65
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, xây dựng, rèn luyện và lãnh đạo
Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở vận dụng sáng tạo học thuyết xây dựng
Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta. Là
lãnh tụ của Đảng, Người đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho dân tộc
Việt Nam, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng
con người.
Từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc
rằng cách mạng: "Trước hết phải có đảng cách mệnh" và "chỉ có sự lãnh đạo của
một Đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện
cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến
thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công". Người đã chỉ ra sự cần
thiết phải có một chính đảng ở một nước thuộc địa để "trong thì vận động và tổ
chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi
nơi".
Suốt cả cuộc đời, Người đã thực sự quan tâm sâu sát, mong mỏi thiết tha tới
việc xây dựng một chính Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và
của cả dân tộc Việt Nam, một Đảng thực sự trong sạch, "xứng đáng là người
lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân". Ngay từ nhận thức ban
đầu về sự cần thiết phải có một chính Đảng của giai cấp vô sản cho tới trước khi
Người trở về với "thế giới người hiền", Hồ Chí Minh đã dặn lại toàn Đảng, toàn
dân ta vài việc, vài lời trong đó "trước hết nói về Đảng" và "việc cần phải làm
trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng". Có thể khẳng định rằng, Hồ Chí Minh đã dành
nhiều công sức, trí tuệ để vun đắp, xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Người
đã xác định rõ nội dung và phương châm xây dựng Đảng đúng đắn và phù hợp
với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta, vốn là một nước có nền kinh tế nông nghiệp
Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về công tác kiểm tra của Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc của
65
Đảng lần thứ X (4/2006) một lần nữa tiếp tục khẳng định vai trò, nhiệm vụ
xây dựng Đảng là then chốt, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là vấn đề sống
còn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đại hội đã tổng kết và rút
ra các bài học kinh nghiệm của công tác xây dựng Đảng trong 20 năm đổi
mới toàn diện đất nước (1986-2006). Đại hội chỉ ra thực trạng công tác kiểm
tra của Đảng:
Công tác kiểm tra của Đảng còn yếu, chất lượng và hiệu quả kiểm tra chưa
được cao; nhiều khuyết điểm, sai lầm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được
phát hiện và khắc phục; chưa coi trọng kiểm tra phòng ngừa, phát huy nhân tố
tích cực. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra và thi hành
kỷ luật trong Đảng.
Muốn thực hiện tốt một trong những phương hướng và giải pháp lớn của
công tác xây dựng Đảng là "đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám
sát của Đảng, góp phần phát hiện và khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót
khi mới manh nha", cần thiết phải nghiên cứu, xem xét tư tưởng Hồ Chí Minh
về công tác kiểm tra của Đảng một cách thấu đáo, toàn diện.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra của Đảng đã được Đảng ta kế
thừa, vận dụng, được các các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đã và đang thu
được kết quả bước đầu. Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm có tính nguyên tắc:
Lãnh đạo phải có kiểm tra, lãnh đạo không kiểm tra coi như không lãnh đạo;
trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu hiện nay, đang xuất
hiện nhiều vấn đề tác động tiêu cực tới công tác xây dựng Đảng và đội ngũ cán
bộ, đảng viên; hơn nữa qua thực tiễn hoạt động, bên cạnh những ưu điểm, công
tác kiểm tra của Đảng còn bộc lộ nhiều hạn chế, cần phải khắc phục để đáp ứng
khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2003), Giáo trình tư tưởng Hồ
Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Lê Văn Lý (chủ biên) (2003), Một số chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí
Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Mạch Quang Thắng (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
65
- Nguyễn Khánh Bật (chủ biên) (2001), Tập bài giảng tư tưởng Hồ Chí
Minh (hệ cử nhân chính trị), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Phân viện Hà Nội - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1995), Tư
tưởng Hồ Chí Minh (tập bài giảng), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (2004), Giáo trình tư tưởng
Hồ Chí Minh (Dùng cho hệ cao cấp lý luận), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
* Công trình nghiên cứu khoa học
- Đề tài khoa học mang mã số: KHXH 05.01 thuộc Chương trình khoa học
cấp Nhà nước,"Tăng cường vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong
điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần với cơ chế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa" do PGS Lê Văn Lý làm chủ nhiệm;
- Đề tài khoa học mang mã số: KHXH 03.07 thuộc Chương trình khoa học
cấp Nhà nước: "Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của
Đảng" do GS.TS Nguyễn Thị Doan làm chủ nhiệm.
* Các công trình chuyên khảo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây
dựng Đảng
- Bùi Đình Phong, Phạm Ngọc Anh (2001), Công tác xây dựng Đảng trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Lao động, Hà
Nội.
- Bùi Đình Phong, Phạm Ngọc Anh (2006), Một số vấn đề trong tư tưởng
- Nguyễn Thị Xuân Mỹ (1998), "Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra
của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh", Tạp chí Kiểm tra, số 5.
- Đặng Đình Phú (1999), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra và thi
hành kỷ luật - sự vận dụng của Đảng ta trong tình hình hiện nay", Tạp chí Kiểm tra,
số 5& 6.
Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu công tác kiểm tra của Đảng
theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Về hệ thống sách giáo khoa, giáo trình nêu trên đều có: 01 bài hoặc 01
chương đề cập tới vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản bao gồm: Cơ
sở hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam; nguyên tắc tổ chức, hoạt động, vai trò,
sứ mệnh lịch sử của Đảng, các nguyên tắc xây dựng Đảng v.v… Tuy nhiên, nội
dung công tác kiểm tra của Đảng thì chưa đề cập đến hoặc đề cập chưa có hệ
65
thống, chưa sâu sắc, chưa đặt thành nội dung chủ yếu trong phương thức lãnh
đạo của Đảng để nghiên cứu.
- Về hệ thống các sách chuyên khảo: Đã ít nhiều đề cập đến công tác kiểm
tra của Đảng nhưng nhìn chung cũng chưa thành một hệ thống theo tư tưởng
Hồ Chí Minh, chưa chỉ ra sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về công tác này.
- Ngay cả ở kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học cấp Nhà nước cũng
mới chỉ đề cập một cách khái quát công tác kiểm tra của Đảng theo tư tưởng Hồ
Chí Minh. Cụ thể, coi công tác kiểm tra của Đảng là một trong những phương
thức lãnh đạo của Đảng, giành một phần thích đáng cho việc nghiên cứu công
tác kiểm tra và thi hành kỷ luật của Đảng như: mục đích, nội dung, cách thức
của công tác kiểm tra của Đảng v.v… Vì thế, đề tài mà chúng tôi lựa chọn
nghiên cứu không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã công
bố; các kết quả nghiên cứu đã đạt được chỉ là cơ sở tham khảo hữu ích, giúp
chúng tôi hoàn thành vấn đề nghiên cứu này.
các bài nói, bài viết của Người về công tác kiểm tra của Đảng, được thể hiện
trong bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ hai vào năm 2000;
- Khảo sát thực trạng công tác kiểm tra của Đảng ở Đảng bộ tỉnh Hà Tây
vào khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2005.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở phương pháp luận
Đề tài sử dụng cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
* Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng một số phương pháp như: phương pháp văn bản học, phương pháp
lịch sử, lôgic, phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, trên cơ sở những tác
phẩm của Hồ Chí Minh, gắn nghiên cứu tác phẩm với thực tiễn chỉ đạo của
Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra của Đảng.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp như: Khảo sát thực tế
công tác kiểm tra ở Đảng bộ tỉnh Hà Tây; phân tích, tổng hợp các báo cáo
tổng kết công tác kiểm tra của Đảng v.v…
6. Cái mới về mặt khoa học của luận văn
65
Luận văn bước đầu đã chỉ ra một cách có hệ thống các quan điểm của Hồ
Chí Minh về công tác kiểm tra của Đảng, qua đó đề xuất một số giải pháp đổi
mới công tác kiểm tra của Đảng, góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất
lượng công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay ở một địa phương cụ
thể.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 2 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra của Đảng.
Trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin về xây dựng một chính Đảng nói chung và về công tác
kiểm tra Đảng, mà đặc biệt là tư tưởng của V.I. Lênin về công tác kiểm tra
Đảng nói riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và bổ sung thêm nhiều
luận cứ mới và đó là cơ sở lý luận trực tiếp, quan trọng, trong quá trình hình
thành và hoàn thiện tư tưởng của Người về công tác kiểm tra Đảng.
Bên cạnh đó, ta thấy trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đi nhiều nơi, tham gia nhiều tổ chức, khảo cứu nhiều
phong trào cách mạng của các dân tộc trên thế giới. Từ chỗ, nhận thức được việc
cần thiết phải có một chính Đảng để lãnh đạo phong trào cách mạng, đến việc
Người đã quan tâm chăm lo tới công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt, Người đã có
thời gian tham gia tổ chức và hoạt động thực tiễn ở Đảng Cộng sản Pháp, ở
Quốc tế Cộng sản. Tất cả những hoạt động thực tiễn sinh động ấy, những kinh
nghiệm học hỏi được từ các Đảng Cộng sản, từ Quốc tế Cộng sản về cách thức
tổ chức, hoạt động, xây dựng một chính Đảng đã được Hồ Chí Minh tổng kết,
đúc rút thành những bài học quý báu cho công tác xây dựng Đảng. Thực tiễn tổ
chức, lãnh đạo và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tích cực
vận dụng những kinh nghiệm quý báu ấy và dần bổ sung, hoàn thiện trong việc
xây dựng một Đảng cách mạng, chân chính.
Thực tiễn tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ dưới
sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng công tác kiểm
65
tra, giám sát trong Đảng. Từ nhận thức tới hoạt động thực tiễn, đã thành lập được
một cơ quan chuyên trách của Đảng thực hiện công tác kiểm tra Đảng
(16/10/1948). Từ thực tiễn sinh động ấy dần trở thành nền tảng của tư tưởng Hồ
Chí Minh về công tác kiểm tra Đảng. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời
(02/9/1969), Đảng ta tiếp tục kế thừa và bổ sung tư tưởng của Người về công tác
xây dựng, thực thi các các nghị quyết, chỉ thị; giải quyết các vấn đề trong sinh
hoạt và nội bộ Đảng; hoàn thiện quy trình lãnh đạo; giữ gìn kỷ luật của Đảng với
mục đích là thực hiện thắng lợi những quyết định đã đặt ra.
* Vị trí, vai trò của kiểm tra trong công tác xây dựng Đảng
- Hồ Chí Minh khẳng định công tác kiểm tra Đảng là một nội dung, một
khâu không thể thiếu trong quy trình hoạt động lãnh đạo của Đảng. Khi đã có
chính sách đúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi tổ
chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra.
- Xuất phát từ thực tiễn, từ tính tất yếu của công tác kiểm tra Đảng, Hồ Chí
Minh đã vạch ra vai trò, vị trí của công tác kiểm tra Đảng đối với quá trình xây
dựng Đảng và thực hiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Quy trình lãnh đạo của
Đảng bao gồm các khâu chủ yếu: Ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định và
kiểm tra sự thực hiện. Khi đánh giá sự lãnh đạo của Đảng, nhất thiết phải xem xét,
đánh giá trên cả ba khâu đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Lãnh đạo đúng
nghĩa là phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng; phải tổ chức sự thi hành
cho đúng và phải tổ chức sự kiểm soát"
- Kiểm tra không chỉ là khâu cuối cùng mà nó đan xen vào tất cả các khâu
trong quy trình lãnh đạo của Đảng. Đó là một chu trình khép kín trong việc
hoạch định và thực thi đường lối cách mạng của Đảng: Từ việc đề ra đường lối,
chính sách - tổ chức thực hiện đường lối, chính sách - kiểm tra việc thực hiện
đường lối, chính sách - rồi lại đề ra đường lối, chính sách (bao gồm cả việc sửa
đổi, bổ sung đường lối, chính sách).
1.2.2. Mục đích, nhiệm vụ công tác kiểm tra của Đảng
* Mục đích
- Mục đích của công tác kiểm tra Đảng giúp các cấp ủy đảng cấp trên nắm
bắt được tình hình thực tiễn, giúp cấp dưới kịp thời sửa chữa, uốn nắn những sai
65
65
thoái hóa biến chất, những kẻ vụ lợi chui vào Đảng; góp phần xứng đáng vào
nhiệm vụ chung là xây dựng Đảng.
- Công tác kiểm tra Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải có mục đích và
nhiệm vụ góp phần hoạch định chủ trương, đường lối một cách đúng đắn phù
hợp với thực tiễn khách quan; nắm bắt được tình hình thực tiễn; hiểu rõ được
việc, hiểu rõ được cán bộ, hiểu rõ tình hình thực hiện các chủ trương của
Đảng trên thực tế, phát hiện và bồi dưỡng những điển hình tiên tiến. Không
dừng lại ở đó, Hồ Chí Minh chỉ ra mục đích, ý nghĩa, tác dụng sâu sắc của
công tác kiểm tra Đảng: "thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm tròn
nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân.
Do đó, mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức".
1.2.3. Nội dung công tác kiểm tra của Đảng
Nội dung, phạm vi công tác kiểm tra của Đảng rất toàn diện, bao gồm tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa đến an ninh,
quốc phòng, đối ngoại v.v… Đảng ta đã cụ thể hóa nội dung kiểm tra trong
các chủ trương, đường lối, chính sách, trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng,
trong chính sách và pháp luật của Nhà nước.
1.2.4. Nguyên tắc và phương pháp kiểm tra của Đảng
1.2.4.1. Các nguyên tắc khi tiến hành công tác kiểm tra Đảng
Nguyên tắc thứ nhất: Đảm bảo tính Đảng Cộng sản trong công tác kiểm
tra
Là một bộ phận quan trọng trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây
dựng Đảng, công tác kiểm tra Đảng có những đòi hỏi mang tính nguyên tắc
rất nghiêm ngặt. Nó lấy việc phục vụ nhiệm vụ chính trị, lợi ích của Đảng,
của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và công tác xây dựng Đảng
làm mục tiêu, phương hướng và nội dung hoạt động. Hơn nữa, bất kỳ hoạt
động kiểm tra nào của Đảng nếu xa rời nguyên tắc tính Đảng, thì đều đi chệch
mục tiêu và gây hậu quả khôn lường. Vì thế, nguyên tắc đảm bảo tính Đảng
1.2.4.2. Về phương pháp kiểm tra
Thứ nhất: Dựa vào lực lượng to lớn của toàn dân
- Về phương pháp, công tác kiểm tra đảng chủ yếu dựa vào các tổ chức đảng
và đảng viên nơi được kiểm tra, đặc biệt là đề cao việc tự kiểm tra của các tổ
65
chức đảng và tình thần tự giác của đảng viên nơi được kiểm tra. Công tác kiểm
tra của Đảng lấy tự kiểm tra là chính. Hồ Chí Minh chỉ ra phương pháp kiểm tra
là cần phải dựa vào lực lượng to tát của quần chúng, nhưng không chỉ dựa hẳn
vào quần chúng mà phải biết kết hợp lực lượng của cả hai bên (quần chúng nhân
dân và cán bộ kiểm tra).
- Trong quá trình kiểm tra, đoàn kiểm tra cần tiếp xúc, trao đổi với nhiều
người, bao gồm cả cán bộ lãnh đạo, các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan
và quần chúng biết về sự việc đó; thu thập, nghiên cứu các tài liệu cần thiết để
làm sáng tỏ vấn đề cần kiểm tra (cần phân tích, đối chiếu, so sánh…). Cần
phải thực hiện tốt việc thẩm tra, xác minh để kết luận rõ ràng, chính xác, nhất
là đối với những sai phạm của cơ quan, đơn vị, cá nhân.
Thứ hai: Đoàn kết, thống nhất và dân chủ trong công tác kiểm tra Đảng
Có thể nói, công tác kiểm tra của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng
trong việc tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Hiện tượng mất
đoàn kết trong Đảng thường diễn ra rất đa dạng, khó phát hiện và thường có
biểu hiện ngầm. Do đó, chỉ có công tác kiểm tra mới có thể giúp cho các cấp
ủy kịp thời phát hiện và ngăn chặn hiện tượng mất đoàn kết. Bên cạnh đó,
việc tổ chức thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng của Đảng có tác dụng
kịp thời động viên, khích lệ những tập thể, cá nhân, cán bộ, đảng viên có
thành tích trong xây dựng khối đoàn kết thống nhất, nhắc nhở giáo dục cán bộ
đảng viên phải không ngừng xây dựng, vun đắp cho khối đoàn kết thống nhất
trong Đảng.
Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận
mệnh của Đảng, của đất nước là khâu then chốt trong công tác xây dựng
Đảng. Cán bộ có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với tổ chức và đường lối
chính trị, vì đường lối chính trị đúng thì sản sinh ra cán bộ tốt.
Hồ Chí Minh đã phác thảo những tiêu chuẩn của người cán bộ, đảng viên
nói chung và đặc biệt đối với cán bộ thực hiện công tác kiểm tra của Đảng nói
riêng.
Trước hết, người cán bộ của Đảng được phân công nhiệm vụ thực hiện
công tác kiểm tra cần phải: Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách
mạng của Đảng; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng,
65
nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây là nhiệm vụ của
mọi đảng viên, đồng thời cũng là yêu cầu quan trọng đầu tiên đối với người
cán bộ kiểm tra.
Thứ hai, phải có nhiệt tình cách mạng, có tinh thần trách nhiệm và ý thức
tổ chức kỷ luật cao. Luôn phấn đấu học hỏi, nâng cao trình độ, phải thấm
nhuần đường lối: "Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải
từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng". Điều đó có nghĩa là trong
công tác của Đảng nói chung và trong hoạt động kiểm tra của Đảng nói riêng,
thì yêu cầu mỗi người cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng được phân công thực
hiện công tác kiểm tra phải luôn luôn biết lắng nghe quần chúng nhân dân,
học hỏi từ quần chúng nhân dân. Cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng khi thực
hiện công tác kiểm tra của Đảng không những phải có nhiệt tình cách mạng,
có tinh thần và trách nhiệm cao mà còn phải có ý thức tổ chức kỷ luật tự giác
và nghiêm minh. Tính tổ chức, kỷ luật chặt chẽ, tự giác và nghiêm minh đã
tạo nên sức mạnh của Đảng.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đó có cán bộ, đảng viên làm công tác
kiểm tra trong giai đoạn 2000 - 2005.
2.1.1. Vài nét về lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tây và tổ chức, bộ máy kiểm
tra của Đảng bộ tỉnh
Đảng bộ tỉnh Hà Tây tiền thân là sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Hà Đông vào
cuối năm 1938 và Đảng bộ tỉnh Sơn Tây vào tháng 10/1940. Cho tới ngày 10
tháng 4 năm 1965, Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóa III) ra Quyết định số
113, về việc hợp nhất hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây. Đảng
bộ tỉnh Hà Tây đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân,
toàn diện, chống thực dân Pháp và những năm đầu thực hiện đường lối hai
nhiệm vụ chiến lược do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960) vạch ra,
nhất là việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Đảng (1960 - 1965).
Mười năm tiếp theo (1965-1975) là Đảng bộ tỉnh Hà Tây, trải qua hai kỳ
Đại hội Đảng bộ tỉnh vào các năm 1969 và 1974.
Đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ năm 1976
- 1991 là khoảng thời gian 15 năm Đảng bộ tỉnh Hà Tây cùng với Đảng bộ tỉnh
Hòa Bình hợp nhất thành Đảng bộ tỉnh Hà Sơn Bình. Trong khoảng thời gian 15
65
năm ấy, Đảng bộ tỉnh Hà Sơn Bình đã trải qua bốn kỳ Đại hội vào các năm:
1977, 1979, 1983 và 1986.
Kỳ họp Quốc hội thứ 9 (khóa VIII) từ ngày 27/7 đến ngày 12/8/1991, đã
quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình. Từ
tháng 10/1991 cho tới nay 8/2008, Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã tiếp tục tổ chức 4
kỳ Đại hội vào các năm 1992, 1996, 2000 và 12/2005, lãnh đạo nhân dân
trong tỉnh thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng,
xây dựng một quê hương Hà Tây ngày càng giàu đẹp và văn minh.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức, bộ máy của Ủy ban Kiểm tra tỉnh Hà Tây
Lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng tổ chức và hoạt
động; Đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền bạn của Ủy ban Kiểm tra.
Chỉ đạo, hướng dẫn về phương hướng nhiệm
vụ, nghiệp vụ công tác kiểm tra; đôn đốc, kiểm
tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; chỉ đạo
giải quyết một số vấn đề cụ thể về công tác
kiểm tra, giám sát của Đảng..
Hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện công tác
kiểm tra và thi hành kỷ luật của Đảng; Kiểm tra
cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu
hiệu vi phạm v.v...
2.1.2 Những nhiệm vụ đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác
kiểm tra trong giai đoạn 2000 - 2005
* Nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh
Trước hết, là nhiệm vụ lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và thi hành
kỷ luật của Đảng;
Thứ hai, về tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ
luật của Đảng
Thứ ba, chấp hành việc kiểm tra của các tổ chức đảng cấp trên
* Nhiệm vụ của Ủy ban Kiểm tra các cấp của tỉnh
Thứ nhất, công tác kiểm tra phải góp phần vào việc giữ vững ổn định
chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn toàn tỉnh
Thứ hai, công tác kiểm tra của Tỉnh ủy phải góp phần vào việc thực hiện
thắng lợi sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phục vụ sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh
65
65
- Chất lượng của Ủy ban Kiểm tra các cấp được nâng cao, thực hiện tốt
chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, xem xét, kết luận và xử lý nghiêm minh đối
với cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng vi phạm kỷ luật của Đảng;
- Thực hiện tốt công tác bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra, nâng trình độ
chuyên môn nghiệp vụ về công tác kiểm tra của Đảng và trình độ lý luận cho
đội ngũ cán bộ kiểm tra của đảng, củng cố và kiện toàn được Ủy ban Kiểm tra
các cấp.
- Đặc biệt, được sự chỉ đạo của Thường vụ Tỉnh ủy, ngay từ năm 2002, Ủy
ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã tổ chức Hội thi về Công tác kiểm tra. Nội dung hội
thi đã được cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp bám sát vị trí, chức năng,
nhiệm vụ chuyên môn của công tác kiểm tra Đảng. Thông qua hội thi đã góp
phần nâng cao nhận thức về chuyên môn, nghiệp vụ của những người làm
công tác kiểm tra của Đảng. Đây là lần đầu tiên các cấp ủy tổ chức hội thi ở
lĩnh vực công tác này; đồng thời cũng là Đảng bộ tỉnh đầu tiên của cả nước
xây dựng được mô hình tổ chức Hội thi về Công tác kiểm tra của Đảng.
- Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy còn tiến hành tổng kết các chuyên đề về ngành
Kiểm tra, phục vụ việc nghiên cứu lý luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Nguyên nhân của những kết quả đã đạt được
Thứ nhất, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy Hà Tây
đã nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác
kiểm tra của đảng trong mọi hoạt động lãnh đạo của Tỉnh ủy.
Thứ hai, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, các ban đảng của Tỉnh ủy luôn chủ
động tham mưu cho Tỉnh ủy về công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng, chủ
động đề xuất với Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy những vấn đề trọng tâm,
trọng điểm trong công tác kiểm tra; chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các tổ chức
đảng, đảng viên triển khai thực hiện công tác kiểm tra. Ngoài việc làm tốt
chức năng tham mưu, Ủy ban Kiểm tra tỉnh ủy và các ban Đảng của Tỉnh ủy
còn tích cực, chủ động thực hiện các chương trình công tác của Tỉnh ủy một
ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác kiểm tra trong hoạt động lãnh đạo của
Đảng, do đó dẫn đến sự thiếu tích cực, chủ động trong việc triển khai tổ chức,
thực hiện công tác kiểm tra của Đảng;