Công tác cán bộ của đảng bộ tỉnh .. trong giai đoạn hiện nay khóa luận tốt nghiệp ngành chính trị học - Pdf 44

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào luôn
coi trọng công tác cán bộ, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng vững
mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong các giai đoạn cách mạng của
Đảng, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, vững
bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược quan
trọng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khởi
xướng và lãnh đạo từ Đại hội III đến nay, việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ
ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng.
Hiện nay, Đảng và nhân dân các bộ tộc Lào đang tiến hành đổi mới đất
nước, chuyển từ nền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp sang từng bước đẩy
mạnh sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
mở rộng quan hệ quốc tế với các nước trên thế giới. Công cuộc đổi mới đất
nước được tiến hành trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có cả
thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức, chứa đựng những yếu tố bất trắc
khó lường. Điều đó đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Nước Cộng
hoà Dân chủ Nhân dân Lào những nhiệm vụ hết sức nặng nề, đòi hỏi Đảng
Nhân dân cách mạng Lào phải có tầm nhìn sáng suốt để ra đường lối cách
mạng đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi. Để đạt được điều đó, yếu tố
quyết định là công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm, đáp ứng
đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đất nước, trong đó khâu quan trọng là nâng cao
chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ.
Công tác cán bộ của các Đảng bộ và chính quyền ở Lào là sự hoạt động
có định hướng của Đảng nhằm xác lập, phát triển tuyển dụng, bộ trí cán bộ,
xây dựng niềm tin và định hướng giá trị đúng đắn, góp phần xây dựng thế giới
quan khoa học, tư tưởng, tình cảm, nhân cách, lối sống tri thức để đảm bảo



3

Từ những kiến thức lý luận được học tập và nghiên cứu tại Học viện
Báo chí và Tuyên truyền, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn về đổi mới, chỉnh đốn
và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nhất là công tác
cán bộ của Đảng trong tình hình hiện nay, tác giả lựa chọn đề tài “ Công tác
cán bộ của Đảng bộ tỉnh Xiêng Khoảng nước Cộng hòa Dân chủ Nhân
dân Lào trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học
ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu.
Trong thời gian qua có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa
học Việt Nam và các nhà khoa học Lào liên quan tới đề tài công tác cán bộ
được công bố trên các sách, báo mạng, tạp chí khoa học chuyên ngành. Đây
chính là một cơ sở thuận lợi để khóa luận tiến hành nghiên cứu, trong đó có
một số tài liệu được viết bằng tiếng Việt như:
- Đăm Đi Năn Tha Vông (2002), Xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh
Xiêng Khoảng Nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào.
- Bun Lư Sổm Sắc Đi (2004), Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp tỉnh khu
vực phía Bắc của nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào.
- Sĩ Phon Ma la Vông (2010), Luân chuyển cán bộ tỉnh uỷ của tỉnh
Xiêng Khoảng Nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào.
Một số tài liệu bằng tiếng Lào như các báo cáo của Trung ương và của
tỉnh Xiêng Khoảng như:
- Bài tổng kết của Ban tổ chức Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng
Lào. Năm 2006.
- Bài tổng kết của Ban tổ chức Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng
Lào. Năm 2007.
- Bài tổng kết của Ban tổ chức Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng
Lào. Năm 2008.




5

Khóa luận được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, quan điểm Chủ tịch Cay
xỏn Phôm Vi Hản về công tác cán bộ của Đảng bộ.
* Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp –
diễn dịch, ....
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
khóa luận gồm 3 chương, 8 tiết


6

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ

1.1. Quan niệm về cán bộ và công tác cán bộ
1.1.1. Quan niệm về cán bộ
Khái niệm “cán bộ” được sử dụng rất rộng rãi trong tổ chức và hoạt
động lãnh đạo của các đảng cộng sản và ở các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả ở
Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay.
Trong Từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 1993, thuật ngữ cán bộ được
hiểu theo 2 nghĩa:
Một là, người làm công tác nghiệp vụ có chuyên môn trong cơ quan
Nhà nước, đơn vị Đảng và đoàn thể. Theo nghĩa này, cán bộ không chỉ là

trị và là người giữ chức vụ trong các tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị.
Ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, thuật ngữ “cán bộ” xuất hiện
trong đời sống xã hội của Lào từ khi phong trào cách mạng Lào có tổ chức
đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, nó được dùng làm tên
gọi cho những người đi làm cách mạng mà nhân dân hay gọi những người đó là
cán bộ Lào ít-xa-la và được sử dụng rất nhiều ở vùng giải phóng của Mặt trận
Lào yêu nước. Trong Báo cáo của Tổng bí thư Kay Sỏn Phôm Vi Hản trước
Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào ngày 22 tháng 03 năm 1955 (Đảng Nhân
dân Cách mạng Lào hiện nay), từ cán bộ đã ghi vào trong chính sách cơ bản và
chương trình hành động trước mắt của Đảng như sau: Tích cực đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, trước hết phải quan tâm cán bộ là công nhân - nông dân,
dân tộc ít người.
Sau ngày giải phóng giành được độc lập hoàn toàn trên cả nước, chính
quyền về tay nhân dân, thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào ngày
02 tháng 12 năm 1975, từ đó Đảng trở thành Đảng cầm quyền, từ cán bộ được
sử dụng một cách phổ biến trên cả nước và dường như thay hoàn toàn cho từ
“viên chức” đã được gọi trong chế độ bù nhìn Viêng Chăn. Kể từ đó đến nay,
trong xã hội đã hiểu danh từ cán bộ là danh xưng cho tất cả những người làm


8

việc trong bộ máy cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận, các tổ chức đoàn thể
chính trị - xã hội, các nhà máy, xí nghiệp Nhà nước, lực lượng vũ trang. Cách
hiểu như thế xuất phát từ chỗ, các đối tượng này có điểm chung là những
người được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, theo Từ điển tiếng Lào, xuất bản
năm 1986, cán bộ cũng đồng nghĩa với công chức, nhà chức trách [19, tr.356].
Ngày 19/5/2003, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ nhân
dân (CHDCND) Lào đã ra Sắc lệnh số 82/CP về Quy chế cán bộ, viên chức

phải dùng cán bộ cho khéo”. Người viết: “Khi cân nhắc cán bộ phải xét rõ
người đó có gần gũi quần chúng, có được quần chúng tin cậy mến phục hay
không”, nghĩa là phải xem xét uy tín cán bộ trước quần chúng đến mức độ
nào và phải xem người ấy xứng đáng với việc gì. “Nếu người có tài mà dùng
không đúng tài của họ, cũng không được việc”, “nếu cân nhắc không cẩn
thận không khỏi đem người chỉ nói mà không làm vào những địa vị lãnh đạo,
như thế rất có hại”. Người phê phán “thường chúng ta không biết tuỳ tài mà
dùng người”, “thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao, thành
thử hai người đều lúng túng”. Người chỉ ra tác dụng của việc bố trí sử dụng
đúng người, đúng việc “nếu biết tùy tài mà dùng người” thì sẽ thành công.
Song song với việc chỉ ra tầm quan trọng của việc sử dụng đúng người,
đúng việc, đúng chỗ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: Cân nhắc và khéo
dùng cán bộ, dùng đúng cán bộ là trách nhiệm của các cấp lãnh đạo, bởi vì
không đánh giá, sử dụng đúng cán bộ sẽ dẫn đến sự lãng phí nhân tài là sự
lãng phí lớn nhất của đất nước. “Lãnh đạo khéo thì tài nhỏ có thể hoá ra tài
to. Lãnh đạo không khéo thì tài to hoá ra tài nhỏ”, “cân nhắc cán bộ, phải vì
công tác tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế công
việc nhất định chạy”, “nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang nhất
định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế có tội với
Đảng, có tội với đồng bào”.
Để cân nhắc, sử dụng đúng người, đúng việc, đúng chỗ, đúng lúc, theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh phải có quan điểm và phương pháp đánh giá đúng.


10

Người chỉ ra rằng phải có lòng độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ
một cách chí công vô tư không có thành kiến, khiến cán bộ không bị bỏ rơi.
Người cho rằng: “Trong thế giới cái gì cũng biến hoá, không nên đem một cái
khuôn khổ nhất định mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau, quá khứ, hiện

Cán bộ có vai trò quan trọng quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách
mạng của giai cấp công nhân. Bởi vì, cán bộ của Đảng là người góp phần tích
cực trong quá trình xây dựng, giữ gìn, cụ thể hoá, phát triển và tổ chức thực
hiện thắng lợi đường lối chính sách của Đảng.
Trong lịch sử đã chứng minh, mỗi thời đại xã hội đều cần có con người
vĩ đại và không có con người như thế thì thời đại sẽ sáng tạo ra họ. Ngay từ
ngày đầu thành lập Đảng, V.I.Lênin rất coi trọng đến vai trò của cán bộ.
Người khẳng định: “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được
quyền thống trị nếu không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những
lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh
đạo phong trào" [20, tr.473]. Những con người sử dụng sức mạnh thực tiễn,
những lãnh tụ, đó là đội ngũ cán bộ của Đảng. Để có đội ngũ cán bộ phải tiến
hành xây dựng, nếu không Đảng không thể nào thể hiện và thực hiện được
những tư tưởng, không thể tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng của
quần chúng và không thể thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng. Nói cách
khác, cán bộ là rường cột của Đảng, của Nhà nước và các tổ chức đoàn thể
nhân dân. Bất cứ chế độ nào, mọi việc thành hay bại là ở công tác cán bộ.
Điều đó nói lên vai trò đặc biệt của cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ.
V.I.Lênin chỉ rõ, muốn lật đổ chế độ Nga hoàng giành chính quyền phải
có đội ngũ “những nhà lãnh đạo chuyên nghiệp”. Ngay từ ngày đầu thành lập
Đảng, V.I.Lênin đã rất coi trọng công tác cán bộ, người chỉ đạo tổ chức đào
tạo, bồi dưỡng. Cách mạng tháng Mười Nga không thể thành công nếu công
tác cán bộ không được xây dựng tốt. Khi có chính quyền thì yêu cầu đầu tiên
là phải lựa chọn, xây dựng, bố trí đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Cán bộ có vai trò rất quan trọng với tổ chức, tổ chức mạnh sẽ duy trì
được phong trào cách mạng, tổ chức sẽ thu hút được đông đảo quần chúng


12

14

chăm lo xây dựng được một đội ngũ cán bộ tận trung với nước, tận hiếu với
dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ qua các thời kỳ cách mạng. Khi công
cuộc đổi mới do Đảng NDCM Lào khởi xướng và lãnh đạo càng đi vào chiều
sâu càng đặt ra những yêu cầu bức thiết phải xây dựng một đội ngũ cán bộ
đáp ứng được những yêu cầu mới.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1986) của Đảng là một bước
ngoặt có ý nghĩa chiến lược đối với quá trình phát triển của cách mạng Lào, là
Đại hội đề ra công cuộc đổi mới của đất nước. Đảng đã nghiêm túc tự phê
bình những sai lầm khuyết điểm, rút ra bài học kinh nghiệm và đề ra đường
lối đổi mới toàn diện trong đó có vấn đề cán bộ và công tác cán bộ. Đảng coi
cán bộ và công tác cán bộ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm nên
những thành tựu đã đạt được cũng như những tồn tại, yếu kém. Đại hội đã
nhấn mạnh: “Phải đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng
nhất mà Đảng phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa
cách mạng”.
Tại Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ V (1991) đã khẳng
định: Tiếp tục đổi mới cán bộ và công tác cán bộ, xây dựng cho được một đội
ngũ cán bộ vững mạnh và đồng bộ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
Để ngày càng đáp ứng được nhiệm vụ chính trị, Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI (1996) tiếp tục khẳng định: “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn
diện về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng
lực thực tiễn. Quan tâm đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý,
các nhà doanh nghiệp và các chuyên gia, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ
chốt trong hệ thống chính trị. Coi trọng cả đức và tài, trong đó đức là gốc”.
Trên tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và tổng
kết công tác cán bộ trong những năm đổi mới, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp
hành Trung ương Đảng (khoá VI) đã đề ra Nghị quyết: Về chiến lược cán bộ


của cán bộ.
- Điều động, luân chuyển cán bộ là tạo điều kiện để rèn luyện, tu
dưỡng, thử thách cán bộ, nhất là cán bộ trẻ có triển vọng, giúp cán bộ trưởng


16

thành nhanh, vững vàng và toàn diện hơn, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu
dài của toàn bộ hệ thống chính trị, của cán cấp các ngành...
- Lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ là nắm tình hình, tìm kiếm những người
có đủ phẩm chất, năng lực để bố trí, sử dụng cán bộ phục vụ việc xây dựng,
củng cố tổ chức vững mạnh.
- Chế độ, chính sách đối với cán bộ cũng là khâu rất quan trọng trong
công tác cán bộ, tạo điều kiện để cán bộ yên tâm công tác.
- Quản lý cán bộ là hoạt động chủ động, thường xuyên có mục đích của
cơ quan quản lý cán bộ, của cấp có thẩm quyền tác động có định hướng vào
đội ngũ cán bộ, nhằm rèn luyện, bồi dưỡng phát huy khả năng của đội ngũ
cán bộ và từng cán bộ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
Các nội dung của công tác cán bộ là một thể thống nhất, có quan hệ mật
thiết, chặt chẽ với nhau, tác động, thúc đẩy lẫn nhau. Thực hiện tốt nội dung
này sẽ là tiền đề và cơ sở để thực hiện tốt các nội dung khác. Trong các nội
dung của công tác cán bộ, mỗi nội dung có vai trò, vị trí quan trọng khác
nhau, nên không được tuyệt đối hóa hay coi nhẹ bất cứ nội dung nào.
Những năm gần đây, tình hình chính trị, kinh tế thế giới và khu vực có
nhiều biến đổi nhanh chóng, phức tạp. Với sự phát triển như vũ bão của khoa
học - công nghệ, sự giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng và gia tăng, các nước
đang phát triển có điều kiện rất thuận lợi để có thể rút ngắn quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong điều kiện mở cửa, chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế phải trao đổi và học tập, áp dụng kinh nghiệm tốt của các nước
phát triển trên thế giới và trong khu vực, phù hợp với điều kiện thực tế ở Lào,

Lào, phía Bắc giáp tỉnh Hủa Phăn, phía Tây giáp tỉnh Luông Phạ Bang, phía
Nam giáp với tỉnh Viêng Chăn và tỉnh Bo Ly Khăm Xay, phía Đông Bắc giáp
tỉnh Nghệ An (Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Tỉnh có đường biên giới
dài 164 km2, có một cửa khẩu quốc gia Nằm Cắn (thuộc huyện Nóng Hét).
Toàn tỉnh có 8 huyện, 564 bản, có 39.771 hộ dân; dân số 258.742 người, trong
đó có 123.478 nữ. Dân số trong tỉnh thuộc các bộ tộc lớn như: Lào Lùm
44,5%; Lào Thâng 8,1%; Lào Xủng 38,4%; Tày 5%; Phóng 2,4%; và dân tộc
khác 1,6%.
Điều kiện tự nhiên của tỉnh thuận lợi cho phát triển nền kinh tế, có núi,
rừng, sông, đồng cỏ tự nhiên, có diện tích trồng trọt và chăn nuôi khá lớn, có
khả năng nuôi trâu, bò, dê, lợn và trồng cây nông nghiệp.
Tỉnh có nguồn tài nguyên phong phú như: Mỏ sắt, than đá, vàng (Phu
Bia), đồng (Phu Sắn), tuy nhiên các tài nguyên đó đang được các công ty
nước ngoài như Trung Quốc và Úc khai khác.
Tỉnh có đường quốc lộ số 7 qua tỉnh từ phía Tây Nam sang phía Đông, từ
tỉnh Luông Phạ Bang qua các huyện và thị xã Phôn Xã Văn, kéo dài đến cửa
khẩu Nằm Cắn vào tỉnh Nghệ An (Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Với
chiều dài 269 km2, Quốc lộ 7 rất thuận lợi cho giao thông vận tải và thương
mại trong và ngoài nước và là cầu nối giữa các tỉnh trong cả nước và nước
ngoài (Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Ngoài ra tỉnh còn có đường số


19

6, từ huyện Khăm đến biên giới tỉnh Hủa Phăn có chiều dài 96 km 2 và các con
đường khác của địa phương, thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế trong tỉnh và
các tỉnh trong nước.
Trong tỉnh có nhiều vùng du lịch tự nhiên và văn hoá cổ xưa như cánh đồng
Trum thuộc huyện Péch thị xã Phôn Sạ Vắn 7 km2, hồ nước Nóng Tằng thuộc
huyện Mương Khăm cách thị xã Phôn Sạ Vắn 65 km2, đây là một khu du lịch

– 2010 có đất làm ruộng 29.211 ha, thu nhập được 104. 694 tấn; đất vụ chiếm
49 ha, thu nhập 164 tấn; đất trồng ngô 23.487 ha, bằng 115.235 tấn.
Về thương mại, du lịch, vận tải, điện lực, bưu điện và cơ sở hạ tầng có
bước chuyển biến tốt đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống. Ngoài buôn
bán giao lưu lượng hàng hoá trong tỉnh, còn có hàng hoá xuất khẩu chủ yếu là
ngô, gỗ, trị giá 6.911USD, tăng 87,96% so với năm 2008, phần lớn là xuất
khẩu sang Việt Nam và Trung Quốc; nhập khẩu trong nước trị giá 13.738 triệu
USD, tăng 78,80% so với năm 2008, chủ yếu là hàng hoá công nghiệp, máy
móc phục vụ nông nghiệp, vật tiệu xây dựng và phụ tùng phương tiện.
Sản xuất nông nghiệp, tuy gặp khó khăn về giá cả, dịch bệnh nhưng cũng
đã phát triển tương đổi toàn diện, cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển đổi đa
dạng, tăng tích luỹ nội bộ ngành; trồng trọt phát triển theo hướng sản xuất
hàng hoá gắn với thị trường; chăn nuôi đã có bước phát triển các vùng chuyên
canh theo hướng công nghiệp, quy mô lớn, tập trung; sản xuất lâm nghiệp
đang chuyển dần theo hướng xã hội hoá.
Các ngành dịch vụ thương mại tiếp tục phát triển theo hướng thị trường
hàng hoá, phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng được mở rộng, đáp ứng được
nhu cầu mua và bán của nhân dân; các loại hình giao dịch thương mại văn
minh, hiện đại đang hình thành và phát triển.
Tuy nhiên, đến nay tỉnh Xiêng Khoảng vẫn là một trong các tỉnh chậm
phát triển: kinh tế phát triển chưa vững chắc, mức tăng trưởng còn thấp so với
khu vực và chưa tương xứng với tiềm năng. Sức cạnh tranh của nền kinh tế


21

còn yếu, doanh nghiệp còn nhỏ bé, khả năng hội nhập kinh tế quốc tế còn
thấp; cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng chưa theo kịp như phát triển kinh tế - xã
hội. Một số vấn đề y tế, giáo dục, văn hoá, xã hội, môi trường còn bất cập.
* Về chính trị - xã hội.

* Về văn hoá - xã hội, thể dục thể thao
Xiêng Khoảng là một tỉnh bị chiến tranh tàn phá nhiều nhất so với các
tỉnh trong nước, hầu hết các công trình kiến trúc cổ xưa về văn hoá bị tàn phá.
Tuy nhiên, tỉnh Xiêng Khoảng có nhiều địa danh đặc sắc về văn hoá trên cả
nước như: Lăm Phuôn, Phon Bắng Phay. Tỉnh là một trong những địa phương
có truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng, truyền thống của cư
dân nông nghiệp trồng lúa nước và chăn nuôi.
* Về an ninh quốc phòng
Xiêng Khoảng là một địa bàn chiến lược của Vàng Pao, một lực lượng
đặc biệt của đế quốc Mỹ trước giải phóng, cho nên tỉnh Xiêng Khoảng là
trọng điểm về an ninh quốc phòng. Từ khi giải phóng đến nay, tỉnh thường
xuyên và trực tiếp bị tác động của tình hình khá phức tạp do hoạt động của
bọn phỉ trong tỉnh, bọn phản động quốc tế và phản động Lào lưu vong ở ngoài
nước chống phá cách mạng. Trong những năm qua tình hình bên trong tuy có
bước phát triển có lợi nhưng chưa vững chắc, còn nhiều yếu tố có thể gây mất
ổn định về chính trị.
* Về mặt tâm lý và tín ngưỡng
Qua khảo sát thực tế cư dân của tỉnh Xiêng Khoảng và các huyện trong
tỉnh có thể chia cư dân làm hai bộ phận, cư dân tại chỗ và cư dân mới đến.
Cư dân tại chỗ bao gồm cư dân các bộ tộc đã cư trú ở vùng sâu, vùng xa
hàng trăm năm, thuộc 3 thành phần lớn, Lào Lùm, Lào Thâng, Lào Sủng.
Các bộ tộc có hàng chục nhóm địa phương khác nhau. Đặc điểm có bản của
nhóm cư dân này là dựa trên nền tảng của công xã nông thôn mang nhiều tính
chất cổ truyền, sản xuất tự nhiên, tự cung, tự cấp, công cụ thô sơ, kỹ thuật lạc
hậu, phân công lao động chưa phát triển.


23

Cư dân mới đến bao gồm cư dân thành thị và cư dân của tỉnh khác di cư

- Nam là: 3.750 người, chiếm đến 58,08% của cán bộ, công chức toàn Tỉnh.
- Nữ là: 2.706 người, chiếm 41,92% cán bộ, công chức toàn Tỉnh.
Cán bộ ở các cơ quan sở và cơ quan tương đương sở có 5.181 người,
nữ chiếm 2.099 người; còn lại cán bộ, công chức các tổ chức chính trị - xã hội
hoặc tổ chức quần chúng là 1.275 người, nữ chiếm 607 người.
Như vậy, tỷ lệ cán bộ, công chức nam giới vẫn còn chiếm tỷ lệ cao hơn
so với nữ giới, điều này sẽ dẫn đến sự hạn chế trong những chính sách dành
cho nữ giới, đồng thời cũng cho thấy sự hạn chế trong việc sử dụng tài năng
của nữ giới cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước nói chung và góp
phần xây dựng tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng.
Do có sự chênh lệch tỷ lệ về giới như vậy nên trong thời gian qua Đảng
và Nhà nước Lào nói chung và tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng luôn quan tâm,
tạo điều kiện ưu tiên nhất định cho nữ giới. Hiện tại, Nhà nước đang có chủ
trương cân bằng trong sử dụng và đào tạo cán bộ, công chức nam và nữ, nhằm
tạo điều kiện cho nữ có thể có cơ hội phát triển tài năng, có thể khẳng định
được năng lực của bản thân mình. Tuy nhiên, trong thực tế vấn đề đào tạo, bồi
dưỡng trình độ cán bộ, công chức nữ còn gặp nhiều khó khăn bởi nhiều
nguyên nhân như: đối với nữ phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh gia đình, vào
tinh thần và ý chí của bản thân... Vì những lý do đó mà từ trước đến nay cán
bộ, công chức nam giới và nữ giới vẫn có sự chênh lệch nhau cả về số lượng
và chất lượng...
2.2. Những thành tựu, hạn chế trong công tác cán bộ của Đảng bộ
tỉnh Xiêng Khoảng
2.2.1. Những thành tựu và nguyên nhân
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
luôn quan tâm đến công tác cán bộ và xác định việc xây dựng đội ngũ cán bộ
có đức, có tài là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành


25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status