên giúp các tác giả đưa ra tiêu chuẩn cho tiểu thuyết về lịch sử
hiện đại: “Tác giả không có nhiệm vụ soi sáng các biến cố, “mà chỉ có nhiệm vụ soi sáng con
người mắc míu vào biến cố, vì nhân vật là mục tiêu của bất kỳ loại tiểu thuyết nào” [29; tr.215 –
216]. Đây là những nhận định có nghĩa quan trọng để ta hiểu hơn bản chất, mục đích, sức mạnh
của tiểu thuyết lịch sử và sứ mệnh của nhà văn viết truyện lịch sử. Nó cũng cho người đọc một
cái nhìn, xác định tâm thế đọc tiểu thuyết lịch sử chính là đọc một diễn ngôn về lịch sử, về cái đã
xảy ra trong quá khứ để hiểu thực tại.
Nhà nghiên cứu người Mỹ Hayden White đưa ra một luận điểm then chốt, thành nền
tảng tư tưởng khi nhìn về tự sự và lịch sử: “lịch sử như là tự sự” (history as narrative) [185;
tr.114]. Ông giải thích rõ quan niệm của mình về lịch sử: “Lịch sử chỉ như một thứ truyện kể
được kể từ điểm nhìn của một ngôi thứ ba nào đó, như chiết tự của từ “history” trong tiếng
Anh. Các sự kiện quá khứ chưa phải là lịch sử, chúng chỉ trở thành lịch sử khi được diễn giải, từ
đó, lịch sử chính là một trò chơi – ngôn ngữ (language – game), để dùng một từ khóa của triết
viết truyện lịch sử, tác phẩm truyện lịch sử rất nhiều, phong phú, đánh giá nhiều góc cạnh, ở các
mức độ, quy mô khác nhau, nhìn từ nhiều hệ hình và tư duy lý thuyết khác nhau. Qua những
nghiên cứu này, các tác giả đã đưa ra quan niệm riêng về lịch sử, thể loại truyện lịch sử và
những đặc trưng của nó ở những dạng thức, tính chất, mức độ khác nhau. Hầu hết các nghiên
cứu đều xoay quanh vấn đề mối quan hệ giữa văn và sử, hiện thực và hư cấu.
Trong cuốn Nguyễn Huy Tưởng, NXB Văn học, 1966, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức có
nhận định về việc sáng tạo nghệ thuật của các nhà viết truyện lịch sử: “Việc nghiên cứu lịch sử
là vô cùng cần thiết đối với nghệ sĩ, nhưng sự nghiên cứu ấy không thể thay thế cho sự sáng tạo.
Có khi nghệ sĩ chỉ cần vài khoảnh khắc trong đời sống của nhân vật lịch sử, có khi nghệ sĩ đưa
vào tác phẩm những điều phi lịch sử không quan trọng, thậm chí trong một chừng mực nào đó,
có quyền vi phạm sự đúng đắn về mặt sự kiện lịch sử, bởi vì tác giả chỉ cần sự đúng đắn lý
tưởng mà thôi” [Dẫn theo Nguyễn Thị Tuyết Minh - 137; tr.12]. Khi nói về các tiểu thuyết lịch
sử Đêm hội Long Trì và An Tư , Hà Minh Đức đã nhận xét: “Những sự kiện lịch sử lớn lao đã
được làm sống dậy chân thực, hào hùng trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng.” [ Dẫn theo
Nguyễn Thị Tuyết Minh - 137; tr.22]. Phan Cự đệ đã khẳng định ý nghĩa của những tiểu thuyết
lịch sử thời kỳ 1900 – 1930, đặc biệt là việc thể hiện những vấn đề của thời đại trong công trình
Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Bên cạnh đó, bài viết Các thế hệ nhà văn trong ngót một trăm
năm nối tiếp nhau soi lại lịch sử của Nguyễn Đình Chú đã đánh giá những đóng góp cụ thể của
10
nhà văn Nguyễn Tử Siêu qua tiểu thuyết lịch sử. Bài viết Vai trò của truyện kể dân gian đối với
sự hình thành các thể loại tự sự trong văn học Việt Nam (trong sách Văn hóa dân gian, những
lĩnh vực nghiên cứu, NXB Khoa học Xã hội, 1989) của Kiều Thu Hoạch có đưa ra nhận định
quan trọng về truyện lịch sử trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc trên tinh thần kế
thừa và phát huy truyền thống.
Những nghiên cứu, nhận định về tiểu thuyết lịch sử nửa đầu thế kỷ XX chủ yếu tập trung
vào nội dung, đề tài, xem xét cách khai thác lịch sử như thế nào. Từ góc nhìn nội dung, các tác
giả bước đầu có những nhận định về những sáng tạo, hư cấu, tưởng tượng của nhà văn. Cùng
của Nguyễn Huy Thiệp của Ngô Văn Giá, Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp “triết học lịch
sử” hay là “văn xuôi nghệ thuật”? của Trương Hồng Quang và Nguyễn Mai Xuân, Về một lối
cảm thụ và phê bình “bắt vít” của Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh, “Đọc” Nguyễn Huy
Thiệp của Văn Tâm, … và một số ý kiến lẻ khác trong các cuộc phỏng vấn, tọa đàm hoặc các
bài viết nhận định chung về cả ba tác phẩm truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp. Những bài
viết này xuất phát từ những góc nhìn, cách tiếp cận khác nhau, có những khám phá, phát hiện
trên nhiều phương diện về những truyện lịch sử của ông. Tuy nhiên, tất cả đều trực tiếp hoặc
gián tiếp tranh luận với cách nhìn nhận, đánh giá của Tạ Ngọc Liễn và Đỗ Văn Khang, nhất là
của Tạ Ngọc Liễn, khẳng định giá trị nhiều mặt, những tìm tòi, sáng tạo độc đáo và phong cách
nghệ thuật riêng của Nguyễn Huy Thiệp ở đề tài viết về lịch sử; khái quát sự vận động, đổi mới
của văn học và đặt ra vấn đề mối quan hệ sáng tác và tiếp nhận, đặc trưng của tiếp nhận/ đọc văn
bản nghệ thuật. Trong số những bài viết này, đáng lưu ý là ý kiến của Lại Nguyên Ân khi phê
phán cách đọc sai lầm của Tạ Ngọc Liễn và nhấn mạnh rằng: “Cách đọc tác phẩm văn học viết
về lịch sử cũng khác với cách đọc các công trình sử học” [152; tr.179].
Khi cuộc tranh luận về Vàng lửa vẫn đang ở giai đoạn cao trào thì Văn nghệ lại đăng một
truyện lịch sử khác của Nguyễn Huy Thiệp – Phẩm tiết số 29 – 30, ngày 16/7/1988. Ngay sau
đó, Phẩm tiế” đã trở thành tâm điểm của những cuộc tranh luận gay cấn về vấn đề văn học và
lịch sử, về những hình tượng nhân vật lịch sử đã trở thành tượng đài sừng sững trong lòng người
dân Việt Nam. Khác với cuộc tranh luận về Vàng lửa, trong cuộc tranh luận mới này, khá nhiều
ý kiến phê phán, đả kích gay gắt đến cực đoan, mạt sát nhà văn và những người có ý kiến đối
lập. Ngay cả những người ủng hộ, thấy những sáng tạo độc đáo, mới mẻ và những nét đặc sắc
của tác phẩm cũng tỏ ra dè dặt, đôi chỗ ái ngại khi nói về cách nhìn, xây dựng hình tượng
Quang Trung, Nguyễn Du trong tác phẩm. Do đó, cuộc tranh luận này trở nên dùng dằng, căng
thẳng, kéo dài và dường như đã không tìm được tiếng nói chung. Khởi xướng cho cuộc tranh
luận này là bài viết của Nguyễn Thúy Ái đăng trên Văn nghệ số 35 – 36, ngày 20/8/1988 với
nhan đề Viết như thế cũng là một cách bắn súng lục vào quá khứ. Cùng quan điểm này là các
bài viết của Vũ Phan Nguyên, Đỗ Văn Khang, Tạ Ngọc Liễn, ... Bên cạnh đó, các là ý kiến nhận
xét của các nhà văn như Ngọc Oanh, Bùi Hiển, Hồ Phương, Bùi Đình Thi, Mai Ngữ… Đối lập
với những chỉ trích gay gắt nói trên, các tác giả Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Diệp, Trương Hồng
thuyết Nguyễn Xuân Khánh, sự đan bện giữa lịch sử và văn hóa – phong tục của Nguyễn
Hoài Nam, Nguyễn Xuân Khánh và sự va chạm với cái vảy ngược trên ngực của những con
rồng của Phan Tuấn Anh, Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn văn hóa của Mai Anh
Tuấn, Một cách luận giả lịch sử dân tộc của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh (Nhân đọc tiểu
thuyết Hồ Quý Ly) của Đỗ Ngọc Yên, Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết
“Mẫu Thượng Ngàn” của Trần Thị An, Những miền mơ tưởng Mẫu tính và Nữ tính vĩnh
hằng trong “Mẫu Thượng Ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh (Một cách tiếp cận từ lý thuyết
Cổ mẫu) của Nguyễn Quang Huy, “Mẫu Thượng Ngàn” – con đường tìm về cội nguồn văn
hóa và sức sống dân tộc của Nguyễn Văn Long – Lê Thị Thủy, “Đội gạo lên chùa” – một
cách hiểu về Phật tính của Nguyễn Thị Bình, Khi tâm thức Phật giáo hòa vào tâm thức Việt
(Nhân đọc Đội gạo lên chùa) của Tôn Phương Lan, Tâm thức Phật giáo trong “Đội gạo lên
chùa” của Nguyễn Xuân Khánh của Phan Trần Thanh Tú, “Đội gạo lên chùa” – sự đối đầu
giữa các giá trị văn hóa của Phan Trọng Hoàng Linh... Những bài viết này đi sâu nghiên cứu,
làm sáng tỏ vấn đề văn hóa, tôn giáo với những khái niệm “Mẫu tính”, “Phật tính”, “Nữ tính” và
xem đó là cảm thức chủ đạo, xuyên suốt, thống nhất trong các sáng tác của Nguyễn Xuân
13
Khánh. Bên cạnh đó, các tác giả cũng khám phá ra nhiều lớp văn hóa, phong tục, vẻ đẹp truyền
thống của con người Việt Nam trơng tiểu thuyết của ông. Từ góc nhìn này, tiểu thuyết của
Nguyễn Xuân Khánh được tiếp nhận trong cái nhìn liên văn bản, trong tương tác với văn hóa
dân tộc. Các yếu tố “Mẫu gốc” (Cổ mẫu), văn hóa tâm linh, phong tục, tôn giáo được xem như
một ngôn ngữ thể hiện đặc thù trong tiểu thuyết của ông. Những yếu tố của Nho giáo, Phật giáo,
Đạo giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu và các tín ngưỡng dân gian khác được nghiên cứu rất sâu sắc.
Dựa trên nền tảng những lý thuyết hiện đại về tiểu thuyết, về kết cấu tác phẩm, Bùi Việt
Thắng đã đối sánh tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh với dạng thức tiểu thuyết ngắn đương đại
Việt Nam, đặt ra vấn đề về sự tương tác giữa các xu hướng tiểu thuyết với thị hiếu người đọc,
rồi đưa ra hai đặc điểm kết cấu tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh: “Hợp xướng nhiều bè” [55;
tr.52] và “Hòa âm lịch sử và tâm lý” [55; tr.58]. Thái Phan Vàng Anh lại đi sâu vào tính đối
của phạm trù mở đầu, kết thúc gắn với hai mô hình ý nghĩa của cái “chung cục” và cái “khởi
nguyên”. Từ đó, ông khái quát mô hình bức tranh thế giới được xây dựng trên tương quan đối
lập của những sự lựa chọn lối sống, thực chất được quy về những phạm trù văn hóa ứng xử là
“lối sống âm tính” và “lối sống dương tính” [149]. Ngoài ra, bài Từ văn học đến/ về văn hóa:
diễn ngôn (chủ nghĩa dân tộc) trong hư cấu (lịch sử) của Nguyễn Xuân Khánh và Tự sự hậu
thực dân: lịch sử và huyền thoại trong “Mẫu Thượng Ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh của
Đoàn Ánh Dương nhìn nhìn các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh từ những lý thuyết
mới – lý thuyết hậu thực dân/ hậu thuộc địa và lý thuyết diễn ngôn. Nhà nghiên cứu Trần Đình
Sử khi trả lời phỏng vấn trước cuộc tọa đàm về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh cũng khẳng
định: “Cái chính của tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo nhân vật và đời sống của một thời kỳ lịch sử
cụ thể không lặp lại. Sự kiện lịch sử là dấu ấn của một thời, không thể thiếu với tiểu thuyết lịch
sử.” [55; tr.468].
Ngoài ra tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh, các tác phẩm khác cũng nhận được sự
quan tâm lớn từ giới nghiên cứu, phê bình văn học. Khi bàn về tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của
Nguyễn Mộng Giác, các tác giả Phan Cự Đệ, Lại Nguyên Ân cũng rất quan tâm đến mối quan
hệ văn và sử, sự thật và hư cấu. Các nhà nghiên cứu rất đề cao vai trò và sự sáng tạo của nhà văn
trên những chất liệu lịch sử sẵn có, thể hiện đặc trưng, sứ mệnh của thể loại tiểu thuyết. Viết về
nhân vật Nguyễn Huệ trong bài Nhân vật Nguyễn Huệ trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn
Mộng Giác, Trần Hữu Thục đi sâu phân tích nhân vật trong sự đối sánh từ lịch sử đến văn học,
rồi khảo sát nhân vật trong các mối quan hệ, làm rõ một hình tượng Nguyễn Huệ rất độc đáo,
mang tư tưởng, ý thức hệ và tính cách riêng, trong đời sống của một cá nhân [228]. Nguyễn
Khắc Phê thì cho rằng Sông Côn mùa lũ là một tiểu thuyết công phu và đánh giá cao thái độ
nghiêm túc với lịch sử, tâm huyết, xây dựng hình tượng công phu của Nguyễn Mộng Giác. Tuy
nhiên, ông cho rằng tác phẩm này không có cao trào, hình tượng Nguyễn Huệ chưa thật “bay
lên” như một anh hùng lỗi lạc, phẩm chất văn học chưa xứng với độ dày và đề tài của cuốn
sách. [165]
Bên cạnh đó, một số tác phẩm truyện lịch sử cũng thu hút được sự quan tâm lớn, những
dư luận đa chiều từ các nhà nghiên cứu, phê bình. Hội thề của Nguyễn Quang Thân sau khi
được trao giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2010 đã tạo ra một cuộc tranh luận gay
gắt xung quanh cái nhìn về hình tượng Nguyễn Trãi, về vấn đề viết tiểu thuyết lịch sử, nhất là
nhất), lại được giải C sách hay Việt Nam năm 2018, đã tạo nên một cuộc tranh luận gay gắt.
Cuộc tranh luận này, mà đại đa số là các ý kiến phê phán, chỉ trích được khởi phát từ một đoạn
văn miêu tả cảnh ân ái của Trần Khánh Dư và công chúa Thái Thụy ở trang 37 một cách trần
trụi. Trang sách cũng được nhanh chóng chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội với nhiều ý kiến chỉ
trích. Báo Tuổi trẻ online có các bài viết của Vũ Viết Tuân [243], dịch giả Lê Quang [178] cho
rằng các chi tiết miêu tả cảnh “sex” trong tác phẩm là dung tục, không phù hợp. Nhà báo Hà
Tùng Long trên dantri.com thì đặt vấn đề “Có nên miêu tả trần trụi cảnh “sex” trong tiểu thuyết
lịch sử?” [118]. Tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trên Anninhthudo Online thì cho rằng “Đây là
cuốn sách dành cho người lớn, không phải cho trẻ con” [238]. Trong khi đó, nhà báo Kiều Mai
Sơn đăng trên nguoilaodong online, sau khi nhìn nhận một cách toàn diện về cuốn sách, đã đi
đến kết luận cuốn sách đoạt giải một cách khó hiểu [183]. Nhìn chung hầu hết độc giả, nhà phê
bình và giới báo chí đều không đồng tình hoặc phê phán gay gắt chi tiết “sex” tự nhiên, trần trụi
16
trong tác phẩm. Ý kiến bênh vực, lý giải, cho rằng đó là cái nhìn “thế sự hóa”, đời thường về
nhân vật anh hùng, lịch sử chủ yếu từ phía tác giả, ban tổ chức giải [237]. Cuộc tranh cãi này
một lần nữa đặt ra vấn đề cốt lõi của thể loại về mối quan hệ hiện thực và hư cấu, cách viết,
quyền sáng tạo của nhà văn trong truyện lịch sử. Quan trọng hơn, vấn đề tiếp cận truyện lịch sử,
những tiêu chí để đánh giá phẩm chất nghệ thuật của một tác phẩm văn học đích thực hay chỉ là
những trang viết ngô nghê, tạo “scandal” gây chú ý, câu khách.
Điều đặc biệt là các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử cũng có nhiều phát biểu trực tiếp thể
hiện quan niệm của mình về vấn đề muôn thuở, trở thành mối quan tâm đặc biệt. Trên báo Văn
nghệ số 39 năm 2003, nhà văn Thái Vũ khẳng định: “ Hư cấu nhưng không phải là bịa. Tôi viết
tiểu thuyết về lịch sử nhưng tôi không viết tiểu thuyết lịch sử, mà qua cách hư cấu, tôi tôn trọng
tính chính xác của lịch sử”. Nhìn vào mối quan hệ giữa hiện thực lịch sử và hư cấu văn học,
Phạm Huy Thông cho rằng “hư cấu nhưng không được xuyên tạc lịch sử.” [227]. Trong bài viết
Tiểu thuyết lịch sử và thông điệp của nhà văn, Hoàng Minh Tường nêu lên quan điểm: “Nhà
văn viết về lịch sử có quyền hư cấu, tưởng tượng, thậm chí sáng tạo thêm các nhân vật, sự kiện
thi đầy tôn kính với các nhân vật lịch sử đã được/ bị xem như một tượng đài trong lòng nhân
dân. Khuynh hướng còn lại đề cao tự do sáng tác, hư cấu và sáng tạo. Với họ, lịch sử chỉ là
khung nền, bối cảnh và một thứ ngôn ngữ, chất liệu để xây dựng hình tượng, thể hiện quan
điểm, cái nhìn riêng của mình trong sự diễn giải, hình thức mới mẻ, độc đáo.
Nghiên cứu truyện lịch sử như một khuynh hướng văn xuôi tự sự trong tiến trình vận
động của lịch sử văn học dân tộc.
Không dừng lại ở việc nghiên cứu thủ pháp, những vấn đề về sự thật và hư cấu chung
chung trong tiểu thuyết lịch sử, nhiều công trình đi sâu khảo sát, khát quát thành vấn đề lý thuyết
đặc trưng thể loại theo các tiêu chí của phản ánh luận. Những nghiên cứu này đi sâu vào các mặt
như kết cấu, trần thuật, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ của tiểu thuyết lịch sử trong tương quan
với các hình thức tiểu thuyết khác, chỉ ra đặc điểm riêng, bản chất của thể loại, đặc biệt là một số
luận án, luận văn. Luận án tiến sĩ Ngữ văn Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu
thế kỷ XX đến 1945 (diện mạo và đặc điểm) (1999) của Bùi Văn Lợi là công trình quy mô, hệ
thống, đã đưa ra khái niệm, những đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết lịch sử cả về mặt nội dung và
hình thức nghệ thuật trên cơ sở khảo sát các tiểu thuyết lịch sử từ đầu thế kỷ XX đến 1945 trong
quá trình vận động, phát triển của văn học Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả luận án cũng so sánh
tiểu thuyết lịch sử với khoa học lịch sử, giữa tiểu thuyết lịch sử hiện đại với tiểu thuyết lịch sử
trung đại để làm rõ những thành tựu, những đặc điểm riêng của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nửa
đầu thế kỷ XX. Vấn đề về đặc điểm thể loại tiểu thuyết lịch sử lại được quy về vấn đề chất liệu
lịch sử và hư cấu tiểu thuyết, về vấn đề đề tài, cảm hứng chủ đạo và quan niệm nghệ thuật về
con người. Những vấn đề hình thức: kết cấu, nghệ thuật xây dựng vật, trần thuật, sử dụng ngôn
ngữ cũng được khảo sát khá kỹ lưỡng. Tuy nhiên, góc nhìn của luận án chủ yếu đi tìm hiểu
thành tựu, tái hiện lại diện mạo của dòng tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạn văn học Việt Nam từ
đầu thế kỷ XX đến 1945 mà chưa đưa ra hệ thống lý thuyết thể loại.
Chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 của Nguyễn Thị Tuyết Minh là
công trình về tiểu thuyết lịch sử khá công phu, hệ thống, khảo sát đối tượng trên một diện rộng,
kéo dài qua hai giai đoạn văn học (giai đoạn văn học 1945 – 1975 và giai đoạn từ sau 1975 đến
nay). Công trình này như sự nối tiếp, kế thừa và phát triển từ công trình của Bùi Văn Lợi, đem
đến cái nhìn toàn diện theo cả chiều đồng đại và lịch đại về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam suốt thế
để giải phóng những tiềm năng của thể loại” [28; tr.133]. Từ quan niệm này, tác giả tìm hiểu
những đổi mới đáng chú ý của loại hình tiểu thuyết hư cấu lịch sử trên hai phương diện “Lịch sử
được nhào nặn lại trong cảm hứng thế sự - hiện đại” và “Trần thuật bằng nguyên tắc đối
thoại”. Nhìn trên phương diện thứ nhất, tác giả thấy tiểu thuyết lịch sử chỉ mượn lịch sử làm
chất liệu để nói lên các vấn đề thế sự, đời tư, những vấn đề của thời hiện đại. Điều đó thể hiện sự
mở rộng trong quan niệm về hiện thực và con người trong văn chương Việt Nam từ sau 1986
đến hết thế kỷ XX, tất yếu sẽ tác động đến quan niệm, tư duy về lịch sử: “Không phải cảm hứng
lịch sử hay đạo đức mà chính là cảm hứng thế sự - hiện tại, cảm hứng đối thoại sẽ làm nảy sinh
19
ở nhà văn ý muốn nhào nặn lại chất liệu lịch sử để tạo ra gương mặt lịch sử “thứ hai” như giả
định về một khả năng khác của các tình thế, các quan hệ, các số phận được miêu tả, bình luận
trong chính sử” [28; tr.135 – 136]. Trong công trình này, tác giả đã phân tích ba chủ đề nổi bật
trong tiểu thuyết lịch sử là: “chủ đề về tự do, chủ đề về tình yêu đôi lứa, hạnh phúc gia đình và
chủ đề về những suy tư, trăn trở về số phận con người trong các cuộc biến thiên lịch sử.” [28;
tr.141]. Khía cạnh thứ hai là trần thuật bằng nguyên tắc đối thoại tạo nên không khí dân chủ đặc
trưng của thời đại cho các tiểu thuyết lịch sử. Do đó, các nhà văn“dùng lịch sử làm chất liệu,
nhào nặn lại trong một trò chơi giả định, khơi gợi mối hoài nghi về “một khả năng khác” của
lịch sử…” [28; tr.145]. Cách sử dụng lịch sử như một chất liệu thông qua trần thuật theo nguyên
tắc đối thoại đã giúp các nhà tiểu thuyết lịch sử xây dựng “các nhân vật lịch sử qua “màng lọc”
của nghệ thuật đã được chủ quan hóa, nhân văn hóa để trở thành con người tiểu thuyết” [28;
tr.146]. Bên cạnh việc trần thuật từ nhiều điểm nhìn bằng nguyên tắc đối thoại, việc sử dụng các
yếu tố kỳ ảo cũng khiến cho tiểu thuyết lịch sử khoác lên mình một tấm áo mới – tấm áo “huyền
thoại hóa”, “để khám phá phần lắng sâu, chìm khuất trong cõi sâu xa tâm hồn con người, là
một cách nghệ thuật chiêm ngẫm triết lý về cuộc đời” [28; tr.149]. Cho nên, những tác phẩm
này được gọi là tiểu thuyết lịch sử nhưng thực chất là “giả lịch sử”.
Nghiên cứu thi pháp thể loại truyện lịch sử từ lý thuyết văn học hiện đại
Thời gian gần đây, nhiều bài viết sâu sắc về tiểu thuyết lịch sử được đăng trên các báo,