MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiến hành CTDV là thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng, chức năng cơ bản, xuyên suốt
của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời là nguyên tắc hoạt động của Quân đội theo quan
điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt CTDV, gắn bó máu thịt với nhân dân
đã trở thành truyền thống tốt đẹp, kinh nghiệm quý báu của Quân đội ta trong xây dựng và hoạt
động.
Trong mọi giai đoạn cách mạng, CTDV luôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là vấn đề sống còn
của cách mạng và của Đảng ta. CTDVCQĐ là một bộ phận của CTDV của Đảng, quan hệ hữu
cơ với CTDV của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị và luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ
của Đảng. CTDVCQĐ nhằm xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa quân đội
với nhân dân; góp phần củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân; đồng thời góp
phần vào xây dựng quân đội về mọi mặt, mà trước hết và trực tiếp là xây dựng bản chất cách
mạng cho quân đội.
Bước sang giai đoạn mới, cả nước tập trung thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH theo
định hướng XHCN, cách mạng nước ta đứng trước những nhiệm vụ to lớn, khó khăn, phức tạp
trong một hoàn cảnh có những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức đan xen nhau. Với
điều kiện, hoàn cảnh đó, nhân tố tiên quyết bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, động lực chủ
yếu để phát triển đất nước là phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của đại đoàn kết dân tộc
dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là chân lý đồng thời là bài học kinh nghiệm lịch sử
của cách mạng Việt Nam mà quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện sâu sắc và
khắc hoạ rõ nét, do vậy, nâng cao chất lượng, hiệu quả CTDVCQĐ nói riêng, CTDV của Đảng
nói chung để củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng, củng cố nền
tảng chính trị của Quân đội là yêu cầu khách quan và vô cùng cần thiết.
Song nâng cao chất lượng, hiệu quả của CTDVCQĐ bằng cách nào? đó là một vấn đề lớn,
khó và phức tạp. Trong những năm qua đã có không ít sự tìm tòi nghiên cứu, khảo nghiệm về
vấn đề này nhưng kết quả dạt được vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Chính thực trạng CTDVCQĐ hiện nay chứng tỏ điều đó. Trong khi đó công cuộc đổi mới toàn
diện đất nước tiếp tục được đẩy mạnh và đi vào chiều sâu; nhiều vấn đề mới cũng như những
cứu về tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở các góc độ, khía cạnh, nội dung khác nhau.
“Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh” là cuốn sách do Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia ấn hành 1995, gồm 34 báo cáo khoa học của các đồng chí lão thành cách mạng; những học
trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các đồng chí giữ các cương vị khác nhau của Đảng, Nhà
nước, Quân đội, đoàn thể cùng nhiều nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu nhân dịp 45 năm bài báo
“Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời. Các tham luận trong hội thảo khoa học đã tập trung
làm rõ vai trò, tác động của bài báo, phân tích sâu nội dung và phương thức CTDV dưới ánh
sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời liên hệ vận dụng vào thực tiễn CTDV trong sự nghiệp đổi
mới.
Cuốn sách “Đổi mới CTDV của Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quần chúng”
(Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1996) bao gồm các bài viết, bài nói của đồng chí Vũ Oanh về phát
huy đường lối đại đoàn kết dân tộc theo tầm cao, chiều sâu mới và những giải pháp để đổi mới
CTDV của các chủ thể trên.
Tiến sĩ Đàm Văn Thọ và Tiến sĩ Vũ Hùng viết cuốn sách “Mối quan hệ giữa Đảng và nhân
dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh” (Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1997). Trong cuốn sách này các
tác giả đã trình bày một cách khá hệ thống khái niệm “dân” và những quan điểm, thái độ khác
nhau về dân trong lịch sử, quá trình hình thành và nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh
về dân, về đảng cầm quyền và về mối quan hệ biện chứng giữa dân và Đảng. Từ đó nêu thực
trạng và giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và dân trong thời kỳ mới.
Năm 1999 đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng – “Đẩy mạnh CTDV tham gia xây dựng nền
tảng chính trị của QĐNDVN trong giai đoạn cách mạng mới” mang mã số KXB 96-07 đã được
nghiệm thu. Từ cơ sở lý luận, thực tiễn của mối quan hệ giữa nền tảng chính trị và CTDV; phân
tích thực trạng nền tảng chính trị và CTDV, các tác giả đã dự báo tình hình, kiến nghị giải pháp
nhằm đẩy mạnh CTDVCQĐ tham gia xây dựng nền tảng chính trị trong giai đoạn mới.
Tất cả các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập nghiên cứu trong một phạm vi
khá rộng rãi, phong phú và sâu sắc ở các khía cạnh, nội dung khác nhau. Tuy nhiên có thể nhận
thấy rằng chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề “Đổi mới công tác dân vận
của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” một cách
đề tài.
Luận án dựa vào số liệu, kết quả điều tra, khảo sát thực tế của tác giả về thực trạng
CTDVCQĐ ở một số đơn vị, cơ quan và nhà trường quân đội...
Các công trình nghiên cứu, các bài viết liên quan đến đề tài (kể cả các câu truyện về đời hoạt
động của Hồ Chí Minh; các hồi ký của các đồng chí đã được sống và làm việc cạnh Hồ Chí
Minh viết về Người) là những tài liệu khảo cứu quan trọng cả về nội dung và phương pháp.
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp; lịch sử,
lôgic; so sánh; tổng kết thực tiễn; điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Khái quát một cách cơ bản, tương đối toàn diện, hệ thống TTDVHCM và những quan điểm
chủ yếu của Người về CTDVCQĐ; đồng thời làm rõ thêm một số vấn đề về lý luận và thực tiễn
CTDVCQĐ.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp cơ bản, đồng bộ, phù hợp để đổi mới CTDVCQĐ trong
giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần đổi mới nhận thức, tư duy về CTDVCQĐ; góp phần thiết thực tìm hiểu và
khẳng định giá trị khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Kết quả nghiên cứu góp phần đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn là đổi mới, nâng cao
chất lượng hiệu quả CTDVCQĐ.
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy các nội
dung liên quan.
7. Kết cấu của luận án
Luận án có 179 trang, gồm phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), phần kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
Chương 1
TƯ TƯỞNG DÂN VẬN HỒ CHÍ MINH - NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM
CHỈ NAM CỦA CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
nước phải đổ. Mạnh Tử quan niệm lợi ích của dân là lý do, điều kiện tồn tại của thiên
tử và chư hầu và khẳng định: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Tuân Tử
quan niệm: “Trời sinh ra dân không phải vì vua mà trời lập ra vua để vì dân” Khổng
Minh thì nói: “Trước hết lấy lòng dân, thứ hai mới cốt lấy thành trì của địch” (Trong
tác phẩm “Phép dùng binh của ông Tôn Tử” Hồ Chí Minh đã nhắc lại câu này).
Trong lịch sử Việt Nam cũng có những tư tưởng rất đặc sắc, tiến bộ, về dân, coi dân
là gốc của nước, nước và dân luôn gắn chặt với nhau. Từ xưa trong nhân dân đã quan
niệm một cách rất phổ biến: “Quan nhất thời dân vạn đại”; “quan sang cũng tại ở làng
mà ra”; “hết quan hoàn dân”; “miệng dân sóng bể”...
Lý Công Uẩn trong “Chiếu rời đô” đã viết: “... trên vâng mệnh trời, dưới hợp lòng
dân...”. Trần Quốc Tuấn người được nhân dân suy tôn là vị thánh (Đức Thánh Trần)
đã khuyến tấu vua “Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách
giữ nước”. Tư tưởng của ông đã được chuyển hoá vào đường lối kháng chiến của nhà
Trần, là nguyên nhân thắng lợi của ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên
xâm lược.
Chu Văn An tấu với vua: “... chính lệnh bệ hạ có thể thay được, quan hại bệ hạ có
thể thay được, nhưng dân thì không thay được. Muốn hưng vận nước trước hết phải
hưng sức dân. Muốn hưng binh, trước hết phải hưng sức dân...” Hồ Nguyên Trừng thì
khẳng định: “Tôi không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Nguyễn Trãi
đã ví dân như nước còn triều đại phong kiến như thuyền. Trong quan hệ đó, dân giữ
vai trò số một “chở thuyền là dân, mà lật thuyền cũng là dân”.
Nhìn chung trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, mỗi triều đại phong kiến đang
lên, hưng thịnh đều có quan điểm về dân và mối quan hệ với dân tiến bộ: coi lòng dân
là ý trời và chú trọng lấy lòng dân, giữ lòng dân để giữ nước và trị nước. Thực tiễn
lịch sử cho thấy đó là điều kiện căn bản để đất nước được thái bình, hưng thịnh.
Nhưng dù sao những tư tưởng tiến bộ trên cũng bị chi phối , ràng buộc bởi quan
điểm và quyền lợi giai cấp phong kiến nên còn nhiều hạn chế mang tính lịch sử.
Khổng Tử quan niệm “dân” không bao gồm những người cùng khổ trong xã hội;
Tuy nhiên mức độ chi phối của những tư tưởng tiến bộ trên đối với lịch sử ở những
giai đoạn khác nhau, và ở mỗi triều đại phong kiến khác nhau thì không giống nhau.
Có khi những tư tưởng đó không được chuyển hoá thành, không ảnh hưởng tới đường
lối, chính sách cai trị đất nước của nhà nước. Dĩ nhiên thời kỳ đó triều đại suy tàn, nhà
nước thối nát, nhân dân lầm than.
Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời thì quan niệm về quần chúng nhân dân và
vai trò của quần chúng nhân dân mới trở nên đúng đắn, đầy đủ, khoa học và cách
mạng. Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm quần chúng nhân dân bao gồm rộng rãi các
tầng lớp nhân dân chẳng những là đa số công nhân mà còn tất cả những người bị bóc
lột. Khái niệm quần chúng nhân dân trong chủ nghĩa Mác - Lênin có bao hàm tính
giai cấp rõ nét, Lênin đã lưu ý đến vấn đề đó: “Khi dùng danh từ “nhân dân”, Mác
không thông qua danh từ ấy xoá mờ mất sự khác biệt về giai cấp: Mác đã gộp vào
danh từ ấy những thành phần nhất định, có khả năng làm cách mạng đến cùng” [63,
159].
Về vai trò của quần chúng, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định nhất quán quần
chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.
Các nhà kinh điển còn cho rằng xã hội loài người càng phát triển thì vai trò và sức
mạnh của quần chúng nhân dân càng to lớn, đặc biệt là trong cách mạng XHCN vai
trò, sức mạnh đó mang tính tự giác cao. Lênin đã viết: “Không có sự đồng tình và ủng
hộ của đại da số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình, tức là đối với
giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được” [65, 251] và “chủ
nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được khi quần chúng đông đảo gấp 10, gấp 100
trước tự bắt tay vào việc xây dựng nhà nước và một đời sống kinh tế mới” [64, 523].
Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn xem xét vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân
trong lịch sử không tách rời vai trò cá nhân lãnh tụ. Mặt khác, trong cách mạng vô sản
quần chúng nhân dân không chỉ là lực lượng, chủ thể mà còn là mục đích phục vụ, đối
tượng cần được giải phóng.
Sự ra đời của quan niệm về nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân của chủ
nhất, “Vì bị áp bức mà sinh ra cách mệnh” Họ là đại đa số trong dân cư, từ địa vị của
mình, họ không có gì để mất trong đấu tranh cách mạng ngoài “cái kiếp khổ, nếu được
thì được cả thế giới” [77, 266].
Vai trò gốc của cách mạng thể hiện ở chỗ chính nhân dân chứ không phải là ai khác
là lực lượng vô địch, là động lực, là lực lượng không thể thay thế của cách mạng. Do
đó Người coi “sức dân chúng làm nền” cho cách mạng. Nhân dân còn là mục đích cao
nhất, duy nhất của cách mạng vô sản. Quan niệm trên khác hẳn về chất, về nguyên tắc
so với các quan niệm trước kia được coi là tiến bộ. Từ đó dẫn đến sự khác nhau về
nguyên tắc trong khi đề ra các chính sách đối với quốc gia và theo đuổi đường lối đối
nội, đối ngoại.
Nhân dân là gốc của cách mạng còn có ý nghĩa: Chính nhân dân là nền tảng, là lực
lượng của Đảng. Người viết: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng
tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng
thắng lợi. Vì vậy, cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như
đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại” [83, 286] và “Nếu không có nhân dân giúp
sức, thì Đảng không làm được gì hết... Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất
định thất bại” [83, 238]. Nhân dân không chỉ là lực lượng quan trọng hàng đầu trong
thực hiện đường lối, nhiệm vụ cách mạng mà còn có vai trò rất quan trọng đóng góp
xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như xây dựng Đảng, Nhà
nước, Quân đội, các đoàn thể cách mạng.
Như vậy, không có mối liên hệ mật thiết với nhân dân thì Đảng sẽ không còn tồn tại
và phát triển. Nhưng không có Đảng cách mạng chân chính thì nhân dân không thể
làm cách mạng thành công để tự giải phóng mình, làm chủ vận mệnh của mình. Hồ
Chí Minh đã chỉ rõ: “cách mệnh trước hết phải có Đảng cách mệnh” và Đảng là người
“cầm lái” con thuyền cách mạng còn cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân
dân. Người xác định rõ vấn đề trên: “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ
không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi
Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo
nhân dân. Chính phủ, chính quyền các cấp là do dân cử ra, sử dụng quyền để quản lý đất nước,
điều hành hoạt động xã hội cũng chính đó là quyền của nhân dân giao cho. Nhân dân là chủ còn
Chính phủ và chính quyền các cấp là đầy tớ, công bộc của nhân dân. Hồ Chí Minh cho rằng:
“Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho
dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh” [80, 22] thậm chí “nếu Chính phủ làm hại dân
thì dân có quyền đuổi chính phủ”.
Từ quan niệm bản chất chế độ và địa vị “là chủ” của nhân dân trong chế độ ta mà Hồ Chí
Minh xác định nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đây là một tư tưởng độc đáo
trong quan niệm về vai trò của dân và về nhà nước cách mạng, kiểu mới ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh quan niệm dân là chủ, dân có quyền cao nhất nhưng nhân dân cũng có trách
nhiệm, bổn phận đối với đất nước, đối với cách mạng và đối với bản thân mình. Đó cũng chính
là nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận của người chủ. Người viết : “Công việc đổi mới, xây dựng
là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân” [87, 698].
Phải nói rằng dân chủ là tư tưởng mới mẻ so với tư tưởng Nho giáo và tư tưởng truyền thống
của dân tộc; một nội dung cất lõi trong tư tưởng về dân của Hồ Chí Minh. Quan niệm “bao nhiêu
quyền hạn đều của dân... quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”; Đảng “sẵn sàng vui vẻ làm
trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân cho dân” chỉ mới có ở Hồ Chí Minh.
* Phạm trù “nhân dân” có nội hàm rộng rãi song vẫn giữ tính giai cấp.
Không thể không nói đến quan niệm của Hồ Chí Minh về nội hàm của phạm trù “nhân dân”
khi nói đến tư tưởng về dân của Người. Trên lập trường của giai cấp công nhân, kế thừa những
tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin về phạm trù “nhân dân”, đồng thời
nhận thức sâu sắc đặc điểm, truyền thống yêu nước, sự gắn bó cộng đồng và tinh thần cách mạng
của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã mở rộng, phát triển, làm phong phú hơn nội hàm của
phạm trù nhân dân phù hợp với đặc điểm của dân tộc, điều kiện của thời đại.
Theo Hồ Chí Minh, nội hàm phạm trù nhân dân bao gồm tất cả những người có tinh thần yêu
nước thương nòi trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, dân tộc,
tôn giáo, giai cấp, tầng lớp... trừ bọn đại địa chủ, tư sản mại bản, việt gian bán nước, bọn phản
cách mạng đi ngược lại lợi ích dân tộc.
nhân và nhân dân lao động là rất to lớn, là vô cùng vô tận. Những lực lượng ấy cần có Đảng lãnh
đạo mới chắc chắn thắng lợi. Đồng thời Đảng phải đi sát quần chúng, khéo tổ chức và lãnh dạo
quần chúng, thì cách mạng mới thành công” [94, 290].
Theo nghĩa chung nhất thì dân vận là tuyên truyền, vận động nhân dân nhằm thực hiện mục
tiêu nhất định. Nhìn chung các giai cấp khi làm cách mạng hay khi đã cầm quyền đều muốn lấy
lòng, được lòng dân chúng. Vì vậy, các tổ chức chính trị, các nhà nước dưới các chế độ khác
nhau đến quan tâm đến dân vận. Tuy nhiên vấn đề là việc lấy lòng dân chúng vì lợi ích của ai,
trên cơ sở nào và bằng cách nào. Nói cách khác việc dân vận ở các chế độ xã hội khác nhau thì
khác nhau về bản chất. Trong chế độ dân chủ dân vận trở thành một thuộc tính và dân vận là vì
dân. Nó khác hẳn việc dân vận ở chế độ có bóc lột, áp bức và ngày càng trở nên quan trọng, đòi
hỏi phải được tiến hành “ráo riết”, rộng khắp.
Hồ Chí Minh quan niệm: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không
để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm,
những công việc mà Chính phủ và Đoàn thể giao cho” [87, 698]. Như vậy, trong tư tưởng Hồ
Chí Minh dân vận là một bộ phận của hoạt động vận động cách mạng của Đảng mà đối tượng
tuyên truyền, vận động là: từ mỗi người dân đến mọi người dân nhằm xây dựng mối quan hệ mật
thiết giữa Đảng và nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng của Đảng. Nói cách khác,
CTDV là một khâu trong chu trình lãnh đạo của Đảng, là một hoạt động rất quan trọng để thực
hiện sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó nói lên vị trí, tầm quan trọng của CTDV. CTDV có tầm
quan trọng to lớn có ý nghĩa chiến lược vì nó giải quyết ba vấn đề cơ bản. Thứ nhất, xây dựng
lực lượng cách mạng: bằng CTDV làm cho quần chúng nhân dân hiểu, giác ngộ sức mạnh to lớn,
lợi ích chân chính, địa vị chủ thể của mình trong cách mạng; giác ngộ con đường cách mạng,
đoàn kết đứng lên tranh đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nghĩa là CTDV góp phần quan trọng
làm cho lực lượng vô tận, sức mạnh vô địch của nhân dân từ dạng tiềm năng trở thành hiện thực
để “không súng ống nào, quân lính nào thắng nổi”. Thứ hai, dân vận là để thực hiện mục tiêu
cách mạng (cả trước mắt và lâu dài) thông qua thực hiện “những việc mà chính phủ và đoàn thể
giao cho”.Thứ ba, dân vận là để góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và đoàn thể cách
mạng. Thật vậy, trong điều kiện nước ta CTDV là một bộ phận của công tác quần chúng của các
quyền đối với CTDV là rất lớn và rất quan trọng. Thật vậy, Chính phủ vào năm 1949 đại diện
cho sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Mọi hoạt động của xã hội đều do Chính phủ điều hành
do đó vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của Chính phủ đối với đất nước là rất lớn. Mặt khác, chính
quyền là vấn đề cơ bản của cách mạng. Khi giành được chính quyền tất phải xây dựng nên một
chế độ dân chủ nhân dân. Chế độ dân chủ nhân dân vừa là tiền đề, vừa là mục tiêu của CTDV.
Hơn nữa để xây dựng, củng cố, giữ vững chính quyền; xây dựng Nhà nước kiểu mới thì biện
pháp cơ bản là dựa hẳn vào dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; thường xuyên giữ vững
mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước các cấp với nhân dân... Có thể khẳng định dân vận theo Hồ
Chí Minh là thuộc tính của chế độ, của Nhà nước dân chủ của chúng ta.
Dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhưng Hồ Chí Minh không quan niệm trách
nhiệm đó một cách chung chung mà trái lại rất rõ ràng, cụ thể. Người nhắc nhở: “Phải cùng nhau
bàn tính kỹ càng, cùng nhau chia công rõ rệt, rồi cùng nhau đi giải thích cho dân hiểu, cổ động
dân, giúp dân đặt kế hoạch, tổ chức phân công, sắp xếp việc làm, khuyến khích, đôn đốc, theo
dõi, giúp đỡ dân giải quyết những điều khó khăn” [88, 699].
CTDV của mỗi tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị có đối tượng yêu cầu, phương thức,
nội dung cụ thể... không giống nhau nhưng đều là một bộ phận của CTDV của Đảng, hướng vào
thực hiện mục đích CTDV của Đảng. Do đó trách nhiệm của các chủ thể trong hệ thống chính trị
đối với CTDV là cơ bản, lâu dài chứ không phải chỉ nhất thời trong từng giai đoạn, từng hoàn
cảnh nhất định.
Bốn là, dân vận là công tác có tính khoa học, nghệ thuật.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân vận là một bộ phận, một nội dung rất quan trọng của công
tác vận động cách mạng của Đảng, Do đó dân vận là một công tác mang tính khoa học nghệ
thuật cao.
Trước kia Lênin đã từng khẳng định: “Đảng cộng sản nếu muốn thật sự trở thành đội tiên
phong, đơn vị tiên tiến của giai cấp cách mạng, tức giai cấp vô sản, và ngoài ra nếu còn muốn
học cách lãnh đạo những quảng đại quần chúng vô sản và cả quần chúng không vô sản, tức quần
chúng lao động và bị bóc lột nữa thì phải biết cách làm công tác tuyên truyền, tổ chức, cổ động
sao cho dễ tiếp thụ nhất, dễ hiểu nhất; rõ ràng nhất và sinh động nhất cả đối với các “phố” thợ
hẹp hòi. Vì rằng dân vận của Đảng ta là vì dân. Qua lời dạy trên ta thấy rằng để dân vận phải có
thái độ đúng mực, biết nghe dân để tuyên truyền vận động họ; phải sâu sát thực tiễn, đi xuống cơ
sở, đi vào quần chúng; phải gương mẫu trước nhân dân để vận động nhân dân.
Dân vận theo Hồ Chí Minh phải có quy trình đúng đắn. Đó là: làm cho dân hiểu để dân làm;
phải bàn tính việc thiết thực kỹ càng; phải tổ chức phân công theo dõi; phải kiểm tra, rút kinh
nghiệm, học hỏi; phải phê bình, khen thưởng, động viên. Như vậy, người làm dân vận phải có
trình độ, năng lực, uy tín thực sự mới thuyết phục, vận động được nhân dân.
Dân vận là công tác đối với mỗi con người, đối với từng cộng đồng người, đối với mọi người
dân với muôn hình muôn vẻ về hoàn cảnh, nhu cầu lợi ích khác nhau cho nên rất khó khăn, phức
tạp. Do vậy: “Người tuyên truyền cần phải chịu khó, chịu khổ, khéo ở, xiêng làm” [82, 163].
“Phải biết chịu kham khổ. Phải biết nhẫn nại. Nói với người nghe một lần người ta không hiểu
thì nói đến hai lần, ba lần... về đức tính này phải học những người đi truyền giáo” [79, 64].
Tính khoa học, nghệ thuật của CTDV còn được thể hiện ở cả trong lời nói và thái độ như Hồ
Chí Minh đã dạy: “... phải biết cách nói. Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực. Phải có đầu,
có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được. Chớ dùng những danh từ lạ, ít người hiểu...” [82,
162]. Phải “khiêm tốn, mềm mỏng”... trong tiếp xúc với nhân dân và làm CTDV.
Tính khoa học, nghệ thuật của CTDV không thoát ly mà thấm đượm lòng yêu thương con
người, thái độ kính trọng nhân dân sâu sắc, Người đã căn dặn chúng ta phải có lòng khoan dung,
độ lượng vĩ đại để cảm hoá con người, cũng như bàn tay có ngón dài, ngón ngắn, ở đời cũng có
người thế này thế khác. Nhưng dù thế này thế khác cũng đều là dòng dõi tổ tiên ta. Đó là sự kết
hợp giữa lý trí - nghệ thuật và tình cảm cách mạng . Cơ sở của sự thống nhất đó là sự thống nhất
về lợi ích giữa chủ thể và đối tượng của CTDV; là bản chất vì dân của CTDV của Đảng. Nếu
không có được điều đó thì cái “khéo” của CTDV sẽ là mỵ dân, lừa phỉnh. Dân vận “khéo” là
phải đạt đến trình độ sao cho nhân dân không có ý thức mặc cảm rằng mình là đối tượng “bị”
tuyên truyền, vận động. Đó là nghệ thuật, là khoa học “được lòng dân” để “được dân”.
TTDVHCM là một nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người. Tư tưởng ấy chứa đựng
tính khoa học sâu sắc, tính cách mạng triệt để, tình nhân văn cao cả. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ
Chí Minh, qua thực tiễn cách mạng vô cùng phong phú Đảng ta đã trở thành một Đảng giỏi về
Quân đội nhân dân theo Hồ Chí Minh là quân đội chỉ vì lợi ích của nhân dân, Tổ quốc. Người
khẳng định: “Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh
giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài
lợi ích của nhân dân. Quân đội ta không có lợi ích nào khác” [90, 426].
“Vì nhân dân”, theo Hồ Chí Minh được hiểu tựu chung, sâu sắc ở chữ “hiếu” với dân. Chữ
“hiếu” mà người dòng cho Quân đội có nguồn gốc từ Nho học nhưng đã được nâng lên một tầm
cao mới với tính cách mạng và nhân văn cao cả. Hiếu với dân không chỉ là một lòng một dạ phục
vụ nhân dân, không sợ gian lao khổ hạnh, hiểm nguy mà còn cao hơn thế nữa là phải kính trọng
dân. Do vậy Người dạy “Phải kính trọng nhân dân, giúp đỡ nhân dân, đoàn kết với nhân dân”.
Đối với Quân đội ta, theo Hồ Chí Minh, nhân dân không chỉ là đối tượng phục vụ mà còn là
nền tảng sức mạnh của Quân đội. Nhân dân cung cấp mọi thứ cho quân đội: từ nhân - tài - vật
lực đến hun đúc sức mạnh tinh thần cho Quân đội. Nhân dân không chỉ là người mẹ hiền mà còn
là người thầy vĩ đại của Quân đội - nhân dân nuôi dưỡng, chở che, bảo vệ, dạy dỗ Quân đội với
một tình cảm bao la... Quân đội là con em của nhân dân, là bộ phận không thể tách rời của nhân
dân. Vì một lẽ giản đơn: chính nhân dân là chủ thể của các cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng
và bảo vệ Tổ quốc, còn Quân đội là nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.
“Quân đội nhân dân”, theo Hồ Chí Minh không chỉ là phục vụ nhân dân trong mọi điều kiện,
hoàn cảnh mà còn bao hàm cả nghĩa: phải biết dựa vào dân; biết làm nòng cốt cho toàn dân đánh
giặc; biết phát huy sức mạnh của toàn dân; phải căn cứ vào “sức dân” (cả về vật chất và tinh
thần) mà phát triển và xây dựng lực lượng. Quân đội nhân dân Việt Nam, theo tư tưởng Hồ Chí
Minh, là quân đội của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Bản chất giai cấp là vấn đề cơ bản của mỗi quân đội. Song với Hồ Chí Minh, cùng với việc
khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta, Người luôn rất quan tâm xây dựng tính
nhân dân, tính dân tộc sâu sắc cho Quân đội ta. Trong tư tưởng của Người bản chất giai cấp công
nhân, tính nhân dân, tính dân tộc thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau tạo nên bản chất cách
mạng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Điều kiện căn bản cho sự thống nhất đó là: Quân
đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội đã kiểm nghiệm và làm sáng tỏ,
đội quân chiến đấu; đội quân công tác; đội quân lao động sản xuất. Người thường
xuyên quan tâm đến chức năng đội quân công tác của Quân đội và xác định dân vận là
nhiệm vụ chính trị thường xuyên không chỉ của Quân đội mà còn của cả lực lượng vũ
trang nói chung. Người căn dặn: “Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích
không nên chỉ biết đánh. Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính
trị, kinh tế, tuyên truyền giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt, vì đánh không
tách rời được với chính trị và kinh tế” [91, 523].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng chính
trị tin cậy, đắc lực của Đảng và Nhà nước. Dân vận là nhiệm vụ chính trị, chức năng
cơ bản của Quân đội ta; cùng với việc thực hiện hai chức năng khác, thể hiện bản chất
giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc của Quân đội ta.
Ba là, Mỗi quân nhân là một cán bộ dân vận giỏi.
Tiến hành CTDV là chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, do vậy đó cũng là trách
nhiệm chính trị của mọi tổ chức, quân nhân trong Quân đội. Để hoàn thành trách
nhiệm đó, theo Hồ Chí Minh, mỗi quân nhân phải là một cán bộ dân vận giỏi.
Trong thư gửi CB, CS Khu 2 và Khu 3 ngày 24 tháng 2 năm 1948, Người căn dặn
bộ đội: “anh em phải nhớ rằng: mỗi người trong bộ đội phải là một người tuyên
truyền. Vì vậy, bộ đội cần phải ra sức giúp đồng bào trong công việc bình dân học vụ
cũng như trong những công việc khác” [84, 379-380]. Vì theo Người, là chiến sĩ cách
mạng, các quân nhân không những phải có giác ngộ cách mạng mà còn phải có trách
nhiệm và khả năng tuyên truyền, vận động, giác ngộ cách mạng cho nhân dân. Hồ Chí
Minh viết: “Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ quốc, thì chẳng những họ phải hiểu vì
sao mà hy sinh, họ lại phải có thể nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước” [81,
103].
Muốn là một cán bộ dân vận giỏi phải qua học hỏi, phải được huấn luyện, giáo dục.
Bộ đội phải học ở nhân dân, học hỏi lẫn nhau, học ngay trong thực tiễn CTDV và các
công tác khác. Cấp trên phải dạy cho cấp dưới; cán bộ phải dạy cho chiến sĩ làm
CTDV. Đối với cán bộ không những phải biết vận động quần chúng trong Quân đội
sắc vẫn là ngọn đèn pha soi sáng, dẫn dắt Đảng và hệ thống chính trị cũng như Quân đội ta trong
sự nghiệp dân vận nói riêng trong thực tiễn cách mạng nói chung. Đối với CMVCQĐ,
TTDVHCM đã trở thành phương châm, nguyên tắc trong suốt thời kỳ chiến tranh. Quân đội ta
đã quán triệt thực hiện tư tưởng của Người do vậy đã thành công trong xây dựng và củng cố mối
quan hệ với nhân dân, với hậu phương một cách vững chắc - nền tảng sức mạnh của Quân đội
trong chiến tranh. Qua một chặng đường dài mấy chục năm chiến tranh ác liệt nhưng Quân đội ta
vẫn lớn lên rất nhanh chóng bởi nó được nuôi dưỡng từ một nguồn sức mạnh vô tận, vô địch của
nhân dân TTDVHCM đối với CTDVCQĐ luôn là nền tảng tư tưởng, bài chỉ nam trong mọi giai
đoạn cách mạng. Tư tưởng đó đã là một trong những cơ sở cho việc xác định chức năng, nhiệm
vụ cho Quân đội ta. Những nội dung, quan điểm cơ bản trong TTDVHCM có giá trị chỉ đạo
xuyên suốt CTDVCQĐ qua các thời kỳ cách mạng và trong mọi hoàn cảnh: từ xác định mục
tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung đến tìm ra phương thức, giải pháp tiến hành. Tư tưởng đó còn
giúp chúng ta tìm hiểu, nhận thức và có được cách tốt nhất để khắc phục hoặc giải quyết những
vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Hơn nữa TTDVHCM còn giúp ta đấu tranh chống lại các biểu
hiện sai trái như: “Xem khinh việc dân vận”; “chưa hiểu thấu” tình hình (do quan liêu trong
CTDV) hay “làm chưa đúng”...
Thực hiện chức năng “đội quân công tác”, hơn nửa thế kỷ qua Quân đội ta đã
thường xuyên quán triệt, làm theo tư tưởng của Người. Đó là một nguyên nhân vừa cơ
bản, vừa sâu xa dẫn đến sức sống và hiệu quả của CTDVCQĐ.
Thực tiễn cho thấy rõ TTDVHCM không chỉ là một đóng góp quý báu vào lý luận
vận động cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê nin mà còn đã, đang, sẽ soi sáng cho sự
nghiệp dân vận của Đảng, của Quân đội ta.
1.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn công tác dân vận của Quân đội dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
Việc đổi mới, nâng cao chất lượng CTDVCQĐ trong giai đoạn hiện nay không thể không kế thừa truyền thống, kinh nghiệm quý báu 56
năm qua. Nhưng việc tiếp cận thực tiễn, rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho CTDVCQĐ hiện nay phải được dựa trên quan điểm
lịch sử, cụ thể. Mặt khác phải thấy được CTDVCQĐ là một nhiệm vụ, hoạt động thường xuyên không tách rời các công tác khác, nhiệm vụ
khác của Quân đội.
khó khăn, gian khổ để giúp dân phát triển sản xuất, ổn định đời sống. Khi đế quốc Mỹ
mở rộng chiến tranh ra cả nước, các đơn vị quân đội đã phối hợp và dựa vào các tổ
chức trong hệ thống chính trị để tuyên truyền vận động nhân dân hướng vào thực hiện
khẩu hiệu: “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.