1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một thực trạng của quá trình phát triển kinh tế và hiện
hữu trong cuộc sống như một yếu tố lịch sử. Nó có thể sinh ra, tồn tại, phát
triển và cũng có thể mất đi ở mỗi con người, mỗi quốc gia hay mỗi xã hội.
Đói nghèo hiện vẫn đang tồn tại, bao vây cuộc sống của mỗi gia đình,
đe dọa con đường phát triển của mỗi quốc gia, thách thức cả nhân loại. Có thể
nói, đói nghèo đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với mức độ khác
nhau, đặc biệt ở các nước lạc hậu, chậm phát triển.
Với hơn 50% dân số thế giới hiện nay đang phải sống dưới mức 2 USD
một ngày, việc xóa đói, giảm nghèo đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu, là
mục tiêu của thế kỷ XXI và thế giới đã lấy ngày 17 tháng 10 hằng năm là
"Ngày thế giới xóa đói, giảm nghèo".
Hồ Chủ tịch là người đã tìm ra đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc
theo con đường cách mạng vô sản, chấm dứt sự khủng hoảng đường lối cứu
nước, mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc - thời đại Hồ Chí Minh.
Chính Người đã khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nông
nghiệp lạc hậu, chưa kinh qua chủ nghĩa tư bản, bị chiến tranh tàn phá, từng
bước làm cho "nghèo trở nên đủ, đủ trở nên giàu, giàu thì giàu thêm" [33, tr. 62]
để đi tới một xã hội dân giàu, nước mạnh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn luôn chăm lo đến đời sống nhân
dân và đặc biệt chú ý đến vấn đề đói nghèo. Có thể khẳng định rằng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh là người kiến lập và đặt nền móng tư tưởng vĩ đại "xóa đói,
giảm nghèo". Xóa đói, giảm nghèo là mục đích, một nội dung, một phương
hướng chiến lược lâu dài của chủ nghĩa xã hội, nó không phải là công việc
cứu tế, là sự ban ơn, mà là một cuộc cách mạng vĩ đại, bền bỉ, tận tâm, tận trí,
trợ cấp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo,
3
hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức
sống một cách bền vững; kết hợp chính sách nhà nước với sự giúp
đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá
giả cho người nghèo, hộ nghèo nhất là đối với vùng đặc biệt khó
khăn. Ngăn chặn tình trạng tái nghèo [19, tr. 217].
Qua hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới, công tác xóa đói,
giảm nghèo đã được xã hội hóa, thu hút được sự tham gia của mọi cấp, mọi
ngành, của đông đảo mọi tầng lớp nhân dân. Thành tựu xóa đói, giảm nghèo của
Việt Nam đã được thế giới đánh giá cao. Tuy nhiên, công cuộc xóa đói, giảm
nghèo ở nước ta hiện đang phải đối mặt với những khó khăn và thử thách lớn.
Thu nhập và mức chi dùng bình quân đầu người thấp; khoảng cách chênh lệch
giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền có xu hướng
tăng; tỷ lệ hộ dân tái nghèo còn lớn, xóa đói, giảm nghèo thiếu tính bền vững.
Nghệ An là tỉnh nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, giáp tỉnh
Thanh Hóa về phía Bắc, tỉnh Hà Tĩnh về phía Nam, nước Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào về phía Tây và phía Đông giáp biển Đông. Với diện tích 16.487 km 2,
Nghệ An chiếm 5,1% diện tích tự nhiên của cả nước. Về dân số, Nghệ An là
địa phương đông dân thứ tư của Việt Nam với trên 3,1 triệu người. Mật độ dân
số 184 người/km2. Với 11/20 huyện, thị thuộc khu vực miền núi và núi cao, Nghệ
An là một tỉnh nghèo, có tỷ lệ hộ nghèo cao so với bình quân chung cả nước.
Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An rất quan tâm
đến công tác xóa đói, giảm nghèo, thực hiện nhiều chính sách, dự án xóa đói,
giảm nghèo và đã mang lại hiệu quả tích cực. Các chương trình, dự án phát
triển kinh tế - xã hội gắn với giảm nghèo trên địa bàn phát huy tốt, tạo điều
kiện thuận lợi cho hộ nghèo, xã nghèo vươn lên.
Xã hội làm chủ trì:
- Đói nghèo ở Việt Nam (Hà Nội, 1993);
- Nhận diện đói nghèo ở nước ta (Hà Nội, 1993);
- Xóa đói, giảm nghèo (Hà Nội, 1996);
5
Các đề tài khoa học trên đã cung cấp thông tin tổng quát về tình hình
đói nghèo ở Việt Nam, về tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo, về chuẩn nghèo, từ
đó đưa ra một số quan điểm, giải pháp nhằm xóa đói, giảm nghèo ở nước ta.
Về các luận văn, luận án:
- Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Thị Hằng: Vấn đề giảm nghèo trong
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, 2001;
- Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Đình Đàn: Những giải pháp kinh tế xã hội chủ yếu nhằm xóa đói, giảm nghèo ở Hà Tĩnh, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002;
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Lô Xuân Vinh: Những giải pháp cơ bản
nhằm góp phần xóa đói, giảm nghèo ở các huyện miền núi vùng cao tỉnh
Nghệ An, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1999;
- Luận văn cao cấp lý luận chính trị của Vi Văn Vân: Xóa đói, giảm
nghèo ở vùng các dân tộc thiểu số huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004;
Các luận án, luận văn nêu trên đã đánh giá khá đầy đủ về thực trạng
nghèo đói ở Việt Nam cũng như ở một số địa phương, trên cơ sở đó đề ra
những giải pháp cơ bản góp phần thực hiện tốt hơn công tác xóa đói, giảm
nghèo ở nước ta, đặc biệt luận án Những giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu
nhằm xóa đói giảm nghèo ở Hà Tĩnh của Trần Đình Đàn, luận văn Những giải
pháp cơ nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo ở các huyện miền núi vùng cao tỉnh
Nghệ An của Lô Xuân Vinh đã nêu ra phương hướng và những giải pháp thiết
dụng tư tưởng, Hồ Chí Minh), Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003.
- PGS,TS Tạ Ngọc Tấn: Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển hợp
tác xã đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay (Tư tưởng Hồ
Chí Minh về hợp tác xã - những vấn đề lý luận và thực tiễn), Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2008;
7
Nhìn chung, các công trình trên đã tiếp cận và nghiên cứu vấn đề xóa
đói, giảm nghèo ở nhiều góc độ và địa phương khác nhau. Riêng tư tưởng Hồ
Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo thường gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh về
kinh tế, xã hội và thực hiện chính sách xã hội. Trong cuốn Bước đầu tìm hiểu
tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế của Phạm Ngọc Anh, tác giả nêu rõ quá
trình, hình thành, phát triển và đặc điểm bản chất của tư tưởng kinh tế Hồ Chí
Minh; những nội dung chủ yếu của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh, trong đó
khẳng định: Nâng cao đời sống nhân dân - một nội dung cốt lõi của tư tưởng
kinh tế Hồ Chí Minh. Tác giả Nguyễn Huy Oánh trong cuốn Tư tưởng kinh tế
Hồ Chí Minh với xây dựng nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam hiện nay đã đề cập tới nội dung: Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, phát
triển sản xuất để xây dựng chủ nghĩa xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Đây chính là một trong những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói,
giảm nghèo. Nhưng nhìn chung, chưa có công trình nào nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo một cách có hệ thống cũng như vấn đề
xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Nghệ An dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì
vậy, đề tài mà chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu không trùng lặp với các công
trình nghiên cứu đã được công bố, các luận văn, luận án đã bảo vệ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn làm rõ, hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói,
Quán triệt những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở quán triệt phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
mác-xít, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử - lôgíc; phương pháp so sánh,
phân tích và tổng hợp tài liệu; phương pháp khảo sát thực tiễn; gắn lý luận với
thực tiễn v.v...
9
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Lần đầu tiên vấn đề xóa đói, giảm nghèo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, từ đó khẳng định giá trị lý
luận cũng như thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo.
- Trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng đói nghèo và công tác xóa
đói, giảm nghèo của tỉnh Nghệ An, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm góp
phần thực hiện thành công chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh
Nghệ An dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Góp phần khẳng định giá trị to lớn cũng như tính thời sự của tư
tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành
động của Đảng và cách mạng Việt Nam.
- Kết quả nghiên cứu nếu được áp dụng vào thực tiễn, chắc chắn sẽ
mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác xóa đói, giảm nghèo ở Nghệ An.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.
11
ngày càng cao hơn, những nhu cầu cho cuộc sống ngày càng nhiều hơn và
quan niệm về nghèo đói cũng được mở rộng. Các yếu tố như nguồn lực người
nghèo, mối quan hệ xã hội, khả năng tham gia vào các hoạt động văn hóa, xã
hội và khả năng bảo vệ, chống đỡ các rủi ro đã được đưa vào nội dung của
khái niệm đói nghèo. Trong báo cáo phát triển con người năm 1997, Chương
trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã đề cập đến khái niệm đói nghèo về
năng lực, khác với quan niệm đói nghèo về thu nhập. Theo đó, đói nghèo
được tính đến điều kiện khó khăn trong phát triển con người cơ bản. Trong
báo cáo về tình hình thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm
2003 đã nhấn mạnh sự cần thiết sử dụng phương pháp tiếp cận đói nghèo trên
cơ sở quyền lợi cơ bản của con người.
Ở Việt Nam, quan niệm nghèo đói cũng ngày được mở rộng. Nếu như
những năm 90, hỗ trợ người nghèo chỉ giới hạn đến các nhu cầu tối thiểu như
ăn no, mặc ấm thì ngày nay, người nghèo còn có nhu cầu hỗ trợ về nhà ở, giáo
dục, y tế, văn hóa… tức là nhu cầu giảm nghèo và phát triển.
Quan niệm về đói, nghèo hay nhận dạng về đói, nghèo của từng quốc
gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư về cơ bản không có sự khác biệt đáng
kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi
tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau chủ yếu
là xác định mức độ thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc
vào yếu tố lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập
quán của từng vùng, từng quốc gia, dân tộc.
1.1.1.1. Quan niệm về nghèo
Có rất nhiều định nghĩa về nghèo của các học giả, các nhà khoa học
dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau. Chỉ tính riêng trong Từ điển
tiếng Việt năm 1994, đã có 18 định nghĩa về nghèo và các từ đồng nghĩa với
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức sống trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định.
13
Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư không
được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết ăn, mặc, ở…
Nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một bộ
phận dân cư khi so sánh mức sống trung bình của cộng đồng địa phương
trong một thời kỳ nhất định. Do đó, có thể xoá dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo
trong đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắn khoảng
cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, giảm thiểu
tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối.
1.1.1.2. Quan niệm về đói
Đói: là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới
mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo về vật chất để duy trì cuộc sống.
Hay nói cách khác, đói là một nấc thang thấp nhất của nghèo.
Nghèo đói kinh niên: Là bộ phận dân cư nghèo đói nhiều năm liền
cho đến thời điểm đang xét.
Nghèo đói cấp tính: Là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đột xuất vì
nhiều nguyên nhân như phá sản và các rủi ro khác, tại thời điểm đang xét.
Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn
cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về
tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo đến năm 2005 và 2010, Việt Nam thừa
nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống nghèo đói khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng
9/1993. Đồng thời, vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các
cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Do đó, ở nước ta
còn có một số khái niệm sau:
1.1.2.1. Khái niệm xóa đói, giảm nghèo
Hộ nghèo, xã nghèo là những thuật ngữ đã được người dân Việt Nam
sử dụng từ ngàn đời xưa, còn thuật ngữ xóa đói, giảm nghèo chỉ mới xuất
hiện trong những năm gần đây.
Giảm nghèo hay xóa đói, giảm nghèo chính là làm cho bộ phận dân
cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo, biểu
15
hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Nói cách khác,
giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức
sống cao hơn.
Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện
lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt
của mỗi người.
Khi ta nói giảm nghèo thì trong đó đã bao hàm xóa đói và khái niệm
giảm nghèo chỉ là tương đối. Bởi, nghèo có thể tái sinh hoặc khi khái niệm
nghèo và chuẩn nghèo thay đổi. Do đó, việc đánh giá mức độ giảm nghèo
phải được đánh giá trong một thời gian và không gian nhất định.
Giảm nghèo là một phạm trù mang tính lịch sử, do đó, chỉ có thể từng
bước giảm nghèo, chứ chưa thể xóa sạch được nghèo. Chỉ khi nào xã hội loài
người đạt tới trình độ xã hội cộng sản như chủ nghĩa Mác - Lênin dự đoán thì
hiện tượng nghèo sẽ không còn nữa và giảm nghèo cũng không còn.
Do cách đánh giá và nhìn nhận nguồn gốc khác nhau nên cũng có
nhiều quan niệm về giảm nghèo khác nhau. Ở nước ta hiện nay, nghèo đói
không phải do bóc lột của giai cấp tư sản và địa chủ đối với lao động như
trước đây mà do nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nền
kinh tế lạc hậu kém phát triển sang nền kinh tế hiện đại. Trong nền kinh tế
này, tồn tại và đan xen nhiều trình độ sản xuất khác nhau. Trình độ sản xuất
đất nước bền vững
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội, nó vừa là vấn đề lịch sử
để lại, vừa là vấn đề phát triển mà hầu hết các quốc gia đều vấp phải. Nó đụng
chạm trực tiếp đến cuộc sống con người, từ cá nhân, gia đình đến cộng đồng
xã hội. Mỗi quốc gia, ở các mức độ phát triển khác nhau, đều phải quan tâm
giải quyết vấn đề đói, nghèo để vượt qua những trở ngại của sự phát triển nhằm
vươn tới sự phồn thịnh về kinh tế và từng bước đạt tới công bằng xã hội.
Hiện nay, nghèo đói đã, đang diễn ra trên quy mô lớn và hậu quả của
nó tác động đến mọi vấn đề trong đời sống xã hội, từ kinh tế đến chính trị, xã
hội và môi trường sinh thái. Nó có ảnh hưởng không chỉ đối với các quốc gia
17
nghèo mà còn có nguy cơ lan rộng và tác động toàn cầu như tàn phá môi
trường sinh thái, vấn đề di dân quốc tế ồ ạt, tiêu cực xã hội lan rộng v.v... Vì
vậy, sự nghiệp chống nghèo đói không chỉ đối với các nước nghèo mà cả đối
với các nước phát triển. Để giải quyết vấn đề nghèo, đói cần thiết phải có
quan niệm đúng về nghèo đói. Tại khóa họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên
hợp quốc về phát triển xã hội, tháng 6 năm 2000, tại Gơnevơ - Thụy Sỹ, các
thành viên đã thống nhất cam kết, phấn đấu giảm một nửa số người nghèo
trên thế giới. Hội nghị kêu gọi cộng đồng quốc tế đẩy mạnh chiến dịch "Tấn
công vào nghèo đói" và khuyến nghị các quốc gia cần có chiến lược toàn diện
về xóa đói, giảm nghèo. Tại Hội nghị thiên niên kỷ đầu tháng 9 năm 2000,
Liên hợp quốc, một lần nữa khẳng định: Chống nghèo đói là một trong những
mục tiêu ưu tiên hàng đầu của cộng đồng quốc tế trong thế kỷ XXI.
Đói nghèo, bệnh tật và lạc hậu thường đi liền với nhau, là một trong
những vấn đề bức xúc nhất hiện nay mà cộng đồng quốc tế phải cùng hợp sức
giải quyết. Xóa đói, giảm nghèo không phải chỉ là một giải pháp tình thế mà
nó là một chương trình trong toàn bộ chiến lược phát triển của đất nước. Thực
độ nào đó, sẽ trở thành phân hóa giai cấp, xung đột xã hội, nguy cơ làm chệch
hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, bản thân sự đói nghèo đã bao hàm nội
dung kinh tế. Vì vậy, xóa đói, giảm nghèo là một yêu cầu cấp thiết để phát
triển đất nước bền vững.
Nhận thức sâu sắc vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo. Xóa đói, giảm nghèo được coi là mục tiêu
xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngay từ
khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu cơ bản trong
hoạt động của mình là giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa
để đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người dân.
Xóa đói, giảm nghèo vừa là một nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, vừa là
nhiệm vụ cơ bản lâu dài trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước ta, bởi vì, sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới luôn luôn đặt ra
mục tiêu: Mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước cải thiện đời sống
của nhân dân. Chính vì thế, đây không chỉ là việc thực hiện truyền thống đạo
19
lý của dân tộc "thương người như thể thương thân" mà còn là nhiệm vụ để
đảm bảo ổn định xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Xóa đói,
giảm nghèo không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách thụ động
mà phải tạo ra động lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động vươn lên thoát nghèo.
Xóa đói, giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng
kinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọng
tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lực
lượng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn định cho giai đoạn "cất cánh".
Trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế tăng
trưởng bước đầu đã tạo việc làm, nguồn vốn và cơ hội vươn lên cho người
nghèo. Hàng loạt các chính sách quốc gia về giải quyết việc làm và xóa đói,
thoát nghèo.
Đói, nghèo là một thực trạng của quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Nó hiện hữu trong cuộc sống như là một yếu tố lịch sử. Lịch sử dựng nước và
giữ nước của Việt Nam cho thấy dân tộc ta cũng đã và đang phải đấu tranh
chống lại đói nghèo, vươn lên thoát khỏi cái nghèo.
Việt Nam là một quốc gia ở khu vực Đông Nam châu Á, với 54 dân tộc
anh em sinh sống trên một địa bàn mà thiên nhiên vừa ưu đãi, lại vừa khắc nghiệt.
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có khí hậu nắng ẩm mưa nhiều, đất đai rất
thích hợp với việc trồng lúa nước và phát triển của nhiều loài động, thực vật.
Vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội đó cùng với cuộc đấu tranh
chống ngoại xâm trong hàng nghìn năm đã tạo nên những đặc trưng cơ bản
của một dân tộc mà nông dân chiếm đại đa số.
Sinh sống trong điều kiện thiên nhiên vừa ưu đãi, vừa khắc nghiệt đã
tạo cho người Việt Nam đức tính cần cù, thông minh trong việc chống thiên
tai để tồn tại và phát triển, để xóa cái đói, giảm cái nghèo. Nhân dân ta đã anh
dũng chế ngự thiên nhiên, cải tạo điều kiện sống, bảo vệ tính trường tồn và
phát triển của dân tộc. Những câu ca dao, tục ngữ như "Nước lụt thì lút cả
làng/ Hễ mà có lụt thiếp chàng cùng lo", hay "Thuận vợ thuận chồng tát biển
Đông cũng cạn", "Thuận bầu thuận bạn tát cạn biển Đông"… nói lên quá trình
vật lộn chống thiên tai của người dân Việt Nam.
21
Thiên nhiên vừa ưu đãi, vừa khắc nghiệt, đức tính cần cù, thông minh
dũng cảm đã hun đúc nên ở người Việt Nam tư duy sản xuất giàu tính sáng
tạo, để vượt qua nghèo đói. Với những kinh nghiệm tổng hợp về kỹ thuật
canh tác, về thiên văn, thủy lợi, kỹ thuật nông nghiệp cổ truyền Việt Nam
được đúc kết thành 4 khâu cơ bản là: Nước, phân, cần, giống có giá trị khoa
học mà sau này còn phát triển. Những câu ca dao "Chớ thấy sóng cả mà ngã
gốc trực tiếp dẫn đến tình trạng nghèo đói ở đây là phương thức phân phối giá
trị thặng dư trong xã hội một cách bất công giữa nhà tư bản và người lao
động, người lao động chỉ được hưởng một phần giá trị vừa đủ để anh ta tiếp
tục sản xuất, còn bao nhiêu của cải đều thuộc về nhà tư bản, những người không
lao động trực tiếp. Nhưng nguồn gốc sâu xa nhất của tình trạng nghèo đói
trong chủ nghĩa tư bản chính là ở chỗ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư
liệu sản xuất, ở chế độ áp bức bóc lột và tình trạng nô dịch con người. C. Mác
và Ph. Ăngghen cũng chỉ ra rằng chỉ có xóa bỏ chế độ tư hữu, bóc lột mới có thể
giải phóng giai cấp vô sản và quần chúng lao động khỏi cảnh nghèo đói lầm
than, làm cho họ trở thành người lao động tự do và làm chủ, tiến tới một xã
hội công bằng, văn minh, đạt được sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và xã hội.
Tiếp đến, V.I.Lênin đã phân tích những mâu thuẫn kinh tế xã hội gay
gắt trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX;
qua đó ông nhận thấy, nghèo khổ không chỉ ở các nước tư bản mà còn ở trong
các nước thuộc địa, phụ thuộc, các dân tộc bị áp bức. V.I. Lênin cho rằng,
muốn giải phóng toàn bộ giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức khỏi ách
thống trị của chủ nghĩa tư bản phải tiến hành cách mạng vô sản do Đảng của
giai cấp công nhân lãnh đạo. Sau cách mạng tháng Mười Nga năm 1917,
trong bước chuyển từ "Chính sách cộng sản thời chiến" sang "Chính sách
kinh tế mới", Lênin là người chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa, dùng lợi
ích vật chất, coi đó như một đòn bẩy kinh tế, để khuyến khích người lao động,
giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế.
Đói nghèo là một phạm trù lịch sử. Nó có thể sinh ra, tồn tại, phát triển
và cũng có thể mất đi.Vậy đến khi nào sẽ không còn đói nghèo nữa?
Học thuyết Mác - Lênin dự báo rằng: Xã hội loài người sẽ trải qua hai
giai đoạn nữa: Xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ở giai đoạn xã hội
24
25
địa mà không phải đầu tư tư bản, vừa kìm hãm kinh tế thuộc địa phát triển,
vừa có chỗ dựa là giai cấp địa chủ phong kiến để dễ bề thống trị, bóc lột.
Đồng thời với bóc lột kinh tế thuộc địa từ nông nghiệp, nông thôn và
từ tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam, thực dân Pháp còn thi hành chính
sách độc quyền về kinh tế. Mặt khác, chúng còn đặc biệt coi trọng chế độ bóc
lột bằng các thứ thuế: Thuế thân, thuế ruộng, thuế chợ, thuế đò, thuế vỉa hè,
thuế môn bài…
Chính sách tước đoạt và độc quyền kinh tế của thực dân Pháp làm cho
nền kinh tế Việt Nam bị phụ thuộc vào kinh tế của nước Pháp, không thể phát
triển độc lập và toàn diện được, mang tính chất tư bản thực dân - phong kiến.
Trong nền kinh tế này, số lượng nông dân phải bỏ ruộng, thợ thủ công phải bỏ
nghề, tư sản dân tộc bị chèn ép rồi phá sản ngày càng nhiều, đời sống nhân
dân Việt Nam, nhất là nhân dân lao động rơi vào tình trạng đói nghèo, cùng cực.
Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, công nhân, nông dân, học sinh,
công chức và tư sản dân tộc Việt Nam không có quyền chính trị, không có
quyền tự do, sống một cuộc sống nghèo nàn, khổ cực. Công nhân Việt Nam
làm nhiều giờ, tiền lương ít, nạn thất nghiệp lại thường xẩy ra. Nông dân thì
nghèo khổ đã sẵn, lại bị sưu cao, thuế nặng, dẫn đến tình trạng phải bán vợ đợ
con, nếu gặp hạn hán bão lụt là chết đói đầy đường. Giai cấp tiểu tư sản đỡ
hơn nhưng cũng không thể sung sướng trong lúc cả nước bần cùng. Giai cấp
tư sản dân tộc cũng bị đế quốc và phong kiến đè nén, ngăn trở nên cuộc sống
cũng bấp bênh và thường dễ phá sản.
Có thể nói rằng, chính sách bóc lột của thực dân Pháp đã đẩy nhân dân
ta vào một cảnh sống nghèo nàn, thiếu thốn, bần cùng, lạc hậu.
- Thực tiễn đói nghèo của người Việt Nam sau cách mạng tháng Tám.
Sau cách mạng tháng Tám, chính quyền nhân dân vừa mới thành lập đã
phải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng. Thử thách,
khó khăn đó chính là giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.