MỤC LỤC
Mở đầu
Chương I
I.1
I.2
Chương II
II.1
II.2
Bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân
Việt Nam - một số vấn đề có tính qui luật của quá
trình hình thành, phát triển.
Bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân
dân Việt Nam.
Một số vấn đề có tính qui luật của quá trình
hình thành, phát triển bản chất chính trị - xã hội
của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Những yêu cầu và giải pháp cơ bản của việc
xây dựng bản chất chính trị - xã hội của
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
Thực trạng và những yêu cầu của việc xây dựng
bản chất chính trị - xã hội của Quân đội
nhân dân Việt Nam hiện nay.
Những giải pháp cơ bản của việc xây dựng
bản chất chính trị - xã hội của Quân đội
nhân dân Việt Nam hiện nay.
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo.
Phụ lục
trong nhiệm vụ xây dựng quân đội về chính trị cần dựa trên một cơ sở khoa học
vững chắc.
Nghiên cứu dưới góc độ triết học vấn đề xây dựng bản chất chính trị - xã
hội của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay nhằm cung cấp
những luận chứng khoa học cho việc xây dựng quân đội ta vững mạnh về chính trị
là vấn đề cấp bách, có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu vấn đề xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị là một
trong những hướng nghiên cứu cơ bản của nhiều nhà khoa học trong và ngoài quân
đội. Nhiều văn kiện của Đảng, Nhà nước, quân đội, nhiều bài báo, tạp chí và cả
một số luận án khoa học đã đề cập tới vấn đề này ở những góc độ khác nhau, với
những mức độ khác nhau (xem 19, 23, 24, 26, 27, 35, 37, 44, 47, 50, 52, 60, 65, 68,
75, 77, 81,82, 84, 87, 88, 90, 92, 96, 100, 101, 103, v.v..). Xây dựng quân đội về
chính trị là một đề tài khoa học cấp Nhà nước đã được triển khai và thu được nhiều
kết quả có giá trị v ề lý luận và thực tiễn.
Tuy nhiên, các công trình trên đây chưa tập trung đi sâu nghiên cứu bản chất
chính chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới góc độ lý luậnphương pháp luận của triết học.
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài, người viết luận án đã chọn lọc,
kế thừa và phát triển các luận điểm có giá trị về mặt khoa học của các tác giả trong
và ngoài quân đội v ề những vấn đề có liên quan, đồng thời cố gắng phát huy tính
độc lập trong tư duy, trong phương pháp nghiên cứu và trong cách thể hiện những
nội dung cơ bản của đề tài.
Các tài liệu nước ngoài, chủ yếu của các tác giả Xô viết thuộc Liên Xô trước
đây, không trực tiếp đề cập đến đề tài. Tuy nhiên, người viết luận án cũng cố gắng
tham khảo, nghiên cứu các tài liệu này về những vấn đề có liên quan (xem 55, 91,
110, 112, 115, v.v..)
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là thông qua việc nghiên cứu dưới góc độ triết học quá
về chất.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác- Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam
về quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam
nói riêng, đặc biệt là xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị.
Cơ sở thực tiễn của luận án là thực tiễn lịch sử hình thành, phát triển bản
chính chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam từ khi ra đời đến nay; các
tài liệu, báo cáo tổng kết, các đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ Quốc phòng,
các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về các vấn đề
có liên quan; các kết quả điều tra xã hội học từ các đơn vị mẫu trong toàn quân và
kết quả khảo sát, điều tra, nghiên cứu, thực tế của cá nhân tác giả.
Đề tài luận án được nghiên cứu dưới góc độ triết học, trong đó người viết đã
vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử để giải quyết các vấn đề đặt ra trong nội dung luận án. Các phương pháp
nghiên cứu được sử dụng tổng hợp: lô gích - lịch sử, phân tích, tổng hợp, hệ thống
- cấu trúc, điều tra xã hội học, thống kê so sánh v.v.. trong đó, phương pháp lô gích
- lịch sử và hệ thống- cấu trúc được đặc biệt chú trọng.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Góp phần luận chứng khoa học cho việc Quân đội nhân dân Việt Nam về
chính trị và đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản, toàn diện, có thể thực hiện được
trong xây dựng bản chính chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện
nay.
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy các bộ
môn khoa học như: học thuyết Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội, công tác
đảng - công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam... trong hệ thống nhà
trường quân đội.
7. Kết cấu của luận án
vi chính trị, mà là một công cụ chính trị thực sự, một sự kế tục của những quan hệ
chính trị, một sự thực hiện các quan hệ chính trị bằng những biện pháp khác”(33).
Tuy nhiên, do xuất phát từ lý luận duy tâm về một nhà nước siêu giai cấp,
nhận thức của Claudơvitx đã bị hạn chế trong một quan niệm trừu tượng siêu giai
cấp về phạm trù chính trị. Ông coi chính trị là biểu hiện của “sự hài hoà về lợi ích”
giữa các giai cấp khác nhau trong một quốc gia. Ông đã tách rời một cách siêu hình
chính sách đối ngoại với chính sách đối nội, đồng thời tuyệt đối hoá vai trò của
chiến tranh, coi chiến tranh như một phương tiện vĩnh cửu để giải quyết những
mâu thuẫn giữa các quốc gia, dân tộc. Từ quan niệm về chính trị như vậy,
Claudơvitx đã không nhận thức được đúng đắn mối liên hệ giữa các vấn đề chính
trị, giai cấp đối với hiện tượng chiến tranh và quân đội.
Từ nửa cuối thế kỷ XIX, với việc xây dựng được một hệ thống lý luận phương pháp luận vừa duy vật vừa biện chứng, các nhà sáng lập chủ nghĩa
Mác đã tiến đến nhận thức sâu sắc hơn, triệt để hơn về nguồn gốc, đặc trưng, cơ
sở kinh tế, cơ sở xã hội- giai cấp của các hiện tượng chiến tranh, chính trị, các
tổ chức, thiết chế thuộc kiến trúc thượng tầng như nhà nước, quân đội cũng
như mối liên hệ giữa chúng.
Trong bài viết cho cuốn “Bachs khoa toàn thư mới của Mỹ” (New America
Cyclopaedia), một cuốn sách tra cứu khoa học do một số nhà xuát bản ở Mỹ tổ
chức biên soạn và xuất bản với sự cộng tác của nhiều nhà bác học nổi tiếng của Mỹ
và Châu Âu, Ph.Ăngghen đã viết: “Quân đội là một tập đoàn có tổ chức gồm
những người được vũ trang, được nhà nước đài thọ để thực hiện chiến tranh tấn
công hoặc phòng ngự”(2).
Định nghĩa này đã chỉ rõ đặc trưng cơ bản của quân đội là “một tập đoàn có
tổ chức gồm những người được vũ trang, được nhà nước đài thọ” để phân biệt với
các tổ chức xã hội khác, nêu lên chức năng chủ yếu của quân đội “để thực hiện
chiến tranh tấn cộng hoặc phòng ngự”, đồng thời chỉ rõ mối liên hệ giữa quân đội
với nhà nước “được nhà nước đài thọ” và được nhà nước sử dụng như một công cụ
để tiến hành chiến tranh.
như ý tưởng về tổ chức “Đội cận vệ vô sản độc lập” do Mác, Ăngghen nêu ra chủ
yếu đề cập tới lực lượng của giai cấp công nhân, thì tổ chức “Hồng quân công
nông” do Lênin đề xướng đã chỉ rõ cơ sở xã hội- giai cấp chủ yếu của quân đội
kiểu mới là liên minh giữa công nhân và nông dân - hai lực lượng cơ bản để xây
dựng Hồng quân công nông của nước Nga xô viết. Lênin cũng là người mácxít đầu
tiên nêu lên tư tưởng xây dựng Hồng quân công nông dựa trên cơ sở vũ trang toàn
dân.
Từ đây cũng đã xuất hiện thêm mối liên hệ giữa quân đội kiểu mới với
Đảng của giai cấp công nhân. Mối liên hệ này nảy sinh từ những yêu cầu cấp
bách của thực tiễn đấu tranh cách mạng của Đảng Bônsêvích Nga. Việc xây dựng
và giữ mối liên hệ này trong mọi giai đoạn của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
bảo đảm cho việc xây dựng một quân đội mà thành phần xã hội - giai cấp của lực
lượng tham gia không phải thuần nhất từ công nhân nhưng vẫn luôn luôn có được
bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời bảo đảm cho sự thống nhất
bản chất gia cấp của Hồng quân với Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế
giới. Mối liên hệ mật thiết giữa quân đội cách mạng với Đảng cộng sản - trong
đó quân đội luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản - đã trở thành
điều kiện tiên quyết, nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong xây dựng quân đội
kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Lịch sử hình thành và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam cho
thấy từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam đã kế thừa,
vận dụng sáng tạo những nguyên lý, nguyên tắc mácxít - lêninnít về xây dựng
quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.
Nhận thức đúng đắn vai trò của bạo lực cách mạng trong cuộc đấu tranh
giành độc lập và tự do cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sớm
chuẩn bị mọi mặt cho việc xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động Việt Nam. Ngay từ khi mới ra đời, trong “Chánh cương vắn tắt”
tháng 2-1930 do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, Đảng ta đã xác định những
Nghiên cứu bản chất của quân đội không thể đề cập tới các vấn đề chính trị,
giai cấp, tổ chức vũ trang và đấu tranh vũ trang. Khi xem xét các loại hình quân đội
đã xuất hiện trong lịch sử, Mác- Ăngghen - Lênin đặc biệt chú ý tới sự phụ thuộc
của tổ chức vũ trang và hoạt động đấu tranh vũ trang vào quan hệ chính trị và
giai cấp, hay nói cách khác là sự chi phối của các quan hệ chính trị và giai cấp đến
tổ chức vũ trang và đấu tranh vũ trang.
Chính vì vậy, trong nhiều cuốn sách giáo khoa, giáo trình của học thuyết
Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội, cũng như trong nhiều bài viết trên các tạp
chí nghiên cứu khoa học, bản chất của quân đội thường được qui giản về quan
hệ giai cấp, được diễn đạt bằng khái niệm “bản chất giai cấp của quân đội”
(35,103,107, v.v...)
Bản chất quân đội còn được xem xét từ các góc độ khác nhau, theo các phạm
vi khác nhau, và được diễn đạt bằng các khái niệm “bản chất xã hội của quân đội”
(107), “bản chất chính trị- xã hội của quân đội” (35, 55, 107). Mặc dù đều thể hiện
sự qui giản bản chất của quân đội về các quan hệ chính trị và giai cấp, nhưng nội
dung của các thuật ngữ này không hoàn toàn đồng nhất với nhau.
Khái niệm “bản chất giai cấp của quân đội” không đồng nhất với khái niệm
“bản chất của quân đội” đã trình bày ở trên.
Bản chất giai cấp của quân đội là tổng hợp những thuộc tính, đặc trưng cơ
bản trên phương diện chính trị - tư tưởng và tổ chức của giai cấp được biểu
hiện trong tổ chức quân sự do giai cấp đó đã xây dựng nhằm thực hiện lợi ích
của nó.
Như vậy, khái niệm “bản chất giai cấp của quân đội” có phạm vi hẹp hơn
khái niệm “bản chất của quân đội”. Nó đề cập đến khía cạnh giai cấp một cách tập
trung hơn, sâu sắc hơn so với khái niệm “bản chất của quân đội”. Nói cách khác,
bản chất giai cấp của quân đội chính là bản chất của quân đội được qui giản về
quan hệ giai cấp.
Quan hệ giai cấp là một bộ phận của hệ thống chính trị - xã hội, đồng thời là
những mối liên hệ cơ bản giữa quân đội với giai cấp (và nhà nước đại diện cho
giai cấp đó) dân tộc và cộng đồng xã hội đã xây dựng, tổ chức, nuôi dưỡng và sử
dụng quân đội đó nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp, dân tộc và cộng đồng xã
hội, trong đó mối liên hệ giữa quân đội với giai cấp đã xây dựng và tổ chức ra
nó là mối liên hệ cốt lõi, cơ bản.
Từ sự phân tích và cách tiếp cận trên đây, đồng thời từ thực tiễn lịch sử hình
thành và phát triển bản chất chính trị - xã hội của quân đội ta, có thể xác định rằng
bản chất chính chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam là sự thống
nhất tính cách mạng của giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc
Việt Nam được biểu hiện trong một tổ chức quân sự nhằm thực hiện lợi ích của
giai cấp công nhân, nhân dân và dân tộc Việt Nam.
Cấu trúc bản chất chính chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam,
như đã xác định trên đây, bao gồm ba yếu tố cơ bản vừa có tính độc lập tương đối
với nhau, vừa có mối liên hệ chặt chẽ với nhaut rong một thể thống nhất.
Tính cách mạng của giai cấp công nhân là yếu tố giữ vị trí trung tâm, cốt
lõi, cơ bản nhất, có vai trò quyết định trong hệ thống các yếu tố cơ bản cấu thành
bản chất chính chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tính cách mạng
của giai cấp công nhân là thuộc tính, đặc trưng cơ bản nhất trên phương diện chính
trị - xã hội phản ánh mối liên hệ giữa quân đội với giai cấp đã xây dựng và tổ chức
ra nó và đội tiên phong của giai cấp là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tính cách mạng là thuộc tính, đặc trưng cơ bản nhất trên phương diện chính
trị - tư tưởng và tổ chức của giai cấp công nhân. Do đó, “tính cách mạng của giai
cấp công nhân” là nội dung chủ yếu của các khái niệm “bản chất giai cấp công
nhân” hoặc “bản chất cách mạng của giai cấp công nhân”- những khái niệm cùng
loại và đồng nghĩa.
Tính cách mạng của giai cấp công nhân cũng là nội dung chủ yếu của khái
niệm “bản chất giai cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam”. Bản chất giai cấp của
quân đội ta chính là tính cách mạng của giai cấp công nhân được biểu hiện trên
động thực tiễn của quân đội, trong đó quân đội thực hiện đầy đủ các chức năng
chiến đấu, công tác và sản xuất. Chính trong hoạt động thực tiễn thực hiện đầy đủ
các chức năng này, bản chất chính chính trị - xã hội của quân đội ta mới được thể
hiện đầy đủ và rõ nét, trong đó không chỉ thể hiện tính cách mạng của giai cấp
công nhân mà còn thể hiện cả tính nhân dân và tính dân tộc.
Tính nhân dân và tính dân tộc là những yếu tố giữ vị trí cơ bản, có vai trò
rất quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống các yếu tố cấu thành bản chất chính
trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tính nhân dân và tính dân tộc của
quân đội ta là những thuộc tính, đặc trưng cơ bản trên phương diện chính trị - xã
hội phản ánh mối liên hệ giữa quân đội với quốc gia - dân tộc và cộng đồng xã hội
bao gồm các tầng lớp nhân dân đặc biệt là nông dân và trí thức yêu nước đã cùng
với giai cấp công nhân xây dựng, tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng quân đội.
Tính nhân dân của quân đội ta thể hiện mối liên hệ máu thịt giữa các tầng
lớp nhân dân với một quân đội kiểu mới thực sự của dân, do dân và vì dân. Trước
hết, trên phương diện chính trị - tư tưởng, mục tiêu chiến đấu của quân đội ta là
nhằm bảo vệ lợi ích của nhân dân, vì hạnh phúc của nhân dân. Trên phương diện tổ
chức, quân đội là bộ phận nòng cốt trong lực lượng vũ trang của nhân dân, trong đó
quân nhân là một bộ phận hữu cơ của nhân dân, xuất thân từ nhiều tầng lớp nhân
dân. Mọi hoạt động của quân đội, từ chiến đấu, công tác đến sản xuất đều có mối
liên hệ chặt chẽ với đời sống của nhân dân, quân đội phục vụ nhân dân, nhân dân
nuôi dưỡng và xây dựng quân đội.
Tính dân tộc của quân đội thể hiện tập trung ở mục tiêu chiến đấu của quân
đội ta là bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia - dân tộc, bảo vệ sự tồn
tại và phát triển của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ với cộng
đồng các quốc gia - dân tộc khác trên thế giới.
Tính cách mạng của giai cấp công nhân có mối liên hệ chặt chẽ với tính
nhân dân và tính dân tộc trong một thể thống nhất, tác động biện chứng lẫn
nhau. Tính cách mạng của giai cấp công nhân đem lại nội dung khoa học và cách
ta, mưu toan tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Sự hình thành, phát triển bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân
Việt Nam là một quá trình lịch sử, trong đó nổi lên một số vấn đề có tính qui luật.
Hiện nay, việc xây dựng bản chất chính chính trị - xã hội của quân đội ta
đang đứng trước những yêu cầu mới.
Để xác định đúng những yêu cầu và giải pháp cơ bản của việc xây dựng bản
chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay,
cần phát hiện, khái quát và phân tích từ góc độ triết học những vấn đề có tính qui
luật đó.
I.2. Một số vấn đề có tính qui luật của quá trình hình thành, phát triển bản
chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Quá trình hình thành, phát triển bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân
dân Việt Nam đã trải qua chiều dài lịch sử hơn nửa thế kỷ, trong đó bản chất chính
trị - xã hội của quân đội ta không phải đã được hình thành một cách ngẫu nhiên, cố
định, bất biến, tự phát, mà đã được tích cực, chủ động xây dựng, phát triển không
ngừng một cách tự giác. Trong quá trình đó, nhiều vấn đề cơ bản đã được giải
quyết một cách đúng đắn, sáng tạo cả về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn, phù
hợp với qui luật khách quan, điều kiện khách quan.
Dưới đây là ba vấn đề cơ bản có tính quy luật của quá trình hình thành, phát
triển bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Thứ nhất: bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam
được hình thành và phát triển trên cơ sở sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố
thuộc kiến thức thượng tầng, trong đó sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
là nhân tố cơ bản hàng đầu, giữ vai trò quyết định.
Nghiên cứu các quy luật về sự tồn tại và phát triển của quân đội, các nhà triết
học - xã hội học quân sự Xô viết thuộc Liên Xô cũ cho rằng sựt ồn tại và phát triển
của quân đội chịu sự tác động của hai nhóm qui luật.
công nhân Việt Nam, mầm mống đầu tiên trong thiết chế chính trị sơ khai của một
xã hội mới, đã trực tiếp xây dựng và tổ chức ra những đội quân vũ trang này.
Khi giành được chính quyền, bản chất chính trị - xã hội của quân đội ta tiếp
tục được hình thành và phát triển trên cơ sở sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố
thuộc kiến trúc thượng tầng, trong đó, đặc biệt là sự tác động của các tổ chức, thiết
chế quan trọng trong hệ thống chính trị như Đảng cộng sản, Nhà nước và các tổ
chức chính trị của xã hội.
Sự phân tích dưới đây tập trung nêu bật vị trí lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam như là nhân tố cơ bản hàng đầu, giữ vai trò quyết định đối với quá trình
hình thành phát triển bản chất chính trị - xã hội của quân đội ta. Vị trí, vai trò này
được qui định bởi những yêu cầu khách quan của lịch sử.
Trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền (1930-1931), yêu cầu khách
quan cấp thiết đặt ra ngay từ đầu lực lượng vũ trang cách mạng phải được đặt dưới
sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng cộng sản, trở thành mầm mống vững chắc của một
quân đội kiểu mới, một quân đội có tính cách mạng của giai cấp công nhân, tính
nhân dân và tính dân tộc - những đặc trưng chính trị - xã hội cơ bản bảo đảm cho
nó có đủ sức mạnh thực hiện mọi nhiệm vụ chính trị của Đảng.
Trong giai đoạn kháng chién chống thực dân Pháp, với một quân đội non trẻ
mới được thành lập, phải đương đầu với đội quân viễn chinh nhà nghề của thực dân
Pháp, tình hình và nhiệm vụ chính trị, quân sự của giai đoạn này đòi hỏi tiếp tục
giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với quân đội.
Thành phần xã hội - giai cấp của quân đội lúc này tuyệt đại bộ phận là nông
dân. Trong quá trình phát triển, cùng với nhu cầu về số lượng (từ các trung đoàn
phát triển thành các đại đoàn chủ lực tập trung, đồng thời phát triển mạnh mẽ bộ
đội địa phương bên cạnh mạng lưới dân quân du kích) đã xuất hiện nhu cầu cấp
bách về nâng cao chất lượng, đặc biệt là chất lượng chính trị. Việc xây dựng một
quân đội cách mạng kiểu mới của giai cấp công nhân trong giai đoạn lịch sử này
đỏi hỏi phải tiến hành một cuộc đấu tranh trong nội bộ quân đội nhằm chống lại
sụp đổi của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, sự chuyển hướng
của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch sang thực hiện chiến lược “Diễn biến
hoà bình”, yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với quân đội ta lúc này là bảo vệ vững chắc
độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
sự ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất
bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự
nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đồng thời với việc làm tốt chức năng đội quân
chiến đấu, quân đội ta còn phải đáp ứng yêu cầu là đội quân công tác và đội quân
lao động sản xuất, góp phần tích cực xây dựng và bảo vệ vững chắc đất nước.
Chủ thể của quá trình xây dựng bản chất chính trị - xã hội của quân đội ta
là toàn bộ hệ thống chính trị của xã hội xã hội chủ nghĩa đang được xây dựng,
trong đó mỗi tổ chức, thiết chế có vị trí, vai trò khác nhau nhưng đều có mối liên
hệ mật thiết với nhau. Tác động của các tổ chức, thiết chế này đến quân đội là sự
tác động theo chức năng, vị trí, vai trò của từng bộ phận trong hệ thống chính trị,
đồng thời cũng là sự tác động tổng hợp của cả hệ thống đến mọi quân nhân, mọi tổ
chức trong quân đội (khái niệm quân nhân trong luận án là khái niệm qui ước,
chỉ mọi đối tượng đang hoạt động trong quân đội, từ đội ngũ đảng viên, đoàn
viên đến quần chúng, từ cán bộ đến chiến sĩ, từ cán bộ chính trị đến cán bộ quân
sự, cán bộ hậu cần, cán bộ chuyên môn kỹ thuật - nghiệp vụ và công nhân viên
quốc phòng).
Trước những yêu cầu khách quan đặt ra trên đây, chủ thể của quá trình xây
dựng bản chất chính trị - xã hội của quân đội ta đã có nhiều nỗ lực chủ quan mang
tính tích cực, chủ động, tự giác nhằm đáp ứng những yêu cầu khách quan đặt ra.
Xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam và dựa trên
nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lê-nin, từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã nhận thức được những yêu cầu khách quan trên đây, đồng thời trực tiếp
chỉ đạo, tổ chức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
Từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh cách mạng của mình, Đảng ta đã khẳng
tộc và dân chủ mới... tính chất của quân đội ta là dân tộc, dân chủ và nhân
dân”(71).
Trong tác phẩm này, đồng chí Trường Chinh cũng khái quát những nhân tố
chủ yếu bảo đảm cho việc xây dựng một quân đội cách mạng kiểu mới thực hiện
được mục tiêu và tính chất trên đây:
“Quân đội ta là của nhân dân, chủ yếu là của công nông do giai cấp công
nhân lãnh đạo. Thành phần trong quân đội có thể là công nhân, nông dân và trí
thức cách mạng, nhưng chủ yếu là công nhân, nông dân, mà tuyệt đại đa số là nông
dân. Nói chung, những cán bộ trong quân đội phải thuộc các thành phần cơ bản và
phải theo chủ nghĩa Mác- Lê-nin.
Công tác chính trị trong quân đội có tính chất quyết định đối với xây dựng
lực lượng cũng như đối với tác chiến. Công tác đó cốt làm cho quân đội có tinh
thần yêu nước nồng nàn và tinh thần quốc tế vô sản chân chính, có tinh thần xung
phong chiến đấu và dũng cảm hy sinh vì quyền lợi tối cao của dân tộc, có ý thức
phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân vô điều kiện, có kỷ luật tự giác, luôn luôn tăng
cường sự đoàn kết nội bộ, đoàn kết với nhân dân và biết tuyên truyền để làm tan rã
tinh thần quân địch.
Phải luôn luôn củng cố lập trường tư tưởng và bồi dưỡng đạo đức cách mạng
cho cán bộ v à binh sĩ, đồng thời xây dựng tư tưởng chiến lược, chiến thuật đúng
đắn cho quân đội ta. Muốn thế, phải rất coi trọng công tác giáo dục cho quân đội về
chủ nghĩa Mác- Lê-nin và đường lối, chính sách của Đoàn thể lãnh đạo và của
Chính phủ”(71).
Trong năm biện pháp nhằm tăng cường chuyên chính dân chủ nhân dân do
đồng chí Trường Chinh trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 21952), biện pháp số một được xác định là “Củng cố vai trò lãnh đạo cách mạng của
giai cấp công nhân, tức là của Đảng”(71), trong đó trọng tâm là “củng cố vai trò
lãnh đạo của Đảng ta trong chính quyền, mặt trận và quân đội”(71).
Những vấn đề trên đây là nội dung cơ bản có ý nghĩa chỉ đạo việc xây dựng
quân đội ta trong các giai đoạn lịch sử của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân