MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ khi ra đời đến nay, trải qua hơn nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng, ở bất kỳ giai đoạn
lịch sử nào, việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị luôn
luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.
Hiện nay, cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc đang diễn ra dưới những sắc thái
mới mà tính chất của chúng không kém phần gay go, quyết liệt so với giai đoạn lịch sử
trước đây. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước những năm gần đây đã thu được những
thành tựu bước đầu rất quan trọng, song cuộc cách mạng ở nước ta cũng đang đứng trước
cả thời cơ mới cùng với những thách thức, nguy cơ mới. Việc xây dựng Quân đội nhân
dân Việt Nam thực sự là công cụ của đắc lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
đang đặt ra những yêu cầu mới.
Đặc biệt, bối cảnh quốc tế những năm gần đây đã xuất hiện những diễn biến phức tạp.
Sự sụp đổ của Liên Xô và hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã dẫn đến sự thay
đổi tương quan so sánh lực lượng những năm tháng trước mắt theo hướng có lợi cho chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực phản động thù địch. Với chiến lược “Diễn biến hoà bình”,
chủ nghĩa đế quốc âm mưu chớp thời cơ xoá bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trước khi
bước sang thế kỷ XXI. Mộtt rong những mục tiêu cơ bản ban đầu của chúng đối với đất
nước ta là tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, thực hiện “giải giáp quân
đội về mặt chính trị” bằng cách xúc tiến “phi đảng hoá quân đội”, “phi chính trị hoá quân
đội”, “quân đội chỉ phục tùng nhà nước”... Trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, chúng đang
tìm cách tạo ra sự mơ hồ về nhận thức bản chất của quân đội, từ đó mưu toan tách quân
đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho quân đội thoái hoá từ bên trong.
Tình hình trên đây đòi hỏi việc giải quyết những vấn đề mới mẻ và cấp bách trong
nhiệm vụ xây dựng quân đội về chính trị cần dựa trên một cơ sở khoa học vững chắc.
Nghiên cứu dưới góc độ triết học vấn đề xây dựng bản chất chính trị - xã hội của
Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay nhằm cung cấp những luận
chứng khoa học cho việc xây dựng quân đội ta vững mạnh về chính trị là vấn đề cấp
“bản chất chính chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam
2) Khái quát và phân tích những vấn đề có tính qui luật của quá trình hình thành và
phát triển bản chất chính chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam.
3) Tìm hiểu thực trạng, xác định yêu cầu, đề xuấtc ác giải pháp cơ bản của việc xây
dựng bản chất chính chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình
hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án là bản chất chính chính trị - xã hội của
Quân đội nhân dân Việt Nam được thể hiện trong những con người và tổ chức quân sự.
Con người ở đây là tất cả những người đã và đang hoạt động trong quân đội- khái niệm
quân nhân nói chung. Tổ chức quân sự ở đây là tất cả các cơ quan, đơn vị ở các cấp, các
ngành, các quân - binh chủng trong quân đội - khái niệm tổ chức quân sự nói chung.
4. Những đóng góp về khoa học của luận án
- Bước đầu tiếp cận nội hàm khái niệm “bản chất chính trị - xã hội của Quân đội”, từ đó
làm rõ nội dung và những yếu tố cấu thành bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân
dân Việt Nam.
- Bước đầu khái quát và phân tích ba vấn đề cơ bản có tính quy luật của quá trình hình
thành và phát triển bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam, căn cứ
vào thực trạng và yêu cầu để đề xuất hệ thống giải pháp nhằm xây dựng và phát triển bản
chất chính trị - xã hội của quân đội ta lên một bước mới về chất.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lê-nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về quân đội nhân
dân Việt Nam nói chung, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng, đặc biệt là
xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị.
Cơ sở thực tiễn của luận án là thực tiễn lịch sử hình thành, phát triển bản chính chính
trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam từ khi ra đời đến nay; các tài liệu, báo cáo
tổng kết, các đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ Quốc phòng, các công trình nghiên
cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về các vấn đề có liên quan; các kết quả
bản của nó với tính cách là công cụ bạo lực của nhà nước. Tuy vậy, v ề nguồn gốc, bản
chất của quân đội, và mối liên hệ giữa quân đội với bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ
chức và xây dựng nó, mối liên hệ giữa quân đội với chính trị, một số nhà tư tưởng chưa
đề cập tới, còn một số khác đã đề cập tới một cách sai lệch.
Đến đầu thế kỷ XIX. C.P. Claudơvitx (1780-1831) - nhà lý luận quân sự Phổ được
V.I.Lênin đánh giá là “một trong những cây bút vĩ đại viết về lịch sử chiến tranh”(4),
“Một trong những tác giả sâu sắc nhất về những vấn đề quân sự”(5) đã tiến hành xa hơn
những người đi trước.
Xuất phát từ quan niệm coi quân đội là công cụ bạo lực để tiến hành chiến tranh,
Cladơvitx đã tập trung nghiên cứu bản chất hiện tượng chiến tranh. Ông đã phát hiện
và khái quát được mối quan hệ giữa chính trị với chiến tranh, vai trò của chính trị đối
với chiến tranh. Trong tác phẩm “Bàn về chiến tranh” Claudơvitx đã khái quát một cách
sâu sắc: “Chiến tranh không phải chỉ là một hành vi chính trị, mà là một công cụ chính trị
thực sự, một sự kế tục của những quan hệ chính trị, một sự thực hiện các quan hệ chính
trị bằng những biện pháp khác”(33).
Tuy nhiên, do xuất phát từ lý luận duy tâm về một nhà nước siêu giai cấp, nhận thức
của Claudơvitx đã bị hạn chế trong một quan niệm trừu tượng siêu giai cấp về phạm trù
chính trị. Ông coi chính trị là biểu hiện của “sự hài hoà về lợi ích” giữa các giai cấp khác
nhau trong một quốc gia. Ông đã tách rời một cách siêu hình chính sách đối ngoại với
chính sách đối nội, đồng thời tuyệt đối hoá vai trò của chiến tranh, coi chiến tranh như
một phương tiện vĩnh cửu để giải quyết những mâu thuẫn giữa các quốc gia, dân tộc. Từ
quan niệm về chính trị như vậy, Claudơvitx đã không nhận thức được đúng đắn mối liên
hệ giữa các vấn đề chính trị, giai cấp đối với hiện tượng chiến tranh và quân đội.
Từ nửa cuối thế kỷ XIX, với việc xây dựng được một hệ thống lý luận - phương
pháp luận vừa duy vật vừa biện chứng, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã tiến đến
nhận thức sâu sắc hơn, triệt để hơn về nguồn gốc, đặc trưng, cơ sở kinh tế, cơ sở xã
hội- giai cấp của các hiện tượng chiến tranh, chính trị, các tổ chức, thiết chế thuộc
kiến trúc thượng tầng như nhà nước, quân đội cũng như mối liên hệ giữa chúng.
quân đội với bản chất giai cấp của nhà nước đã xây dựng và tổ chức ra nó cũng như
biểu hiện cụ thể của các mối liên hệ này trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.
Xuất phát từ tình hình thực tế của nước Nga và của cuộc cách mạng Nga, Lênin là
người mácxít đầu tiên đã trình bày những nguyên lý cơ bản của việc xây dựng quân đội
kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga. Nếu như ý tưởng về tổ chức
“Đội cận vệ vô sản độc lập” do Mác, Ăngghen nêu ra chủ yếu đề cập tới lực lượng của
giai cấp công nhân, thì tổ chức “Hồng quân công nông” do Lênin đề xướng đã chỉ rõ cơ
sở xã hội- giai cấp chủ yếu của quân đội kiểu mới là liên minh giữa công nhân và
nông dân - hai lực lượng cơ bản để xây dựng Hồng quân công nông của nước Nga xô
viết. Lênin cũng là người mácxít đầu tiên nêu lên tư tưởng xây dựng Hồng quân công
nông dựa trên cơ sở vũ trang toàn dân.
Từ đây cũng đã xuất hiện thêm mối liên hệ giữa quân đội kiểu mới với Đảng của giai
cấp công nhân. Mối liên hệ này nảy sinh từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn đấu
tranh cách mạng của Đảng Bônsêvích Nga. Việc xây dựng và giữ mối liên hệ này trong
mọi giai đoạn của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa bảo đảm cho việc xây dựng một quân
đội mà thành phần xã hội - giai cấp của lực lượng tham gia không phải thuần nhất từ
công nhân nhưng vẫn luôn luôn có được bản chất cách mạng của giai cấp công nhân,
đồng thời bảo đảm cho sự thống nhất bản chất gia cấp của Hồng quân với Nhà nước xã
hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Mối liên hệ mật thiết giữa quân đội cách mạng với
Đảng cộng sản - trong đó quân đội luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
- đã trở thành điều kiện tiên quyết, nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong xây dựng
quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Lịch sử hình thành và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam cho thấy từ rất
sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam đã kế thừa, vận dụng sáng
tạo những nguyên lý, nguyên tắc mácxít - lêninnít về xây dựng quân đội kiểu mới của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.
Nhận thức đúng đắn vai trò của bạo lực cách mạng trong cuộc đấu tranh giành độc lập
và tự do cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sớm chuẩn bị mọi mặt cho
việc xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.
thù là đấu tranh vũ trang, nhằm thực hiện lợi ích của nhà nước, giai cấp, dân tộc đã
xây dựng và tổ chức ra nó.
Nghiên cứu bản chất của quân đội không thể đề cập tới các vấn đề chính trị, giai cấp, tổ
chức vũ trang và đấu tranh vũ trang. Khi xem xét các loại hình quân đội đã xuất hiện
trong lịch sử, Mác- Ăngghen - Lênin đặc biệt chú ý tới sự phụ thuộc của tổ chức vũ
trang và hoạt động đấu tranh vũ trang vào quan hệ chính trị và giai cấp, hay nói cách
khác là sự chi phối của các quan hệ chính trị và giai cấp đến tổ chức vũ trang và đấu tranh
vũ trang.
Chính vì vậy, trong nhiều cuốn sách giáo khoa, giáo trình của học thuyết Mác-Lênin về
chiến tranh và quân đội, cũng như trong nhiều bài viết trên các tạp chí nghiên cứu khoa
học, bản chất của quân đội thường được qui giản về quan hệ giai cấp, được diễn đạt
bằng khái niệm “bản chất giai cấp của quân đội” (35,103,107, v.v...)
Bản chất quân đội còn được xem xét từ các góc độ khác nhau, theo các phạm vi khác
nhau, và được diễn đạt bằng các khái niệm “bản chất xã hội của quân đội” (107), “bản
chất chính trị- xã hội của quân đội” (35, 55, 107). Mặc dù đều thể hiện sự qui giản bản
chất của quân đội về các quan hệ chính trị và giai cấp, nhưng nội dung của các thuật ngữ
này không hoàn toàn đồng nhất với nhau.
Khái niệm “bản chất giai cấp của quân đội” không đồng nhất với khái niệm “bản chất
của quân đội” đã trình bày ở trên.
Bản chất giai cấp của quân đội là tổng hợp những thuộc tính, đặc trưng cơ bản trên
phương diện chính trị - tư tưởng và tổ chức của giai cấp được biểu hiện trong tổ chức
quân sự do giai cấp đó đã xây dựng nhằm thực hiện lợi ích của nó.
Như vậy, khái niệm “bản chất giai cấp của quân đội” có phạm vi hẹp hơn khái niệm
“bản chất của quân đội”. Nó đề cập đến khía cạnh giai cấp một cách tập trung hơn, sâu
sắc hơn so với khái niệm “bản chất của quân đội”. Nói cách khác, bản chất giai cấp của
quân đội chính là bản chất của quân đội được qui giản về quan hệ giai cấp.
Quan hệ giai cấp là một bộ phận của hệ thống chính trị - xã hội, đồng thời là cốt lõi của
quan hệ chính trị - xã hội. Quan hệ chính trị - xã hội bao hàm quan hệ giai cấp, nhưng
bản giữa quân đội với giai cấp (và nhà nước đại diện cho giai cấp đó) dân tộc và cộng
đồng xã hội đã xây dựng, tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng quân đội đó nhằm thực
hiện lợi ích của giai cấp, dân tộc và cộng đồng xã hội, trong đó mối liên hệ giữa quân
đội với giai cấp đã xây dựng và tổ chức ra nó là mối liên hệ cốt lõi, cơ bản.
Từ sự phân tích và cách tiếp cận trên đây, đồng thời từ thực tiễn lịch sử hình thành và
phát triển bản chất chính trị - xã hội của quân đội ta, có thể xác định rằng bản chất chính
chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam là sự thống nhất tính cách mạng
của giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc Việt Nam được biểu hiện
trong một tổ chức quân sự nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
và dân tộc Việt Nam.
Cấu trúc bản chất chính chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam, như đã xác
định trên đây, bao gồm ba yếu tố cơ bản vừa có tính độc lập tương đối với nhau, vừa có
mối liên hệ chặt chẽ với nhaut rong một thể thống nhất.
Tính cách mạng của giai cấp công nhân là yếu tố giữ vị trí trung tâm, cốt lõi, cơ bản
nhất, có vai trò quyết định trong hệ thống các yếu tố cơ bản cấu thành bản chất chính
chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tính cách mạng của giai cấp công
nhân là thuộc tính, đặc trưng cơ bản nhất trên phương diện chính trị - xã hội phản ánh
mối liên hệ giữa quân đội với giai cấp đã xây dựng và tổ chức ra nó và đội tiên phong của
giai cấp là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tính cách mạng là thuộc tính, đặc trưng cơ bản nhất trên phương diện chính trị - tư
tưởng và tổ chức của giai cấp công nhân. Do đó, “tính cách mạng của giai cấp công
nhân” là nội dung chủ yếu của các khái niệm “bản chất giai cấp công nhân” hoặc “bản
chất cách mạng của giai cấp công nhân”- những khái niệm cùng loại và đồng nghĩa.
Tính cách mạng của giai cấp công nhân cũng là nội dung chủ yếu của khái niệm “bản
chất giai cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam”. Bản chất giai cấp của quân đội ta
chính là tính cách mạng của giai cấp công nhân được biểu hiện trên phương diện
chính trị - tư tưởng và tổ chức của một tổ chức quân sự do giai cấp công nhân Việt
Nam vàđội tiên phong của nó xây dựng, tổ chức, lãnh đạo và sử dụng nhằm thực hiện
dân và tính dân tộc.
Tính nhân dân và tính dân tộc là những yếu tố giữ vị trí cơ bản, có vai trò rất quan
trọng, không thể thiếu trong hệ thống các yếu tố cấu thành bản chất chính trị - xã hội của
Quân đội nhân dân Việt Nam. Tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội ta là những
thuộc tính, đặc trưng cơ bản trên phương diện chính trị - xã hội phản ánh mối liên hệ giữa
quân đội với quốc gia - dân tộc và cộng đồng xã hội bao gồm các tầng lớp nhân dân đặc
biệt là nông dân và trí thức yêu nước đã cùng với giai cấp công nhân xây dựng, tổ chức,
nuôi dưỡng và sử dụng quân đội.
Tính nhân dân của quân đội ta thể hiện mối liên hệ máu thịt giữa các tầng lớp nhân
dân với một quân đội kiểu mới thực sự của dân, do dân và vì dân. Trước hết, trên phương
diện chính trị - tư tưởng, mục tiêu chiến đấu của quân đội ta là nhằm bảo vệ lợi ích của
nhân dân, vì hạnh phúc của nhân dân. Trên phương diện tổ chức, quân đội là bộ phận
nòng cốt trong lực lượng vũ trang của nhân dân, trong đó quân nhân là một bộ phận hữu
cơ của nhân dân, xuất thân từ nhiều tầng lớp nhân dân. Mọi hoạt động của quân đội, từ
chiến đấu, công tác đến sản xuất đều có mối liên hệ chặt chẽ với đời sống của nhân dân,
quân đội phục vụ nhân dân, nhân dân nuôi dưỡng và xây dựng quân đội.
Tính dân tộc của quân đội thể hiện tập trung ở mục tiêu chiến đấu của quân đội ta là
bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia - dân tộc, bảo vệ sự tồn tại và phát
triển của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ với cộng đồng các quốc
gia - dân tộc khác trên thế giới.
Tính cách mạng của giai cấp công nhân có mối liên hệ chặt chẽ với tính nhân dân
và tính dân tộc trong một thể thống nhất, tác động biện chứng lẫn nhau. Tính cách
mạng của giai cấp công nhân đem lại nội dung khoa học và cách mạng cho sự phát triển
tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội ta. Đồng thời tính nhân dân và tính dân tộc bổ
sung cho sự phát triển tính cách mạng của giai cấp công nhân trong quân đội những nét
đặc sắc, phong phú, hài hoà với truyền thống văn hoá Việt Nam. Do đó, việc xây dựng,
củng cố và tăng cường tính cách mạng của giai cấp công nhân chính là vun trồng cái gốc
vững chắc cho sự phát triển tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội, đồng thời, việc
trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay, cần phát hiện, khái
quát và phân tích từ góc độ triết học những vấn đề có tính qui luật đó.
I.2. Một số vấn đề có tính qui luật của quá trình hình thành, phát triển bản chất
chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Quá trình hình thành, phát triển bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt
Nam đã trải qua chiều dài lịch sử hơn nửa thế kỷ, trong đó bản chất chính trị - xã hội của
quân đội ta không phải đã được hình thành một cách ngẫu nhiên, cố định, bất biến, tự
phát, mà đã được tích cực, chủ động xây dựng, phát triển không ngừng một cách tự giác.
Trong quá trình đó, nhiều vấn đề cơ bản đã được giải quyết một cách đúng đắn, sáng tạo
cả về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn, phù hợp với qui luật khách quan, điều kiện
khách quan.
Dưới đây là ba vấn đề cơ bản có tính quy luật của quá trình hình thành, phát triển bản
chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Thứ nhất: bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam được hình
thành và phát triển trên cơ sở sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố thuộc kiến thức
thượng tầng, trong đó sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là nhân tố cơ bản
hàng đầu, giữ vai trò quyết định.
Nghiên cứu các quy luật về sự tồn tại và phát triển của quân đội, các nhà triết học - xã
hội học quân sự Xô viết thuộc Liên Xô cũ cho rằng sựt ồn tại và phát triển của quân đội
chịu sự tác động của hai nhóm qui luật.
Nhóm thứ nhất bao gồm các qui luật đặc thù, tác động trong một loại hình lịch sử - giai
cấp nhất định của quân đội. Ví dụ: đối với quân đội tư bản chủ nghĩa, quá trình tăng
cường chức năng cảnh sát là quá trình mang tính qui luật đặc trưng, đặc biệt là ở giai
đoạn đế quốc chủ nghĩa (107); hoặc đối với quân đội xã hội chủ nghĩa, một qui luật phát
triển chủ yếu phản ánh khái quát bản chất lực lượng vũ trang xã hội chủ nghĩa là qui luật
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với việc giải quyết tất cả những vấn đề cơ bản về tổ
chức, chỉ huy quân đội, bổ sung quân số, huấn luyện và giáo dục bộ đội (107).
Nhóm thứ hai bao gồm các qui luật chung, tác động xuyên suốt quá trình tồn tại và phát
Trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền (1930-1931), yêu cầu khách quan cấp
thiết đặt ra ngay từ đầu lực lượng vũ trang cách mạng phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực
tiếp của Đảng cộng sản, trở thành mầm mống vững chắc của một quân đội kiểu mới, một
quân đội có tính cách mạng của giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc - những
đặc trưng chính trị - xã hội cơ bản bảo đảm cho nó có đủ sức mạnh thực hiện mọi nhiệm
vụ chính trị của Đảng.
Trong giai đoạn kháng chién chống thực dân Pháp, với một quân đội non trẻ mới được
thành lập, phải đương đầu với đội quân viễn chinh nhà nghề của thực dân Pháp, tình hình
và nhiệm vụ chính trị, quân sự của giai đoạn này đòi hỏi tiếp tục giữ vững và tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với quân đội.
Thành phần xã hội - giai cấp của quân đội lúc này tuyệt đại bộ phận là nông dân. Trong
quá trình phát triển, cùng với nhu cầu về số lượng (từ các trung đoàn phát triển thành các
đại đoàn chủ lực tập trung, đồng thời phát triển mạnh mẽ bộ đội địa phương bên cạnh
mạng lưới dân quân du kích) đã xuất hiện nhu cầu cấp bách về nâng cao chất lượng, đặc
biệt là chất lượng chính trị. Việc xây dựng một quân đội cách mạng kiểu mới của giai
cấp công nhân trong giai đoạn lịch sử này đỏi hỏi phải tiến hành một cuộc đấu tranh trong
nội bộ quân đội nhằm chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng, tâm lý, lối sống,
tác phong của giai cấp nông dân và tầng lớp tiểu tư sản chịu ảnh hưởng của ý thức hệ
phong kiến. Ở từng nơi, từng lúc đã xuất hiện nhu cầu đấu tranh chống bệnh gia trưởng,
bè phái, bảo thủ, thái độ dao động hoặc nôn nóng, tệ quân phiệt hoặc thậm chí cả khuynh
hướng “thổ phỉ hoá” ở một số đơn vị hoạt động phân tán lâu dài ở miền núi.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi đã mở đường cho cách mạng Việt
Nam bước vào một giai đoạn mới. Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước, về hình thức tổ chức của lực lượng cách mạng Việt Nam lúc này, ở
hai miền Nam- Bắc có hai đảng, hai chính phủ, hai quân đội, nhưng thực chất là “một
Đảng lãnh đạo thống nhất, một dân tộc, một quân đội tiến hành đồng thời hai chiến lược
cách mạng khác nhau nhằm mục tiêu chung là độc lập và thống nhất tổ quốc, đưa cả nước
tiến lên chủ nghĩa xã hội” (21). Đòi hỏi cấp thiết lúc này là tiếp tục giữ vững sự lãnh đạo
năng, vị trí, vai trò của từng bộ phận trong hệ thống chính trị, đồng thời cũng là sự tác
động tổng hợp của cả hệ thống đến mọi quân nhân, mọi tổ chức trong quân đội (khái
niệm quân nhân trong luận án là khái niệm qui ước, chỉ mọi đối tượng đang hoạt động
trong quân đội, từ đội ngũ đảng viên, đoàn viên đến quần chúng, từ cán bộ đến chiến sĩ,
từ cán bộ chính trị đến cán bộ quân sự, cán bộ hậu cần, cán bộ chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ và công nhân viên quốc phòng).
Trước những yêu cầu khách quan đặt ra trên đây, chủ thể của quá trình xây dựng bản
chất chính trị - xã hội của quân đội ta đã có nhiều nỗ lực chủ quan mang tính tích cực,
chủ động, tự giác nhằm đáp ứng những yêu cầu khách quan đặt ra.
Xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam và dựa trên nền tảng tư
tưởng của chủ nghĩa Mác- Lê-nin, từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhận
thức được những yêu cầu khách quan trên đây, đồng thời trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực
hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
Từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh cách mạng của mình, Đảng ta đã khẳng định con
đường sử dụng bạo lực cách mạng - bạo lực chính trị và bạo lực vũ trang - trong đó chỉ rõ
biện pháp đấu tranh vũ trang để giành chính quyền và phương thức tổ chức lực lượng để
thực hiện nhiệm vụ này.
Trong “Chánh cương vắn tắt của Đảng” tháng 3-1930, Đảng ta đã chỉ rõ: “Tổ chức ra
quân đội công nông”(70).
Trong Đại hội lần thứ I của Đảng tại Macao (Trung Quốc) tháng 3-1945, Đảng đưa ra
“Nghị quyết về đội tự vệ” - văn kiện có giá trị như một cương lĩnh quân sự đầu tiên của
Đảng, trong đó khẳng định “Công nông cách mạng tự vệ đội là dưới quyền chỉ huy thống
nhất của Trung ương, Quân ủy của Đảng cộng sản”(105).
Trong cuốn “Cách đánh du kích” viết năm 1941, lãnh tụ Hồ Chí Minh viết: “Về mặt
chính trị cấp nào cũng có một người chính trị phái viên do đoàn thể cách mạng chọn
trong bộ đội ấy hoặc phái người ngoài đến làm”(8).
Chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, trong nghị quyết Hội nghị toàn
quốc Đảng cộng sản Đông dương đã có chủ trương: “Phải tổ chức Đảng trong Quân giải
phóng Việt Nam (trung đội làm đơn vị tổ chức)”(70).
Trong năm biện pháp nhằm tăng cường chuyên chính dân chủ nhân dân do đồng chí
Trường Chinh trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2-1952), biện pháp
số một được xác định là “Củng cố vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân, tức
là của Đảng”(71), trong đó trọng tâm là “củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng ta trong
chính quyền, mặt trận và quân đội”(71).
Những vấn đề trên đây là nội dung cơ bản có ý nghĩa chỉ đạo việc xây dựng quân đội ta
trong các giai đoạn lịch sử của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Sau chiến tranh chống Mỹ, đất nước ta bước vào một giai đoạn lịch sử mới, giai đoạn
thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh lịch sử có nhiều khó khăn, phức tạp của giai đoạn 1975-1985, nhờ tiếp
tục giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ
vững chắc nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đồng thời góp phần tích
cực vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước.
Từ cuối những năm tám mươi đến đầu những năm chín mươi, trong bối cảnh quốc tế có
nhiều biến động phức tạp, chủ nghĩa xã hội ở nhiều nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổi,
Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định trong điều lệ của mình: Đảng lãnh đạo Quân đội nhân
dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt.
Nhìn chung, những nỗ lực chủ quan nhằm tổ chức, thực hiện sự lãnh đạo của
Đảng đối với quân đội là liên tục, bền bỉ, mang tính tích cực, chủ động và tự giác. Sự
lãnh đạo của Đảng đối với quân đội đã được thực hiện một cách nhất quán, xuyên
suốt lịch sử hình thành và phát triển của quân đội ta. Những nỗ lực chủ quan đó đã
đáp ứng được những yêu cầu khách quan, làm cho sự lãnh đạo của Đảng trở thành
nhânt ố cơ bản hàng đầu, giữ vai trò quyết định đối với quá trình hình thành và phát
triển bản chất chính trị - xã hội của quân đội nhân dân Việt Nam.
Đảng cộng sản Việt Nam đã tổ chức, xây dựng và lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt
Nam từ khi chưa giành được chính quyền, từ khi chưa có Nhà nước dân chủ nhân dân.
Đảng đã xây dựng quân đội cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cho quân đội vừa là
nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Cùng với Đảng và dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà, và sau này là Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với tư cách là một
thiết chế quan trọng nhất trong kiến trúc thượng tầng của xã hội, đã có nhiều nỗi lực
chủ quan to lớn, giữ vai trò rất quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển
bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã tổ chức, xây dựng Quân đội nhân dân
Việt Nam trở thành một quân đội cách mạng kiểu mới, có bản chất giai cấp thống
nhất với bản chất giai cấp của Đảng và bản chất giai cấp của Nhà nước.
Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh liên tục, kéo dài suốt nhiều thập kỷ, vai trò và chức
năng của một nhà nước theo đúng nghĩa của nó đã chưa được thực hiện một cách thật đầy
đủ và toàn diện, trong đó đặc biệt là việc thực hiện quản lý Nhà nước đối với quân đội.
Suốt nhiều thập kỷ chiến tranh, Đảng vừa lãnh đạo, vừa trực tiếp tham gia quản lý và
chỉ huy quân đội. Trong những điều kiện lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh
dân tộc gay go, quyết liệt, tình hình nhiều lúc đòi hỏi Đảng phải trực tiếp huy động các tổ
chức Đảng và quần chúng giải quyết kịp thời những nhiệm vụ cấp bách. Điều kiện lịch sử
lúc đó chưa cho phép phân định rõ ràng, rành mạch sự khác biệt giữa chức năng lãnh đạo
của Đảng với hoạt động quản lý của Nhà nước, hoạt động chỉ huy của Bộ tổng tư lệnh.
Điều đó, một mặt bảo đảm cho quân đội thực hiện được kịp thời những nhiệm vụ quân
sự cấp bách của Đảng và Nhà nước, nhưng mặt khác, việc kéo dài tình trạng này đã có
ảnh hưởng không tốt đến việc thực hiện nhiệm vụ theo đúng chức năng của từng tổ chức,
từng thiết chế trong kiến trúc thượng tầng. Đối với quá trình hình thành và phát triển bản
chất chính trị - xã hội của quân đội ta, điều đó cũng có nghĩa là sức mạnh của Đảng - hạt
nhân của hệ thống chính trị, và sức mạnh của Nhà nước - thành tố cơ bản nhất thể hiện
tập trung quyền lực của Nhà nước, đã chưa phát huy được đầy đủ tác dụng to lớn đối với
việc xây dựng bản chất chính trị - xã hội của quân đội ta.
Cùng với Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị như
tổ chức Mặt trận, tổ chức Công đoàn, tổ chức Hội liên hiệp phụ nữ, tổ chức Đoàn
cơ bản sau đây: một là mối quan hệ giữa con người với tổ chức; hai là mối quan hệ giữa
con người với con người; ba là mối quan hệ giữa con người và vũ khí.
Bản chất chính trị - xã hội của quân đội ta đã dược hình thành và phát triển trên cơ sở
giải quyết đúng đắn ba mối quan hệ cơ bản đó.
- Giải quyêtý đúng đắn mối quan hệ giữa con người và tổ chức:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, con người là
chủ thể, là trung tâm của tiến trình lịch sử. Con người tác động vào thế giới khách quan
với tư cách là chủ thể sáng tạo, nhằm cải biến nó theo mục đích và lợi ích của mình. Thế
giới khách quan được cải biến không phải là kết quả sự tác động của một con người, cũng
không phải là kết quả sự tác động của những con người độc lập, cô lập với nhau, mà là
kết quả sự tác động của những con người được tổ chức.
Con người thiết lập nên các tổ chức, là chủ thể của tổ chức, lấy tổ chức làm phương
thức liên kết các cá nhân, tập hợp sức mạnh của các cá nhân thành sức mạnh của tổ chức.
Sức mạnh của tổ chức không phải là đại lượng tổng số sức mạnh của các cá nhân riêng
biệt cộng laị, mà là sức mạnh tổng hợp to lớn hơn, mạnh mẽ hơn nhiều lần. Sức mạnh của
mỗi con người chỉ phát huy được hiệu quả tối đa khi nó nằm trong một hệt hống tổ chức
nhất định.
Đối với mộtt ổ chức của những người cách mạng, sức mạnh của nó càng vô cùng to
lớn. Trong tác phẩm “Làm gì ?” viết năm 1902, V.I Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng
vấn đề cấp bách nhất của phong trào cách mạng Nga lúc đó là “thành lập chu đáo một tổ
chức mạnh mẽ của những người cách mạng”, “trước hết phải nghĩ đến việc tổ chức
những người cách mạng có khả năng lãnh đạo toàn bộ cuộc đấu tranh giải phóng của giai
cấp vô sản”(3) thì mới có thể thúc đẩy cuộc đấu tranh chống chế độ chuyên chế đến thắng
lợi.
Đánh giá vị trí, vai trò và sức mạnh của tổ chức, nghị quyết của Ban trung ương Đảng
cộng sản Đông dương tháng 11-1939 viết: “Một đội quân có thao luyện, có tổ chức, có
chỉ huy thống nhất thì sức mạnh gấp trăm ngàn một đám người ô hợp dù đám người này
trăm ngàn lần đông hơn. Tổ chức là cái khí giới sắc bén duy nhất của những người bị áp