MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi nói đến những thảm họa khốc liệt người ta thường nghĩ ngay
đến "thiên tai, địch họa". Nhưng có lẽ không có một cuộc chiến tranh tàn
khốc, một thảm họa thiên nhiên dữ dội nào lại gây ra cho con người một
nỗi đau dai dẳng, một sự tàn phá to lớn như nạn nghèo khổ đang diễn ra
một cách thầm lặng trên thế giới.
Ngày nay có khoảng 1/4 dân số thế giới (tương đương 1,5 tỷ người)
đang sống trong điều kiện cùng cực của nghèo khổ, không đủ khả năng đáp
ứng được những nhu cầu cơ bản. Hàng trăm triệu người đang sống quanh
giới tuyến nghèo khổ. Một nửa số dân trên thế giới đang bị phân biệt đối
xử, khước từ các cơ hội chỉ vì khác màu da. Thiệt thòi lớn nhất là trẻ em,
hàng triệu trẻ em không được đến trường, trong đó có 130 triệu trẻ em ở độ
tuổi tiểu học và 175 triệu trẻ em ở độ tuổi trung học cơ sở, hơn 1/3 số trẻ
em trên thế giới bị suy dinh dưỡng.
Có thể nói, nghèo đói đã diễn ra trên khắp các châu lục với những
mức độ khác nhau. Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát triển, nghèo
đói đang là một vấn đề nhức nhối, một thách thức đối với sự phát triển, hay
tụt hậu của một quốc gia.
Ở nước ta sau 30 năm đổi mới, nền kinh tế đang từng bước khởi sắc
và đã đạt được những thành tựu to lớn, đời sống của nhân dân đã được cải
thiện và nâng cao một bước (kể cả thành thị, nông thôn và miền núi vùng
sâu, vùng xa). Tuy nhiên cùng với xu thế phát triển đi lên của xã hội, đã
hình thành một bộ phận dân cư giàu lên và một bộ phận không nhỏ rơi vào
cảnh đói nghèo với khoảng cách ngày càng xa.
Đối với Việt Nam, mức độ nghèo khổ là khá cao, đặc biệt là các
vùng nông thôn, miền núi, hải đảo. Theo đánh giá của nhóm công tác các
1
Việc đề cập vấn đề XĐGN dưới góc độ kinh tế chính trị, chỉ ra
được những đặc trưng nghèo đói của Phú Thọ, và từ đó nêu lên những giải
pháp kinh tế xã hội để giải quyết vấn đề đói nghèo thì chưa được đề cập
đến.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích: Luận văn làm rõ thực trạng và nguyên nhân của tình
trạng đói nghèo của tỉnh Phú Thọ, đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm thực
hiện mục tiêu XĐGN của tỉnh hiện nay.
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có những
nhiệm vụ sau:
- Trình bày một số những quan niệm về nghèo đói một cách có hệ
thống và phân tích sự cần thiết khách quan phải thực hiện việc XĐGN,
đồng thời nêu ra một số kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về
giải quyết vấn đề đói nghèo.
- Phân tích thực trạng tình hình đói nghèo của tỉnh Phú Thọ, chỉ ra
những nguyên nhân trực tiếp gây nên đói nghèo ở địa bàn tỉnh.
- Đưa ra những giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề XĐGN ở tỉnh
trong giai đoạn hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề XĐGN dưới góc độ kinh tế chính trị.
- Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng tình hình nghèo đói của
tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ năm 1997 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận, phương
pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -
3
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm đường lối phát triển
càng phát triển, năng suất lao động xã hội càng cao thì nhu cầu đáp ứng
ngày càng nhiều, càng phong phú. Ngược lại, năng suất lao động xã hội
thấp kém, trình độ lực lượng sản xuất lạc hậu, thì con người không thể đáp
ứng được những nhu cầu thiết yếu của mình như: ăn, mặc, ở, đi lại... và bị
rơi vào tình trạng đói nghèo.
1.1.1.1. Bản chất của đói nghèo
Trong các xã hội: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong
kiến, đói nghèo có nguyên nhân chủ yếu và trước hết là do trình độ lực
lượng sản xuất còn thấp kém, sản phẩm thặng dư trong xã hội không nhiều.
Dưới xã hội phân chia giai cấp thì còn thêm vào đó là tình trạng áp bức giai
cấp, nên quyền phân phối sản phẩm lao động làm ra thuộc về một số ít
người - về tay giai cấp thống trị. Xã hội phân chia thành hai cực đối lập,
trong đó "kẻ ăn chẳng hết, người lần không ra".
Bước sang xã hội tư bản chủ nghĩa gắn liền với nền sản xuất lớn và
nền đại công nghiệp hiện đại, đã tạo ra một năng suất lao động cao hơn hẳn
các xã hội trước và với một lực lượng sản xuất khổng lồ "bằng tất cả các
5
thế hệ trước cộng lại", đã mở ra khả năng to lớn để con người có thể đáp
ứng được các nhu cầu phát triển của mình. Tuy nhiên, do sự phân hóa và áp
bức giai cấp, do sự khác biệt về năng lực và cơ hội của các cá nhân, trong
xã hội này nghèo đói vẫn tồn tại song hành cùng với sự phát triển kinh tế xã hội.
Khi nghiên cứu, phân tích xã hội tư bản để chỉ ra những qui luật
vận động và phát triển của nó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập một cách
khá toàn diện và sâu sắc tình cảnh nghèo đói và bị bóc lột đến cùng cực của
giai cấp vô sản và những người lao động làm thuê trong chủ nghĩa tư bản.
Tiêu biểu là các tác phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học" (1844), "Tình cảnh
giai cấp công nhân Anh" và sau này là trong bộ "Tư bản".
Ở đây, hai ông đã mô tả cặn kẽ, tỷ mỷ tình cảnh của những người
động của mình cho nhà tư bản. Tiền công được sử dụng để sản xuất và tái
sản xuất sức lao động, do đó tiền công danh nghĩa phải được chuyển thành
tiền công thực tế.
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng
hóa tư liệu tiêu dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền
công danh nghĩa của mình. Tiền công danh nghĩa là giá cả hàng hóa sức lao
động, nó có thể tăng lên hay giảm xuống tùy theo sự biến động trong quan
hệ cung cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường. Trong một thời gian
nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả tư liệu tiêu
dùng dịch vụ tăng lên hay giảm xuống thì tiền công thực tế giảm xuống hay
tăng lên.
Mác còn chỉ rõ: tính qui luật của sự vận động của tiền công trong
chủ nghĩa tư bản là: trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền
công danh nghĩa có xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khi
không theo kịp với mức tăng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ, khi đó tiền
công thực tế của giai cấp công nhân có xu hướng hạ thấp. Đây là nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến sự bần cùng của giai cấp vô sản.
7
Như vậy, theo Mác và Ăngghen, nghèo đói của giai cấp vô sản
trong xã hội tư bản có nguyên nhân trực tiếp từ sự phân phối thu nhập của
sản xuất xã hội qua tiền công và phân phối giá trị thặng dư trên thị trường.
Trong các chế độ tư hữu và bóc lột thống trị, nghèo khổ, đối kháng
giai cấp và phân cực xã hội là những hiện tượng luôn đi liền nhau trong
một tất yếu nhân quả hữu cơ không thể tách rời. Nó thuộc về bản chất kinh
tế chính trị - xã hội của phương thức sản xuất đó. Chủ nghĩa tư bản hiện đại
ngày nay nhờ lợi dụng được những thành quả của cách mạng khoa học công nghệ, sớm áp dụng những biện pháp điều chỉnh và cải cách trong
quản lý nên đã đạt được những bước tiến lớn trong sản xuất, tăng trưởng
Song thực tế lại không phải như vậy, mặc dù trong chủ nghĩa xã
hội, đối kháng giai cấp mất đi, nhưng những sự khác biệt của những người
lao động vẫn luôn tồn tại. Sự khác biệt về phẩm chất, năng lực, trí tuệ, thể
lực, cơ hội của những người lao động đã dẫn đến sự khác nhau về kết quả
lao động có ích mà họ cống hiến cho xã hội, và do đó khác nhau về thu
nhập do kết quả lao động đó mang lại.
Trong chủ nghĩa xã hội, giàu, nghèo vẫn còn tồn tại, nhất là trong
cơ chế thị trường, bình đẳng và công bằng xã hội là tương đối chứ không
phải là tuyệt đối, là hướng tới ngày một thụ hưởng đầy đủ hơn những giá trị
ấy, chứ không phải đã có ngay những giá trị ấy ngay một lúc, nhất là khi
chủ nghĩa xã hội mới phát sinh chứ chưa ở trình độ thành thục, phát triển.
Như vậy, nghèo đói là một vấn đề kinh tế - xã hội chứ không đơn thuần chỉ
là vấn đề kinh tế. Tuy nhiên, các thước đo để đánh giá ai nghèo, ai giàu lại
chủ yếu và trước hết dựa trên thước đo về kinh tế.
1.1.1.2. Những chỉ tiêu được lượng hóa để xác định đói nghèo
của các tổ chức quốc tế
Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra chỉ tiêu đánh giá độ giàu, nghèo
bằng mức thu nhập quốc gia (GDP) tính theo đầu người, và chia thế giới
làm 6 loại nước giàu nghèo khác nhau (theo mức thu nhập 1990).
Trên 25.000 USD/năm là nước cực giàu;
Từ 20.000 USD đến dưới 25.000 USD/năm là nước giàu;
9
Từ 10.000 USD đến dưới 20.000 USD/năm là nước khá giàu;
Từ 2.500 USD đến dưới 10.000 USD/năm là nước trung bình;
Từ 500 USD đến dưới 2.500 USD/năm là nước nghèo;
Dưới 500 USD/năm là nước cực nghèo.
Tại Đại hội lần thứ hai của Ủy ban giảm nghèo khổ khu vực
nghèo đói, tuy nhiên, những tiêu chí về nghèo đói còn để ngỏ về mặt lượng
vì ở đây còn phải tính đến yếu tố lịch sử, đến trình độ phát triển kinh tế,
phong tục tập quán của mỗi địa phương. Song có thể nói, định nghĩa đã đề
cập được đến nội dung cơ bản của vấn đề nghèo đói đó là nhu cầu cơ bản
của con người.
Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu để duy trì
sự tồn tại sinh học của con người. Theo ý đó, đói là tình trạng nghèo khổ
cùng cực, là trạng thái con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng để
duy trì sự sống bình thường và không đủ sức để lao động, tái sản xuất sức
lao động.
Đói là sự nghèo nàn hiển nhiên và nghèo là một sự đói tiềm tàng và
luôn đứng trước khả năng bị đói, trong thực tế nhất là khi lâm vào tình
trạng thiên tai, rủi ro, hoạn nạn thì trạng thái nghèo khổ sẽ trở thành đói.
Nghèo có hai dạng, là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư thường trực không
có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Trên thực
tế một bộ phận lớn dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu đói.
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống
dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương.
Như thế, sự thiếu thốn "của cải" trong mối quan hệ với nhu cầu
thiết yếu của con người được xem là nghèo khổ tuyệt đối. Còn khi xem xét
thực trạng mức sống và vị trí (về kinh tế và xã hội) các nhóm hoặc các các
nhân khác ở phương diện mức độ tiêu thụ và thu nhập của họ về cơ hội tiếp
cận các nguồn lực... sẽ cho ta quan niệm về nghèo tương đối.
11
Ngoài ra, Liên Hợp quốc cũng đưa ra chỉ tiêu để đánh giá mức sống
của con người bao gồm cả thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu
vùng sâu, vùng xa... dù nền kinh tế có phát triển đến thế nào chăng nữa dân
cư ở các vùng kể trên vẫn dễ bị rơi vào nghèo đói.
Về môi trường: Hầu hết những người nghèo đói đều phải sống trong
môi trường khắc nghiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người
nghèo đói không đủ khả năng và điều kiện để gìn giữ, đảm bảo và cải thiện
môi trường sống.
Tóm lại: những quan niệm về nghèo đói do cách tiếp cận khác nhau
nên có những kiến giải khác nhau, sự nghèo khổ là một khái niệm tương
đối và có tính biến đổi. Các chỉ số xác định giới hạn nghèo khổ không phải
là cứng nhắc và bất biến. Nó biến đổi tùy theo sự chênh lệch, sự khác biệt
giữa các vùng, miền, quốc gia.
1.1.1.3. Những chỉ tiêu được lượng hóa để xác định đói nghèo
của Việt Nam
Đối với Việt Nam, dù là trong ký ức của người dân hay trong các
tài liệu của chính phủ trước đây, quan niệm về cái nghèo chưa bao giờ được
coi đơn thuần là vấn đề thu nhập vật chất. Cái nghèo ở đây luôn hàm chứa
cả sự nghèo nàn về đạo đức, học vấn, truyền thống.
Tuy nhiên, hiện nay khi nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường với sự gia tăng các nguồn viện trợ từ các tổ chức nước ngoài (kể cả
chính phủ và phi chính phủ) thì những khái niệm về giàu nghèo dựa trên
thu nhập hiện đang được chính phủ và nhân dân sử dụng ngày càng nhiều,
để xác định ai "giàu" và ai "nghèo".
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và hiện
trạng đời sống trung bình của phổ biến dân cự hiện nay, có thể xác lập chỉ
tiêu đánh giá đói nghèo theo những tiêu thức chính sau đây: Thu nhập; nhà
ở và tiện nghi sinh hoạt; tư liệu sản xuất; vốn để dành.
13
Mặc + ở:
2,1 kg
14
Văn hóa + y tế + giáo dục + đi lại: 1,1 kg
Theo bảng cơ cấu này thì:
Nghèo tuyệt đối là tình trạng dân cư chỉ có thu nhập đảm bảo mức
sống dưới mức tối thiểu, tức dưới 15 kg gạo/người/tháng. Người nghèo
tuyệt đối và hộ nghèo tuyệt đối đương nhiên là không có điều kiện để thực
hiện các nhu cầu về văn hóa, y tế, giáo dục và đời sống tinh thần nói chung.
Đói: là thu nhập ở dưới ngưỡng của nghèo, dưới ngưỡng càng xa thì
mức độ đói càng gay gắt. Có thể phân biệt được hai mức độ của đói là thiếu
đói và đói gay gắt.
Thiếu đói là tình trạng dân cư có mức thu nhập dưới 8 kg
gạo/người/tháng. Theo giới hạn trên, so với mức tiêu thụ calo của
người/ngày thì quá thấp, hơn nữa so sánh với giới hạn đói nghèo của ngân
hàng thế giới thì giới hạn nghèo đói ở nước ta còn thấp hơn nhiều.
Chỉ tiêu về nhà ở và tiện nghi sinh hoạt:
Những người nghèo đói thường sống trong những căn hộ tồi tàn,
nhà tranh vách đất (miền Bắc), nhà lá dừa nước, lợp tôn (miền Nam).
Đồ dùng trong nhà không có gì ngoài giường gỗ, tre, phản chõng và
vài thứ khác, tất cả đều tồi tàn và cũ nát.
Chỉ tiêu về tư liệu sản xuất:
Những người nghèo đói ít có tư liệu sản xuất, phần lớn thô sơ, đất
đai vườn ao hầu như không có, một bộ phận là nông dân thiếu hoặc mất
ruộng đất để sản xuất.
Chỉ tiêu về vốn:
người trong hộ/ tháng được quy ra gạo và tiền tương ứng cụ thể là:
Hộ đói: có thu nhập dưới 13 kg gạo, tương ứng với 45.000 đ (cho
tất cả các vùng).
Hộ nghèo theo ba vùng, có mức thu nhập như sau:
- Dưới 15 kg gạo, tương ứng với 70.000 đồng ở vùng nông thôn,
đồng bằng, trung du.
16
- Dưới 25 kg gạo, tương ứng với 90.000 đồng ở vùng thành thị.
Trong thực tế, ở Việt Nam vẫn tồn tại một bộ phận dân cư ở tình
trạng thiếu ăn, đói về lương thực. Do đó khi đánh giá nghèo ở Việt Nam
nên phân thành hai cấp độ nghèo và đói, vì nó phản ánh đúng thực tế. Việc
phân chia cụ thể từng loại nghèo đói của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội có tính chất xác định tỷ lệ nghèo, đói của từng tỉnh, từng vùng và cả
nước từ đó giúp cho việc trợ cấp, đầu tư, hỗ trợ giúp người nghèo thoát
nghèo, thoát đói.
Về hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức nghèo của hộ gia đình có thể
tham khảo theo các tiêu thức ở bảng 1 sau:
Bảng 1: Chỉ tiêu đánh giá nghèo cấp hộ gia đình
Lĩnh vực
I. Nhu cầu ăn
Chỉ tiêu
1. Số lượng gạo tối thiểu (12 kg/người/tháng)
2. Giá trị khẩu phần ăn tối thiểu một ngày
II. Nhu cầu mặc
3. Không đủ quần áo, chăn ấm trong mùa rét
Hộ nghèo: có 5 chỉ tiêu về ăn, mặc, ở dưới chuẩn mực
Hộ rất nghèo: có trên 5 chỉ tiêu dưới chuẩn mực.
Những chỉ tiêu này là sự lượng hóa cụ thể từ chỉ tiêu chung về hộ
nghèo đã được phân tích ở trên.
1.1.2. Nguyên nhân của đói nghèo
Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế - xã hội, nó vừa là vấn đề lịch
sử để lại, vừa là vấn đề phát triển mà hầu hết các quốc gia đều vấp phải. Nó
đụng chạm trực tiếp đến cuộc sống của con người, từ cá nhân, gia đình đến
cộng đồng xã hội. Mỗi quốc gia, ở các mức độ phát triển khác nhau, đều
phải quan tâm giải quyết vấn đề đói nghèo để vượt qua những trở ngại của
sự phát triển nhằm tới sự phồn thịnh về kinh tế và từng bước đạt tới công
bằng xã hội.
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song
tựu trung lại, nghèo đói ở các nước đang phát triển chủ yếu là do các
nguyên nhân cơ bản sau đây:
Thứ nhất, do người nghèo không có khả năng và cơ hội để tiếp
cận và kiểm soát các nguồn lực sản xuất.
Các nguồn lực sản xuất chủ yếu hiện nay có thể kể đến như vốn, đất
đai, khoa học công nghệ... song tất cả những thứ đó người nghèo đều
không có hoặc rất hạn chế về khả năng tiếp cận. Một số người trong số họ
có thể có sức lao động, nhưng họ sẽ không thể biến sức lao động đó thành
nguồn lực, nếu không tiếp cận được với các nguồn lực khác như vốn, đất
đai, khoa học công nghệ, tức là họ không có việc làm.
18
Ở một phạm vi nào đó, theo quan sát thực tiễn của các nhóm
chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, đói nghèo do thiếu tiếp cận và kiểm
soát các nguồn lực là khá phổ biến.
Thứ hai, do dân số tăng nhanh.
Hiện các nước đang phát triển đang đóng góp lớn nhất vào phần
tăng thêm của dân số thế giới. Trong suốt thập kỷ 90, phần đóng góp của
các nước đang phát triển vào số lượng người tăng thêm chiếm tới 93 - 95%.
Nói cách khác, dân số thế giới tăng lên nhanh là do các nước đang phát
triển quyết định. Hiện tại châu Á chiếm 60% số dân cả thế giới, châu Phi
là 12% [35, 55]. Sự tăng dân số rất khác nhau ở các khu vực trên thế giới
đã làm thay đổi cơ cấu tuổi của dân số. Một bộ phận dân số quá trẻ, trong
đó một bộ phận tại các nước công nghiệp già đi nhanh chóng. Dân số tăng
nhanh ở các nước đang phát triển dẫn đến thu nhập bình quân đầu người
giảm, đồng thời tạo ra áp lực rất gay gắt về việc làm và làm nhức nhối
những vấn đề xã hội. Nghèo đói ở các nước công nghiệp phát triển chủ yếu
do thất nghiệp gây ra. Còn nghèo đói ở các nước đang phát triển do rất
nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân trực tiếp là dân số tăng nhanh.
Trên thế giới không có nơi đâu có tỷ lệ tăng dân số cao mà vẫn giảm được
tỷ lệ nghèo đói. Do đó, các nước đang phát triển chỉ có thể giảm nghèo đói
bằng cách giảm tỷ lệ sinh.
Rơnê Đuy Mông trong "Một thế giới không thể chấp nhận được" đã
cảnh báo các nước đang phát triển về sự bùng nổ dân số, về sự luẩn quẩn
giữa đói nghèo - lạc hậu - dân số tăng nhanh. Theo ông thì: "...Chính nhà
nước phải có trách nhiệm đối với cộng đồng là đánh giá tài nguyên của
mình về đất, nước, rừng, về khoáng sản, về khoảng không gian còn rỗi rãi,
những hy vọng tiến bộ thật sự và từ đó định ra những tỷ lệ hợp lý về tăng
số dân để bảo đảm cho mỗi người một cuộc sống kha khá hơn là để một
ngày nào đó lại phải dùng những biện pháp cưỡng bức" [25, 104].
Thứ ba, do trình độ giáo dục thấp.
Số dân đông, lại nghèo đói, do đó ngân sách chi cho giáo dục và y tế
thấp đó là lôgíc vận động của hiện thực. Khi mức chi cho giáo dục và y tế thấp
20
21
Do đó, việc xóa đói ở đây trước hết được hiểu như là sự hỗ trợ phát
triển của nhà nước và cộng đồng để nâng cao đời sống dân cư, xóa bỏ tình
trạng còn tồn tại các hộ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu
như cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có
tiền chữa trị, nhà ở bằng tranh tre vách đất, nhằm duy trì cuộc sống bình
thường. Từ đó giúp họ vượt qua tình trạng đói khổ triền miên để đi tới sự
phát triển.
Giảm nghèo tức là tạo điều kiện cho bộ phận dân cư nghèo tiếp cận
được với các nguồn lực cần thiết để họ tự nâng cao mức sống, từng bước
thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người
nghèo giảm xuống làm cho mức sống chung của toàn bộ cộng đồng được
nâng lên.
Giảm nghèo còn được hiểu là quá trình chuyển một bộ phận dân cư
nghèo lên một mức sống cao hơn nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng
và sự nỗ lực vươn lên của bản thân các hộ nghèo. Ở khía cạnh khác, giảm
nghèo là chuyển từ tình trạng người nghèo có ít sự lựa chọn sang tình trạng
có nhiều sự lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người.
Như vậy, có thể nói một cách khái quát, xóa đói, giảm nghèo là quá
trình tạo điều kiện giúp đỡ các hộ đói nghèo có khả năng và cơ hội để tiếp
cận với các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh chóng, trên cơ sở đó
họ có nhiều sự lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát ra khỏi cảnh nghèo đói.
XĐGN còn gắn với trung lưu hóa một bộ phận dân cư, khuyến
khích và tạo điều kiện cho một bộ phận dân cư biết vươn lên làm giàu
chính đáng trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Trước đây, ở thời kỳ chưa đổi mới, trong nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp, nghèo đói đã dường như không được nhìn nhận như một thực
tế xã hội, bởi quan niệm cho rằng: Trong chủ nghĩa xã hội không thể có
Kinh tế thị trường mở ra nhiều khả năng và cơ hội cho con người
phát triển đồng thời cũng phơi bày những yếu kém bất cập của con người
trong sản xuất - kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường xóa đói, giảm
nghèo luôn gắn liền với khuyến khích một bộ phận dân cư có điều kiện,
23
khả năng vươn lên làm giàu chính đáng. Đó cũng là một trong những biện
pháp hữu hiệu ngăn cản hiện tượng nghèo tái sinh. Những người vừa thoát
nghèo rất có khả năng bị rơi vào nghèo đói trở lại khi những giải pháp giảm
nghèo không bền vững hoặc chỉ có tác dụng trong ngắn hạn.
Giảm nghèo còn là vấn đề mang tính lịch sử. Bởi nghèo vẫn tồn tại
khi nền kinh tế thị trường vẫn còn chi phối và vẫn còn tồn tại sự khác biệt
về năng lực thể chất, địa vị xã hội... giữa các cá nhân. Do đó, để giải quyết
vấn đề giảm nghèo chỉ có thể từng bước giảm nghèo chứ chưa thể tiến tới
xóa được nghèo. Chỉ đến khi xã hội loài người đạt tới trình độ xã hội cộng
sản chủ nghĩa như Mác và Ăngghen dự báo, khi đó cơ sở kinh tế xã hội của
đói nghèo mới không còn tồn tại.
1.2. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
1.2.1. Xóa đói, giảm nghèo không chỉ là mục tiêu mà còn là tiền
đề giúp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Hiện nay, chúng ta đang phấn đấu xây dựng nền kinh tế nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và định
hướng XHCN.
Nhiều nhà nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới đã khẳng
định, sự phân hóa giàu nghèo là tất yếu, gắn liền với sự phát triển của kinh
tế thị trường. Điều đó do chính những qui luật của thị trường chi phối. Nếu
những biện pháp nhằm hạn chế sự phân hóa giàu nghèo và XĐGN. Tuy
nhiên do quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường mới chỉ ở giai đoạn
đầu, kinh tế thị trường còn rất sơ khai, non yếu, cùng với quá trình phát
triển kinh tế thị trường là quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nên tình trạng phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam tiếp tục gia tăng trái với
bản chất của nhà nước và mục tiêu của nhà nước theo đuổi. Điều đó đặt ra
cho chúng ta những thách thức rất lớn, tuy nhiên sự thách thức có nguyên
nhân chủ yếu từ những nhân tố và giải pháp cho sự phát triển.
Một mặt, nếu không tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới phát triển
nền kinh tế thị trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì không
25