KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP hồ CHÍ MINH học TĂNG CƯỜNG mối QUAN hệ GIỮA ĐẢNG cầm QUYỀN với NHÂN dân HIỆN NAY THEO tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH - Pdf 43

2
MỤC LỤC
Tran
g
MỞ ĐẦU
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ

3

GIỮA ĐẢNG CẦM QUYỀN VỚI NHÂN DÂN
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1. Một số khái niệm có liên quan và nội dung cơ bản của

9

tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng cầm
quyền với Nhân dân
1.2. Sự cần thiết và tiêu chí đánh giá việc tăng cường mối

9

quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân theo tư
tưởng Hồ Chí Minh
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG

20

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG CẦM QUYỀN VỚI
NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
31


tiếp tới sự tồn vong của mọi chế độ xã hội và giải quyết vấn đề này là một nội
dung mà mọi giai cấp nắm quyền phải quan tâm. Song nó luôn được đặt ra và
có những thể hiện rất khác nhau về quan điểm ở các chế độ, các thời đại.
Trong suốt sự nghiệp cách mạng của một lãnh tụ kiệt xuất, Hồ Chí Minh
luôn quan tâm chăm lo đến mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân,
nhằm phát huy sức mạnh vô địch của Nhân dân vào sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc và bước đầu đi lên chủ nghĩa xã hội. Bằng trải nghiệm thực tiễn
vô cùng phong phú, sinh động ở nhiều nước trên thế giới với các chế độ chính
trị khác nhau và kế thừa truyền thống "dân là gốc" của ông cha ta trong lịch sử
dựng nước và giữ nước, cùng với tiếp thu các giá trị tiến bộ của văn minh nhân
loại, nhất là các quan điểm cách mạng, khoa học của lý luận Mác - Lênin trong
giải quyết mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân. Hồ Chí Minh cùng
với Đảng do Người sáng lập đã rất thành công trong giải quyết mối quan hệ
giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân. Điều đó góp phần quan trọng, có ý nghĩa
quyết định vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã thật sự được
Nhân dân yêu mến, tin cậy và ủng hộ. Do đó, đã làm Cách mạng tháng Tám
(1945) thành công, trở thành Đảng cầm quyền và lãnh đạo cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thắng lợi, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng
dân tộc dân chủ Nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975).
Tuy nhiên, từ khi trở thành Đảng cầm quyền, đặc biệt là trong giai đoạn lãnh
đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi
cả nước, nhiều cấp ủy đảng, chính quyền và nhiều cán bộ, đảng viên có chức,
có quyền đã quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng Nhân dân, làm mất lòng


4
tin, làm giảm sút uy tín của Đảng với Nhân dân. Những sai lầm khuyết điểm
đó, nếu không kiên quyết sửa chữa, lại bị kẻ địch trong và ngoài nước lợi
dụng phá hoại thì sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường đối với sự nghiệp

cũng đã nêu lên thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế của mối quan hệ
giữa Đảng với Nhân dân. Từ đó, đề xuất những giải pháp và phương hướng
nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn; Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân trong thời kỳ
mới của tập thể tác giả do đồng chí Nguyễn Thế Trung, Ủy viên Trung ương
Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương làm chủ biên,
Nxb CTQG, Hà Nội, 2014. Cuốn sách đề cập đến tăng cường và đổi mới sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, từ đó khẳng
định vai trò lãnh đạo và những đổi mới trong lãnh đạo của Đảng đối với công
tác dân vận trong tình hình hiện nay, nhằm củng cố và xây dựng mối quan hệ
mật thiết giữa Đảng và Nhân dân; Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng trong điều kiện một đảng cầm quyền do Hội đồng Lý luận Trung
ương biên soạn năm 2014. Cuốn sách là kết quả Hội thảo lý luận của chương
trình hợp tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn đổi mới giữa hai Đảng,
hai Nhà nước Việt Nam và Lào. Cuốn sách này gồm 11 chuyên đề trong đó có
bàn đến công tác xây dựng Đảng, Nhà nước và về đổi mới phương pháp lãnh
đạo của một Đảng cầm quyền, công tác quần chúng của Đảng.
Một số đề tài khoa học và công trình nghiên cứu có liên quan như: Mối
quan hệ giữa Đảng và Nhân dân trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, Đàm Văn
Thọ, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Triết học, Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996; Dân và mối quan hệ giữa Đảng
cầm quyền với dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Vũ Hùng , Luận án Phó tiến sĩ
khoa học Triết học, Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 1996. Trong đó, các tác giả đã trình bày những luận điểm về
Nhân dân, về Đảng cầm quyền trong mối quan hệ với Nhân dân ở phương Tây


6
và phương Đông, đồng thời chỉ ra những luận điểm cơ bản mà Hồ Chí Minh đã
kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo nó phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt
Nam. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã khái quát được những quan điểm cơ bản

cầm quyền với Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đề cập riêng,
cũng như đi sâu nghiên cứu việc tăng cường mối quan hệ giữa Đảng cầm
quyền với Nhân dân trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Song những công trình nghiên cứu trên đây là những tư liệu rất quý giá giúp
tác giả tiếp thu, kế thừa để hoàn thành khoá luận của mình về "Tăng cường
mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân trong giai đoạn hiện nay
theo tư tưởng Hồ Chí Minh".
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Làm rõ một số khái niệm có liên quan, nội dung, tiêu chí
và thực trạng của mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân theo tư
tưởng Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản tăng cường mối
quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ một số khái niệm có liên quan và phân tích, luận giải những quan
điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân.
- Luận giải một số tiêu chí và đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa
Đảng cầm quyền với Nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản tăng cường mối quan hệ giữa Đảng
cầm quyền với Nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa
Đảng cầm quyền với Nhân dân và việc tăng cường mối quan hệ giữa Đảng
cầm quyền với Nhân dân giai đoạn hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu: Từ năm 2006 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu


8
* Cơ sở lý luận: Khóa luận dựa vào lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

Đảng cầm quyền là một khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các nước
phương Tây ngay khi xã hội bắt đầu hình thành các đảng chính trị. Ở nước Nga
Xô-viết trước đây, V.I.Lênin cũng đã đề cập nhiều vấn đề liên quan đến đảng
cầm quyền. Theo V.I.Lênin, đảng cầm quyền được hiểu là "đảng nắm chính
quyền" bằng những người đại diện của đảng trực tiếp thực hiện công việc quản
lý trong bộ máy Nhà nước. Ông còn cho rằng: "Những cán bộ, đảng viên trong
bộ máy Nhà nước phải hoạt động làm sao bảo đảm vừa với tư cách là người đại
diện cho đảng thực hiện việc tuyên truyền, vận động Nhân dân đi theo đảng, tức
là hoạt động "lãnh đạo", vừa với tư cách là người đại diện cho đảng, đồng thời là
đại biểu của Nhân dân thực hiện công việc quản lý Nhà nước, tức là hoạt động
"cầm quyền" [18, tr.181]. Điều đó cho thấy, đảng cầm quyền là một khái niệm
gắn với quyền lực. Tức đảng có quyền lực chính trị mà cụ thể là ở việc "nắm
chính quyền" hay "nắm quyền lực Nhà nước". Không những thế, theo V.I.Lênin,
khi đảng nắm được chính quyền thì đảng không chỉ có quyền lực chính trị, mà
"với tư cách Nhà nước, còn có thêm được quyền lực kinh tế" [19, tr.75].
* Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền.
Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có những nhận thức về Đảng cầm quyền,
trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người đề cập đến "Đảng Cộng sản cầm
quyền"; trong Di chúc, Người viết "Đảng ta là một Đảng cầm quyền". Quan
điểm của Hồ Chí Minh về "Đảng cầm quyền" mà hạt nhân là sự gắn bó giữa
Đảng với Nhân dân là một tài sản vô giá.
Tuy không nêu rõ khái niệm "Đảng cầm quyền" là như thế nào, nhưng
qua những bài viết, bài nói của Người cho thấy rằng, "Đảng cầm quyền" là


10
khái niệm có những điểm khác với "Đảng lãnh đạo". Đảng cầm quyền là một
khái niệm gắn với quyền lực. Theo Người, Đảng cầm quyền cũng tức là Đảng
nắm chính quyền, nghĩa là Đảng có quyền lực trong thực tế. Tuy nhiên, Đảng
ta là đội tiên phong không chỉ của giai cấp công nhân mà là của cả dân tộc,

lực lượng từ các nhân tố tiên tiến của quần chúng Nhân dân. Đảng tiếp thu trí
tuệ của Nhân dân để định ra đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
Từ cách tiếp cận này và trên cơ sở các quan điểm đề cập ở trên, có thể
rút ra quan niệm: Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng cầm
quyền với Nhân dân là những quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ
giữa Đảng nắm giữ quyền lực chính trị với chủ thể của quyền lực chính trị
nhằm thực hiện thành công mục tiêu xây dựng xã hội mới ở Việt Nam với Nhà
nước kiểu mới của dân, do dân và vì dân.
1.1.2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa
Đảng cầm quyền với Nhân dân
Trên cơ sở quan niệm trình bày ở trên, có thể thấy rằng: Quan hệ giữa
Đảng cầm quyền với Nhân dân là quan hệ xã hội đặc biệt, được hình thành và
phát triển trong điều kiện cách mạng vô sản. Vì vậy, mối quan hệ giữa Đảng
cầm quyền với Nhân dân là một phạm trù lịch sử. Trong mối quan hệ giữa
Đảng cầm quyền với Nhân dân thì Đảng cầm quyền là một thực thể chính trị,
Nhân dân là một thực thể xã hội, không đồng nhất. Giữa hai thực thể đó có
mối quan biện chứng ràng buộc, phụ thuộc, tác động qua lại lẫn nhau.
Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được sự gắn bó giữa Đảng với dân có
cơ sở sâu xa ở sự thống nhất về những lợi ích cǎn bản và mục tiêu lý tưởng
của Đảng chính là phụng sự những lợi ích của giai cấp, của dân tộc. Theo
Người, mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân có sự qui định, ràng
buộc, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, điều đó được thể hiện
trên các nội dung sau:
Thứ nhất, Đảng cầm quyền phải liên hệ, gắn bó mật thiết với Nhân
dân, Đảng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân.
Liên hệ, gắn bó mật thiết với Nhân dân là nguồn gốc chủ yếu tạo nên


12
sức mạnh của Đảng ta, là một trong những điều kiện và nguyên nhân làm cho

điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh, một đóng góp quan trọng vào lý luận xây
dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Luận điểm này đã chỉ rõ cái bản
chất nhất trong mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân.
Nói Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ của dân thì dường
như có cái gì "mâu thuẫn", phi lý, khó chấp nhận? Lãnh đạo và đày tớ, về nhận
thức là hai phạm trù khác nhau và về thực tế có hai đối tượng khác nhau. Lãnh
đạo nói khái quát là việc định hướng mục tiêu nhiệm vụ, đề ra đường lối, chủ
trương, phương pháp tổ chức thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đó. Lãnh đạo chính
là "bàn chỉ nam", là "người cầm lái" - một nhu cầu cần thiết khách quan - của
mọi hoạt động xã hội. Đã có lãnh đạo thì phải có đối tượng lãnh đạo. Trong
mối quan hệ Đảng cầm quyền với Nhân dân, thì đối tượng lãnh đạo của Đảng
chính là quần chúng Nhân dân. Đảng là đày tớ nghĩa là Đảng phải trung thành
và tận tuỵ phục vụ Nhân dân. Trong vai trò của Đảng đối với dân, cái chung
của người lãnh đạo và của người đày tớ là vì dân, phục vụ Nhân dân. Chính vì
vậy mà Hồ Chí Minh đã đồng nhất vai trò Đảng là người lãnh đạo với Đảng là
người đày tớ của dân. Người khẳng định: "Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là
tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở
cấp nào - đều phải là người đày tớ trung thành của Nhân dân" [34, tr.83].
Theo Hồ Chí Minh, Đảng cầm quyền là người lãnh đạo, sẵn sàng vui vẻ
làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của Nhân dân thì chính sách của Đảng
và Chính phủ, các cơ quan và cán bộ của Đảng và Chính phủ từ trên xuống
dưới đều phải có trách nhiệm hết sức chǎm nom đến đời sống của Nhân dân:
Nếu dân đói, dân rét, dân ốm, dân dốt, Đảng và Chính phủ đều có lỗi. Dân
không đủ muối, không có gạo đủ no, không có vải mặc đủ ấm, không có
trường học cho các cháu, Đảng phải lo. Nghĩa là tất cả mọi việc Đảng phải lo,
từ việc lớn đến việc nhỏ, từ đấu tranh thống nhất nước nhà, việc xây dựng chủ
nghĩa xã hội đến cả việc "tương cà mắm muối" của dân, Đảng đều phải lo.
Trong bản Di chúc lịch sử, Hồ Chí Minh đã nói về mối quan hệ giữa Đảng và




15
coi là khuôn phép: "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng" [26,
tr.288]. Quan điểm dựa vào quần chúng của Hồ Chí Minh đòi hỏi toàn bộ hoạt
động của Đảng, phải hướng tới hoạt động của Nhân dân, mà trước hết là hoạt
động lao động sản xuất, đời sống vật chất, tinh thần, ý muốn của quần chúng.
Mặt khác, với cán bộ, đảng viên, Người yêu cầu khi làm bất kỳ việc gì
cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân...,
làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước, lợi ích riêng sau. Phải xuất
phát từ thực tiễn, tôn trọng khách quan. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên
phải phát huy tính chủ động, gương mẫu của mình, phải sâu sát, gần dân, lắng
nghe dân, phải gột bỏ chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, xa rời quần chúng.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, địa vị và vai trò của các tổ chức và
đoàn thể quần chúng ngày càng được củng cố, tǎng cường. Các tổ chức và
đoàn thể quần chúng là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống chính trị,
là khâu quan trọng để củng cố mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân, phát huy
vai trò tích cực của quần chúng Nhân dân vào việc quản lý Nhà nước và các
quá trình xã hội khác. Vì vậy, Đảng phải coi trọng việc xây dựng các tổ chức
đoàn thể và xây dựng Đảng trong các tổ chức đoàn thể quần chúng và các tổ
chức xã hội để tǎng cường củng, cố mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân
thông qua những tổ chức trên.
Chính nhờ đi đúng đường lối quần chúng, biết dựa vào dân nên Đảng ta
được dân tin yêu, chở che và đùm bọc. Vì vậy, Nhân dân đã không tiếc máu
xương và của cải, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng. Do đó, Đảng ta đã
phát động được các cao trào cách mạng, làm nên Cách mạng Tháng Tám
thành công, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân và đưa cả nước
tiến lên chủ nghĩa xã hội; làm cho ý Đảng và lòng dân thống nhất với nhau.
Trong mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân, Hồ Chí Minh
yêu cầu nêu cao vai trò lãnh đạo của Đảng thì mới phát huy được quyền làm
chủ của Nhân dân. Trên thực tế, việc nêu cao vai trò lãnh đạo của Đảng không

vai trò rất quan trọng. Chính cán bộ, đảng viên là dây chuyền của bộ máy, của


17
tổ chức, nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì bộ máy cũng tê liệt. Cán
bộ, đảng viên là những người đem đường lối, nghị quyết, chính sách của
Đảng thực hiện trong Nhân dân. Do vậy, cán bộ, đảng viên phải tin quần
chúng, đi sát quần chúng, hoà mình với quần chúng thành một khối theo quan
điểm của Người là đảng viên đi trước, làng nước theo sau.
Để biến quyết tâm của Đảng thành quyết tâm của toàn dân, Hồ Chí Minh
cǎn dặn cán bộ, đảng viên phải vì lợi ích của Nhân dân mà phục vụ, và trước
mỗi công việc muốn được dân đồng tình ủng hộ phải tìm cách giải thích cho
dân hiểu. Người dạy: "Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất
tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khǎn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ
cũng không sợ. Nhưng trước hết cần phải chịu khó tìm đủ cách giải thích cho
họ hiểu rằng: những việc đó là vì ích cho họ mà phải làm" [26, tr.286]. Từ đó
mà sáng tạo những phương thức, cách thức hành động để đạt hiệu quả cao nhất
trong việc đưa đường lối của Đảng vào quần chúng Nhân dân. Tuy nhiên việc
tuyên truyền vận động phải hợp với trình độ vǎn hoá, thói quen sinh hoạt, trình
độ, kinh nghiệm, tình hình thực tế của quần chúng. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh
cách tổ chức và cách làm việc không phù hợp với quần chúng thì ta phải có gan
đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Phải kiên quyết tẩy bỏ bệnh quan liêu
xa rời Nhân dân, xa rời thực tiễn. Đó là cǎn bệnh "không chịu khó hỏi quần
chúng cần cái gì, muốn theo muốn biết cái gì, ham chuộng cái gì. Chỉ mấy cán
bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái
mình làm là đúng, mình viết là hay ho. Kết quả là "đem râu ông nọ chắp cằm
bà kia", không ǎn thua, không thấm thía, không ích lợi gì cả" [26, tr.287].
Theo Hồ Chí Minh, nguyên tắc cao nhất trong chỉ đạo thực tiễn, trong
triển khai đường lối chính sách của Đảng là phải luôn luôn do nơi quần chúng
kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không. Mặt khác, khi đã

viên dễ quên đi lý tưởng của mình, dễ khoác lên cái mác "quan cách mạng"...
Thực tiễn cho thấy, trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhiều thói hư, tật xấu đã
nảy sinh trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức, có quyền


19
như: cậy quyền, cậy thế, hủ hoá, chia rẽ, kiêu ngạo... và Người gọi đó là
những "lỗi lầm rất nặng nề". Những lỗi lầm đó rất nguy hiểm vì nó phá hoại
ta từ bên trong. Do đó, theo Người, Đảng phải luôn luôn nhắc nhở, rèn luyện
phẩm chất người đảng viên cộng sản, phải đấu tranh với kẻ địch nguy hiểm
nhất là "chủ nghĩa cá nhân" - nguyên nhân chính của những thói hư tật xấu
trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn
luyện đạo đức cách mạng; nâng cao tinh thần phục vụ dân, yêu kính dân, biết
dựa vào quần chúng thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước,
khiêm tốn, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, thật thà ngay thẳng, đặc biệt
là phải luôn luôn tôn trọng quyền làm chủ của Nhân dân. Người đòi hỏi từ
Trung ương tới làng, xã phải thực sự gương mẫu, thật sự trong sạch; phải vì
Nhân dân mà phục vụ theo một nguyên tắc nhất quán là: "Việc gì lợi cho dân,
ta phải hết sức làm; Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh" [25, tr.65].
Hồ Chí Minh không những sớm nhìn thấy những vấn đề chung của một
bộ máy quyền lực "tách khỏi dân, đứng trên dân" trong điều kiện Đảng cầm
quyền, mà Người còn thấy trước cả những vấn đề phức tạp của một nước nông
nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, manh mún đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong điều
kiện như vậy, không chỉ có vấn đề cán bộ, đảng viên dễ sa vào chủ nghĩa quan
liêu, xa dân, đứng trên đầu dân, ức hiếp dân, mà còn đẻ ra hàng loạt những tệ
nạn khác như tham ô, lãng phí, hủ hoá, bè phái địa phương, cục bộ... Tất cả
những thứ đó gộp lại như một thứ "giặc nội xâm" làm ruỗng nát bộ máy của
Đảng và Nhà nước. Vì vậy, Người kêu gọi mọi cán bộ, đảng viên trong bộ máy
Đảng và Nhà nước phải thực sự cùng Nhân dân chống trả tích cực những cǎn
bệnh trên, mà trước hết và chủ yếu là bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí.

nhiều vấn đề đáng lo ngại đó là uy tín của Đảng trước Nhân dân có xu hướng
giảm sút, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng chưa thật sự vững chắc; điều
này không chỉ đáng lo ngại cho Đảng mà còn đối với cả chế độ mà chúng ta
đã lựa chọn... (điều này được đề cập cụ thể ở tiết 2.1. Chương 2).
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền,
dân tộc, tôn giáo... để chống phá, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân
dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng đưa ra các luận điệu, quan điểm
sai trái, vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng


23
Cộng sản Việt Nam, phủ nhận nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; phá hoại ý thức chính trị, làm cho cán bộ, đảng viên mất niềm tin
vào lý tưởng và mục tiêu chiến đấu, làm suy yếu sức mạnh tư tưởng, tinh thần
của Đảng. Chúng triệt để lợi dụng sự mở cửa hội nhập quốc tế để tuyên
truyền "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thúc đẩy hình thành tư tưởng, tâm lý
sống thực dụng, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân suy thoái về
chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống. Những luận điệu, quan điểm trên của
các thế lực thù địch tiến hành với nhiều phương thức hết sức tinh vi, thâm độc
và xảo quyệt vừa lén lút, vừa công khai, thách thức đã và đang tác động
không nhỏ đến nhận thức tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, Nhân dân
đối với mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân.
Các vấn đề trên đặt ra những yêu cầu cấp thiết hiện nay trong tăng cường
mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.2.2. Tiêu chí đánh giá việc tăng cường mối quan
hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân theo tư tưởng
Hồ Chí Minh
Trên cơ sở các nội dung đề cập ở trên, để đánh giá việc tăng cường mối
quan hệ giữa Đảng cầm quyền và Nhân dân trong giai đoạn hiện nay có thể
căn cứ vào những tiêu chí cơ bản sau:

thiết tới đời sống Nhân dân, tới mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân không
những phải được lấy ý kiến của Nhân dân mà còn phải được cụ thể hóa, thể
chế hóa thành những chiến lược, chương trình, kế hoạch, chế độ, chính sách
của Nhà nước và những qui định cụ thể của pháp luật. Những chương trình,
kế hoạch, chế độ, chính sách, pháp luật đó có thực sự hướng vào việc phát
huy quyền làm chủ của Nhân dân, chăm lo lợi ích vật chất, tinh thần của Nhân
dân, bảo đảm các quyền dân sinh, dân chủ và nâng cao dân trí, tạo điểu kiện
thuận lợi để các tầng lớp Nhân dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần hay không?... Đó là thước đo quan trọng đánh giá sự quan tâm
và mức độ chăm lo của Đảng, Nhà nước đối với Nhân dân.
Hai là, mức độ gần dân, sát dân của các tổ chức đảng và đội ngũ cán
bộ, đảng viên.


25
Có thể khẳng định, các tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, hạt
nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng cầm quyền với Nhân dân. Ở đâu
có quần chúng, ở đó cần có sự lãnh đạo của Đảng và thành lập tổ chức đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt
nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với
quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng" [35,
tr.28]. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn luôn liên hệ chặt chẽ với quần
chúng, nhất là phải gương mẫu cho mọi người noi theo trong mọi mặt công
tác và trong đời sống. Nếu không như vậy, thì chẳng những cán bộ, đảng viên
không lãnh đạo được dân chúng mà còn không học được dân chúng, chẳng
những không nâng cao được nhận thức cho dân chúng, mà cũng không biết ý
kiến của dân chúng.
Tiêu chí này còn được thể hiện ở trong Điều lệ Đảng, cụ thể ở khoản 4,
Điều 23 quy định: Tổ chức cơ sở đảng có nhiệm vụ: Liên hệ mật thiết với
Nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng

chủ của Nhân dân nói chung, quyền công dân nói riêng đã được Hiến pháp
quy định, trong đó có những quyền cơ bản sau đây:
Quyền được thông tin (dân được biết). Quyền này đã được nêu cụ thể
trong Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn. Để đánh giá quyền làm chủ của Nhân dân có được tôn
trọng và phát huy hay không, có thể căn cứ vào các nội dung, phạm vi vấn
đề, hình thức, phương pháp mà các cơ quan có trách nhiệm thông tin cho
Nhân dân biết.
Quyền được nói lên ý kiến của mình (dân được bàn). Quyền này đòi hỏi
người dân được tham gia thảo luận, bàn bạc và quyết định các công việc liên
quan đến đời sống của Nhân dân. Người dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo
với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ
quan Nhà nước, tổ chức kinh tế - xã hội...
Quyền được lao động, sản xuất, kinh doanh (dân được làm) theo qui
định của pháp luật. Nhu cầu, lợi ích của Nhân dân rất đa dạng, phong phú,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status