Điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của pháp luật dân sự việt nam - Pdf 53

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................... ii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT.................................................................iii
ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN................................................................iii
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI..........................................6
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU CỦA DI
CHÚC..................................................................................................................... 16
1.1. Một số vấn đề lý luận về di chúc................................................................ 16
1.1.1. Khái niệm về di chúc............................................................................. 16
1.1.2. Các dấu hiệu đặc trưng của di chúc..................................................... 21
1.2. Khái niệm và đặc điểm điều kiện có hiệu lực của di chúc....................... 26
1.2.1. Khái niệm điều kiện có hiệu lực của di chúc....................................... 26
1.2.2. Đặc điểm điều kiện có hiệu lực của di chúc......................................... 47
1.3. Cơ sở khoa học hình thành điều kiện có hiệu lực của di chúc.................53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1...................................................................................... 61
Chương 2. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC..................................................... 62
2.1. Điều kiện để di chúc hợp pháp................................................................... 62
2.1.1. Quy định của pháp luật về người lập di chúc....................................... 62
2.1.2. Quy định của pháp luật về nội dung của di chúc................................. 76
2.1.3. Quy định của pháp luật về yếu tố tự nguyện trong di chúc.................89
2.1.4. Quy định của pháp luật về hình thức di chúc......................................95
2.2. Điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật.................................109
2.2.1. Quy định của pháp luật về người lập di chúc chết.............................110
2.2.2. Quy định của pháp luật về người được chỉ định hưởng thừa kế theo di
chúc còn sống, còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế..................................114
2.2.3. Quy định của pháp luật về di sản thừa kế được định đoạt trong di chúc
còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế...........................................................121
2.3. Điều kiện để di chúc được thi hành.........................................................125

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN........................................................................182
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................183
PHỤ LỤC 1..........................................................................................................193
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU.....................................................193
PHỤ LỤC 2..........................................................................................................234
KHÁI LƯỢC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DI CHÚC VÀ
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC..................................................234
PHỤ LỤC 3..........................................................................................................240
MỘT SỐ BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH, VỤ VIỆC THỰC TẾ VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ
HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC...............................................................................240


i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là
trung thực. Những phân tích, kết luận khoa học của luận
án chưa từng được ai công bố ở bất kì công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Hoàng Thị Loan


ii
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm

:
:
:
:
:
:
:
:

Bộ luật Dân sự
Bộ luật Dân sự của nước CHXHCN Việt Nam năm 1995
Bộ luật Dân sự của nước CHXHCN Việt Nam năm 2005
Bộ luật Dân sự của nước CHXHCN Việt Nam năm 2015
Nghiên cứu sinh
Nhà xuất bản
Pháp luật dân sự
Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân Tối cao
Trang
Uỷ ban nhân dân


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người là thực thể xã hội [43, tr. 673], đồng thời là thực thể sinh học mà sự
sống, cái chết của họ luôn chịu tác động bởi quy luật tự nhiên. Cái chết làm chấm
dứt sự tồn tại con người sinh học đồng thời làm chấm dứt năng lực chủ thể của
chính họ trong mọi quan hệ pháp lý. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của quan hệ thừa kế,
cái chết xảy đến với con người không làm chấm dứt tất cả các quan hệ xã hội mà họ



2

của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc đang được ghi nhận tại BLDS
năm 2015 đều được kế thừa từ các văn bản quy phạm trước đó. Cho nên, những hạn
chế, bất cập, thiếu sót của các quy định này vẫn tồn tại và gây ra nhiều “nhức nhối”
trong hoạt động nghiên cứu cũng như hoạt động xét xử; (ii) Sự phát triển mọi mặt
của đời sống kinh tế, xã hội đã tác động mạnh mẽ tới nhận thức, hành vi của con
người, kéo theo sự thay đổi trong quan hệ thừa kế, đặc biệt thừa kế theo di chúc.
Dẫn đến, nhiều quy định không còn phù hợp với thực tế.
Cơ quan tiến hành tố tụng nhận định, tranh chấp thừa kế ở nước ta được xem là
loại án dân sự phổ biến, phức tạp, có những vụ án tranh chấp kéo dài hàng chục năm
䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢h䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢i䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢j䰢ǝ䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢䰢k91
Nguyên nhân quan trọng
dẫn đến tranh chấp thừa kế phức tạp bởi vì đây là quan hệ tranh chấp đặc thù,
thường xảy ra giữa những người thân thích có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi
dưỡng với nhau; sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng quy định của pháp luật để
đưa ra phán quyết; sự ảnh hưởng của các giá trị truyền thống về văn hoá, đạo lý
trong gia đình hay khi giải quyết tranh chấp thừa kế… Trong các tranh chấp đó, số
lượng các tranh chấp liên quan đến di chúc cũng ngày càng nhiều lên. Vấn đề này
xuất phát từ: (i) sự chưa rõ ràng và thiếu sót của các quy định liên quan đến điều
kiện để một di chúc được thừa nhận là hợp pháp; (ii) quy định của pháp luật về các
điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực thi hành cũng chưa bao quát được tất cả các
trường hợp phát sinh ngày càng đa dạng trong thực tế xã hội; (iii) nhận thức của
người dân về di chúc, việc lập di chúc cũng như quyền, nghĩa vụ của chủ thể trong
quan hệ thừa kế tăng lên nhưng chưa thực sự
đầy đủ và toàn diện.
Nghiên cứu BLDS của một số quốc gia trên thế giới và các công trình khoa
học có liên quan cho thấy, vấn đề lý luận chuyên sâu đối với các điều kiện có hiệu

Một là, luận án tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam về điều
kiện có hiệu lực của di chúc, đặc biệt chú trọng tới BLDS năm 2015 – văn bản quy
phạm pháp luật hiện hành đang quy định về điều kiện có hiệu lực của di chúc tại
Phần thứ tư, chương XXI, XXII của BLDS năm 2015. Trong đó, có sự phân bổ
thành các nhóm điều kiện cụ thể: Để di chúc hợp pháp; để di chúc phát sinh hiệu lực
pháp luật; để di chúc được thi hành.
Hai là, trong quá trình nghiên cứu PLDS của Việt Nam về điều kiện có hiệu lực
của di chúc, NCS sẽ lồng ghép, so sánh với pháp luật của một số quốc gia khác trên thế
giới như Pháp, Nhật, Thái Lan, Đức… để chỉ ra điểm tương đồng cũng như khác biệt,
điểm phù hợp, chưa phù hợp trong việc quy định các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
Thứ hai, về phạm vi thời gian nghiên cứu.
Một là, luận án tập trung vào các quy định của BLDS năm 2015 về điều kiện
có hiệu lực của di chúc bằng việc: (i) phân tích, bình luận từng quy định đối với
điều kiện để di chúc hợp pháp, các điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật
và điều kiện để di chúc được thi hành; (ii) có chỉ ra điểm mới so với các BLDS
trước đó khi đề cập tới các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
Hai là, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng pháp luật, NCS sẽ nghiên cứu
thực tiễn áp dụng thông qua một số bản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc những vụ
việc thực tế diễn ra trong xã hội qua đó đánh giá quy định pháp luật hiện hành, đồng
thời đưa ra một số kiến nghị đề xuất cho từng điều kiện có hiệu lực của di chúc.
0 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về di chúc, điều kiện có
hiệu lực của di chúc. Đặc biệt, xây dựng khái niệm riêng về điều kiện có hiệu lực
của di chúc, xác định cơ sở lý luận, thực tiễn của việc quy định các điều kiện có
hiệu lực của di chúc, nêu được lược sử hình thành và phát triển quy định của pháp
luật Việt Nam qua một số thời kì về điều kiện có hiệu lực của di chúc.


4
Bên cạnh các vấn đề về lý luận, luận án còn làm rõ quy định của pháp luật

điều kiện có hiệu lực của di chúc.
Thứ tư, phân tích, bình luận quy định BLDS năm 2015 và quy định pháp luật
trước đó về điều kiện có hiệu lực của di chúc. Qua đó, NCS đánh giá được ưu điểm,
nhược điểm của từng điều kiện đặt trong bối cảnh nghiên cứu khoa học về luật thực
định và thực tiễn áp dụng.
Thứ năm, tại mỗi điều kiện có hiệu lực của di chúc, NCS có lồng ghép, đồng thời
phân tích so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới nhằm chỉ ra những
điểm hợp lý hay chưa hợp lý để định hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam.


5
Thứ sáu, đưa ra một số lượng án thực tiễn nhất định qua đó chỉ ra điểm ưu và
hạn chế trong hoạt động xét xử khi áp dụng các điều kiện có hiệu lực của di chúc để
giải quyết tranh chấp về thừa kế.
Thứ bảy, trên cơ sở bình luận, đánh giá lồng ghép trong mỗi quy định của
pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc, NCS có chỉ ra bất cập, hạn chế còn
tồn đọng, đồng thời đưa ra kiến nghị đề xuất của bản thân nhằm hoàn thiện từng
quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án bao gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về điều kiện có hiệu lực của di chúc
Chương 2. Thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện có hiệu
lực của di chúc
Chương 3. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện quy định của
pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc


6


Tạp chí TAND, số 8. Trao đổi với bài viết của tác giả Nguyễn Tiến Lực tại Tạp chí


7
TAND, số 5- 1998 xoay quanh việc xác định phần vô hiệu của di chúc, tác giả
Vương Tất Đức đồng ý với cách đặt vấn đề của tác giả bài viết nhưng cũng khẳng
định lập luận của các ý trong bài viết là không có căn cứ. Đồng thời, tác giả phân
tích rõ hơn trường hợp bị truất quyền hưởng di sản thừa kế (không phải là người
thừa kế theo quy định tại Điều 672 BLDS năm 1995) mà chết trước người để lại di
sản thì di chúc vẫn có hiệu lực pháp luật.
0Bài viết của Nguyễn Tiến Lực (1998) về “Một vài vấn đề xung quanh việc
xác định phần vô hiệu của di chúc”, Tạp chí TAND, số 5. Bài viết được tác giả đề
cập tới việc xác định di chúc vô hiệu một phần hoặc toàn bộ khi gắn với các khoản
2, 3, 4 Điều 670 BLDS năm 1995. Ngoài việc chỉ ra cách xác định di chúc vô hiệu
một phần hoặc toàn bộ, tác giả còn gợi mở vấn đề di chúc chỉ định cho một người
và người khác (vẫn thuộc diện thừa kế theo pháp luật) của người chết lại chết trước
hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản đồng thời người này (được hưởng kỷ
phần bắt buộc) có con (thế vị). Phần bài viết của tác giả có đưa ra một vài quan
điểm, đồng thời tác giả có đưa ra quan điểm của mình liên quan đến cách xác định
phần di chúc vô hiệu.
1Bài viết của Trần Văn Tuân (1999) về “Một số ý kiến về việc xác định phần
vô hiệu của di chúc”, Tạp chí TAND, số 3. Bài viết bình luận quan điểm khoa học
của tác giả Nguyễn Tiến Lực tại Tạp chí TAND, số 5- 1998 khi đề cập tới xác định
di chúc bị vô hiệu một phần hay toàn bộ. Ngoài việc, thống nhất và không thống
nhất với tác giả ở một số nội dung liên quan đến xác định phần vô hiệu của di chúc,
tác giả còn nêu ra một trường hợp khác cũng liên quan đến việc xác định hiệu lực
của di chúc.
2Bài viết của Trà My (1999) về “Xung quanh vấn đề di chúc trong Bộ luật
dân sự”, Tạp chí TAND, số 9. Bài viết thể hiện quan điểm trao đổi với tác giả Thái
Công Khanh về bài viết “Một số ý kiến về Bộ luật Dân sự”. Ngoài việc đồng ý với

quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc ban hành văn bản cần thiết, giúp cho việc
thi hành những quy định về di chúc miệng được thuận lợi và thống nhất.
23 Bài viết của Nguyễn Hồng Nam (2006) về “Hiệu lực của di chúc bằng văn bản
có "viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu"”, Tạp chí TAND, số 1. văn bản có "viết tắt hoặc viết
bằng ký hiệu"”, Tạp chí TAND, số 1. Bài viết được tác giả đặt ngược vấn đề khi bình xét
quy định của pháp luật về nội dung của di chúc. Cụ thể: Vấn đề tác giả đặt ra là “nếu di
chúc được viết tắt hoặc việt bằng ký hiệu thì hiệu lực của di chúc đó như thế nào?”
24 Bài viết của Vũ Văn Tiếu (2010) về “Bàn về di chúc thực tế”, Tạp chí TAND,

số 9. Bài viết đưa ra một tình huống thực tiễn liên quan đến việc lập di chúc. Trong

đó, di chúc vừa vi phạm về nội dung vừa vi phạm về hình thức nhưng bản thân
người thừa kế cũng đã thừa nhận nội dung của bản di chúc và khi tranh chấp, cấp
hòa giải cơ sở cũng đã có được biên bản hòa giải theo hướng chấp nhận cơ bản
những nội dung của bản di chúc. Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả về vấn đề
“xác định các yếu tố khác làm lên di chúc hợp pháp như nội dung và hình thức di
chúc có chung một xuất phát điểm là ý chí của người lập”. Yếu tố ý chí mới là yếu
tố quan trọng nhất xuyên suốt các điều kiện thừa nhận di chúc hợp pháp.
25 Bài viết của Thái Công Khanh (2010) về “Những khó khăn, vướng mắc

trong việc lập di chúc và chứng nhận di chúc”, Tạp chí TAND, số 13. Bài viết tập
trung vào phân tích những khó khăn, vướng mắc trong việc lập di chúc và chứng
nhận di chúc như: Chỉ ra những khó khăn cho người lập di chúc như sự thiếu hiểu
biết về pháp luật, pháp quy định thiếu sự rõ ràng hay những khó khăn, vướng mắc
cho Công chứng viên khi thực hiện hoạt động nghiệp vụ của mình liên quan đến xác
định các yếu tố trước khi công chứng bản di chúc. Đồng thời, tác giả đưa ra một số
chỉ dẫn cho việc tháo gỡ những bất hợp lý trên bằng việc tham khảo pháp luật nước
ngoài về lập di chúc và chứng nhận di chúc.
1.1.4. Sách chuyên khảo
26 Cuốn sách “Tìm hiểu dân luật Việt Nam” (1975) của tác giả Trịnh Khánh

5890
Cuốn sách “Pháp luật Hôn nhân - Gia đình, thừa kế và thực tiễn xét
xử”
(2013) của tác giả Tưởng Duy Lượng, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật. Cuốn sách
viết về pháp luật hôn nhân, gia đình, thừa kế và thực tiễn xét xử. Trong đó, tác giả
phân định thành hai phần rõ rệt là pháp luật hôn nhân – gia đình và thực tiễn xét xử;
pháp luật thừa kế và thực tiễn xét xử. Tại phần thừa kế, tác giả triển khai một số quy
định pháp luật và vụ án thực tiễn liên quan tới các tranh chấp về thừa kế.
5891
Cuốn sách chuyên khảo “Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình
luận bản
án” Tập 1 (2013) của tác giả Đỗ Văn Đại, Nxb Chính trị quốc gia. Cuốn sách nằm
trong seri chuyên khảo nghiên cứu, bình luận án trong lĩnh vực PLDS ở nước ta.
Cuốn sách có chọn lọc các vụ án trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam về thừa kế và phân
bổ nhỏ lẻ trong các mục nội dung theo chủ để. Trong đó, có rất nhiều án liên quan
đến điều kiện có hiệu lực của di chúc.
1.2. Một số công trình khoa học nước ngoài
5892
Nakagawa jun và Ogawa tomiyuki (2013) “Về pháp luật gia đình”,
Nxb,
Houritsu Bunka Sha, Nhật Bản. Cuốn sách dàn trải nội dung cả lĩnh vực dân sự và
hôn nhân gia đình. Tại Chương 13, các tác giả có nghiên cứu và viết về “thừa kế và
di chúc” trong đó, các nội dung được đề cập cụ thể bao gồm: Khái niệm di chúc,
các điều kiện của di chúc phải phù hợp quy định của pháp luật, trong đó có năng
lực lập di chúc, các điều kiện của di chúc, hình thức của di chúc.
5893
Bernard BEIGNIER, Sarah TORRICELLI-CHRIFI (2015),
“Libéralité et successions” (Tặng cho và thừa kế), Nxb LGDJ. Cuốn sách được tác
giả nghiên cứu hai chế định tặng cho và thừa kế. Trong nội dung phần thừa kế, một


pháp lý của nó và một số nội dung khác.
24 Đánh giá kết quả nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề
tài luận án
2.1. Về mặt lý luận
23 Về bản chất điều kiện có hiệu lực của di chúc: Chưa được công trình nào
công bố.
24 Về khái niệm và đặc điểm điều kiện có hiệu lực của di chúc: Một vài công
trình
đưa ra khái niệm nhưng chưa chỉ ra dấu hiệu riêng biệt của điều kiện có hiệu lực của
di chúc như: Luận văn thạc sĩ luật học của Trịnh Hữu Toản (2016) về “Điều kiện có
hiệu lực của di chúc”. Hay luận văn thạc sĩ luật học của Lương Thị Hợp (2012) về
“Một số vấn đề về thừa kế theo di chúc và thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa
kế theo di chúc tại Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng”.
25 Về học thuyết, cơ sở cho việc ghi nhận các điều kiện có hiệu lực của di
chúc. Về học thuyết, chưa có công trình nào đề cập. Về cơ sở lý luận, thực tiễn,
trong luận văn thạc sĩ của mình, Trịnh Hữu Toản có đề cập. Tuy nhiên, những gì tác
giả này đề cập còn rất sơ sài, đơn giản chưa lột tả được bản chất của việc ghi nhận
các điều kiện có hiệu lực của di chúc trong quy định của pháp luật.


12
5888
Khái niệm, đặc điểm các điều kiện có hiệu lực của di chúc: Một vài
công trình có đề cập tới từng điều kiện riêng lẻ như: Cuốn sách “Thừa kế theo quy
định của pháp luật và thực tiễn áp dụng” (2007), tác giả Phạm Văn Tuyết viết về
người lập di chúc, nội dung của di chúc, yếu tố tự nguyện trong di chúc, hình thức
của di chúc và các sự kiện gây mất hiệu lực của di chúc. Cuốn sách “Tìm hiểu dân
luật Việt Nam” (1975), tác giả Trịnh Khánh Phong viết về các điều kiện để di chúc
hợp pháp nói chung. Cuốn sách “Luật thừa kế Việt Nam” (2008), tác giả Phùng
Trung Tập đề cập tới các yếu tố như ai, như thế nào, ngoại lệ ra sao đối với người

Một số vấn đề lý luận về di chúc, điều kiện có hiệu lực của di chúc


5890
Hệ thống một vài góc nhìn về di chúc, các đặc trưng của di chúc:
Luận án là công trình tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống các góc nhìn, quan
niệm khác


13
nhau về di chúc. Qua đó, luận án cũng đưa ra các đặc tính phổ quát và riêng biệt của
loại giao dịch này.
23 Về bản chất điều kiện có hiệu lực của di chúc: Luận án sẽ là công trình đầu
tiên nghiên cứu về bản chất về điều kiện có hiệu lực của di chúc.
24 Về khái niệm điều kiện có hiệu lực của di chúc: Luận án sẽ tiếp tục nghiên
cứu và hoàn thiện xây dựng khái niệm này.
25 Về các điều kiện có hiệu lực của di chúc: Luận án tập trung nghiên cứu và
lý giải tại sao pháp luật qua các thời kì ở Việt Nam ghi nhận các điều kiện này.
26 Về lược sử quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc: Luận
án sẽ sơ lược pháp luật Việt Nam qua các thời kì lịch sử để xác định rõ thêm lý do,
nguồn gốc đối với các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc.
2.2.2. Điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự
năm 2015
2.2.2.1.Điều kiện để di chúc hợp pháp
Trên cơ sở bình luận, so sánh đối chiếu sự thay đổi với các BLDS trước đó,
đặc biệt là BLDS năm 2005, luận án sẽ chỉ ra, đồng thời phân tích từng điều kiện
một di chúc buộc phải tuân theo để phát sinh hiệu lực pháp luật.
5888 Điều kiện về người lập di chúc
Để di chúc đó hợp pháp, luận án sẽ chỉ ra cá nhân được lập di chúc là ai? Điều
kiện áp dụng đối với một cá nhân khi lập di chúc mà pháp luật buộc phải tuân theo

23 Người lập di chúc đã chết
Luận án xác định rõ sự khác biệt của di chúc với các giao dịch khác thông qua
các dấu hiệu đặc trưng của nó. Điểm khác biệt nhất là, di chúc có hiệu lực từ thời
điểm cá nhân để lại di sản chết. Do vậy, khi còn sống cá nhân có lập di chúc ở thời
điểm nào, nội dung ra sao, có tự nguyện hay không, hình thức như thế nào mới chỉ
là điều kiện để pháp luật ghi nhận tính hợp pháp. Còn di chúc có được thực thi hay
không phụ thuộc vào điều kiện đầu tiên là cá nhân để lại di sản đã chết hay chưa?
Trong phần này, tác giả sẽ phân tích và chỉ ra các trường hợp được coi là chết đối
với cá nhân để từ đó xác định thời điểm di chúc bắt đầu phát sinh hiệu lực thi hành.
5888
Về người thừa kế
Luận án đề cập và phân tích các quy định về người thừa kế là cá nhân, không
phải là cá nhân. Với quy định về người thừa kế và hiệu lực của di chúc, luận án tập
trung vào việc xác định đây là sự kiện có thể gây mất hiệu lực của di chúc. Vì người
thừa kế không còn sống hoặc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; được chỉ
định hưởng trong di chúc nhưng lại tư chối hưởng; được chỉ định hưởng trong di
chúc nhưng bị tước bỏ quyền hưởng do vi phạm quy định pháp luật đều dẫn đến
thực tế di chúc không thể thực thi. Bên cạnh đó, luận án còn chỉ ra một số bất cập,
thiếu sót đối với quy định pháp luật về người thừa kế và tiếp tục kiến nghị hoàn
thiện.
0 Về di sản thừa kế
Luận án tập trung vào việc xác định di sản thừa kế là gì, quy định của pháp
luật đặt ra yêu cầu đối với sự tồn tại của di sản ở thời điểm mở thừa kế để đảm bảo
giá trị thực thi bản di chúc. Bên cạnh việc phân tích các quy định của pháp luật về
di sản thừa kế, luận án cũng chỉ ra những thiếu sót cần hoàn thiện và định hướng
hoàn thiện về vấn đề này.
2.2.2.3. Điều kiện để di chúc được thi hành
0 Về người thừa kế
Đây là điều kiện vừa thuộc nhóm điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực vừa
thuộc nhóm điều kiện để di chúc được thi hành. Trong quá trình phân tích quy định của

lẻ đối với từng điều kiện cụ thể. Đặc biệt, sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật,
sự hệ thống hoá các điều kiện có hiệu lực của di chúc từ hoạt động nghiên cứu lý luận cho
tới thực tiễn áp dụng chưa được công trình nào khái quát toàn diện. Chính vì vậy, nghiên
cứu và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật một cách toàn diện cho quy định điều kiện có
hiệu lực của di chúc là một việc làm cần thiết phải thực hiện.

Trên đây là nội dung tóm tắt tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài. Nội
dung chi tiết được tác giả trình bày trong phần Phụ lục 1 đính kèm luận án này.


16
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU CỦA DI CHÚC
1.1. Một số vấn đề lý luận về di chúc
1.1.1. Khái niệm về di chúc
Cá nhân là một thực thể trong xã hội và cũng chính cá nhân là thành viên của
các thực thể khác trong xã hội như gia đình, tổ hợp tác, pháp nhân nên có thể nói cá
nhân là chủ thể trong mọi quan hệ xã hội.
Trong quá trình sống, mỗi cá nhân luôn phải cố gắng tạo ra của cải vật chất,
bởi bất kỳ một chủ thể nào muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa trên những nhu
cầu vật chất nhất định. Của cải mà cá nhân xác lập một cách hợp pháp (thuộc sở
hữu của họ) được sử dụng để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất
kinh doanh khi còn sống và sẽ trở thành di sản khi cá nhân chết. Tài sản của cá nhân
còn lại sau khi cá nhân chết sẽ trở thành di sản, được dịch chuyển cho các chủ thể
khác (cá nhân còn sống, pháp nhân còn tồn tại) theo các trình tự thừa kế hoặc thuộc
về Nhà nước. Trong đó, di sản có thể được dịch chuyển cho chủ thể khác theo ý chí
của người đã chết nếu trước khi chết, người để lại di sản đã thể hiện ý chí đó theo
một hình thức nhất định. Nhìn nhận một cách chung nhất thì việc cá nhân thông qua
một hình thức nhất định nhằm thể hiện ý chí của mình về việc dịch chuyển di sản

không đủ căn cứ để phân chia di sản. Cho nên, có quan điểm nhìn nhận rằng:
“Trong quan hệ giữa các thành viên của một gia đình, lối ứng xử theo tâm,
theo nghĩa càng được biểu hiện đậm nét hơn bởi tư tưởng hiếu, lễ, hòa, mục
giữa những người ruột thịt với nhau. Với tư tưởng này, không ai nghĩ sẽ có
chuyện tranh chấp, kiện tụng xảy ra giữa những người ruột thịt. Vì thế, một
người trước khi nhắm mắt thường nghĩ rằng theo lời dặn lại của mình,
những người còn sống sẽ cứ thế mà thực hiện và hưởng di sản một cách hòa
thuận nên di chúc mà người chết để lại đa phần chỉ là những lời trăng trối,
người ta ít quan tâm đến hình thức thể hiện lời dặn dò đó phải như thế nào,
phải tuân thủ những gì mà pháp luật đã quy định” [67, tr.131].
Ngày nay, do đời sống kinh tế ngày một phát triển nên di sản mà người chết để
lại thường có giá trị lớn, thậm chí rất lớn. Di sản không chỉ bao gồm nhà cửa, ruộng
vườn và những của cải để dành mà còn bao gồm nguồn vốn mà người chết đầu tư
vào các công ty khi còn sống, thậm chí còn là cả một sản nghiệp của công ty gia
đình, hoặc duy trì và phát triển khối tài sản mà mình đã tạo dựng cả đời. Vì thế,
trước lúc chết, người ta buộc phải nghĩ đến việc lập di chúc để phân định các tài sản
còn lại đó cho ai, xác định ai là người kế thừa để duy trì hoạt động, phát triển doanh
nghiệp, công ty gia đình. Mong muốn di chúc do mình lập ra đầy đủ các điều kiện
để được coi là một căn cứ phân chia di sản về sau này, người để lại di chúc thường
tìm đến các Văn phòng luật sư để thực hiện dịch vụ tư vấn soạn thảo di chúc. Tuy
nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà nhiều di chúc dù nội dung có sự thể
hiện ý chí về định đoạt di sản sau khi chết nhưng vẫn không đáp ứng được các điều
kiện để trở thành một căn cứ pháp lý trong việc dịch chuyển di sản. Lý do dẫn đến
những trường hợp này có thể là người để lại di sản tự lập di chúc trong khi không
nắm bắt hoặc không hiểu hết các yếu tố pháp lý cần có đối với một di chúc hợp
pháp, có thể là do các sự kiện khác xảy ra làm cho di chúc thất hiệu (không còn hiệu
lực thi hành) như người được hưởng di sản theo di chúc chết trước hoặc chết cùng
thời điểm với người lập di chúc; ngườì được hưởng di sản theo di chúc bị pháp luật
tước quyền hưởng thừa kế do có các hành vi được quy định tại Điều 621 BLDS năm
2015 mà người đã lập di chúc không có ý kiến gì khác...

trong từng thời kỳ có sự quy định khác nhau về di chúc.
Pháp luật thời phong kiến mà điển hình là Bộ Luật Hồng Đức dưới triều đại
nhà Lê (Quốc triều Hình Luật) được ban hành trong thời kỳ nhà Lê trị vì đất nước
đã có quy định: “Người làm cha mẹ phải liệu tuổi già mà lập sẵn chúc thư. Người
trưởng họ chia nhiều ít cho phải, rồi làm giấy giao lại về phần hương hỏa thì theo
lệ cũ lấy một phần hai mươi trong số điền sản...” [17, Điều 3]. Ở thời kỳ này, việc
một người lập di chúc trước khi chết là một việc “phải” làm, việc định đoạt di sản
phải công bằng, đặc biệt phần di sản để lại làm hương hỏa không được quá 1/20
trong số điền sản. Quy định này cho thấy rõ sự can thiệp ý chí của Nhà nước vào
quá trình định đoạt tài sản của cá nhân.
Pháp luật thời kỳ Pháp thuộc bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa, kinh tế, chính trị của
Cộng hòa Pháp, điển hình là các Bộ Dân luật được áp dụng ở các miền khác nhau tại



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status