Bài tập nhóm tháng 1 môn luật thương mại module 2 giải quyết một tình huống ký kết hợp đồng - Pdf 53

Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật thương mại module 2
ĐẶT VẤN ĐỀ.
Trong nền kinh tế thị trường đang trên đà phát triển như ở nước ta hiện nay, các
hoạt động thương mại trao đổi buôn bán hàng hóa ngày càng được đẩy mạnh. Hoạt động
thương mại tạo ra cơ hội phát triển cho các nhà doanh nghiệp, bên cạnh đó cũng tồn tại
những mặt trái phát sinh trong quá trình hợp tác, trao đổi buôn bán. Nhiều tranh chấp về
hợp đồng thương mại xảy ra khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn đồng thời gây ra
những thiệt hại rủi ro không đáng có cho họ.
Trong phạm vi bài tiểu luận này, nhóm chúng em xin chọn đề bài số 3, giải quyết
một tình huống ký kết hợp đồng:
A ký hợp đồng bán hàng cho B. Hãy làm rõ:
1. Khi nào hợp đồng này chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005?
2. Nêu các nội dung tranh chấp có thể phát sinh trong hợp đồng này mà bắt buộc
sẽ phải sử dụng Bộ Luật Dân sự năm 2005 làm cơ sở giải quyết tranh chấp?
3. Khi hợp đồng không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng, việc xác định vi phạm
hợp đồng của các bên sẽ được thực hiện như thế nào?
4. Để tránh khả năng hợp đồng trên đây vô hiệu do người không có thẩm quyền
đại diện ký kết, cần lưu ý những vấn đề pháp lý nào?
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Khi nào thì hợp đồng bán hàng hóa giữa A và B chịu sự điều chỉnh của Luật
thương mại 2005 ?
Để hợp đồng bán hàng hóa giữa A và B được điều chỉnh bởi luật thương mại thì
quan hệ pháp luật này phải thỏa mãn thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 1
Luật thương mại 2005:

Nhóm 1 Lớp N01.TL4

Page 1


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật thương mại module 2


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật thương mại module 2
Thứ ba, A và B phải là thương nhân. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 6 Luật
Thương mại thì thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân
hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Thương nhân là chủ thể chịu sự điều chỉnh của luật thương mại, chính vì vậy các hoạt
động kinh doanh trong đó bao gồm mua bán hàng hóa sẽ phải chịu sự điều chỉnh của Luật
thương mại. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 1 về phạm vi điều chỉnh của Luật
thương mại 2005 thì nếu một bên trong giao dịch không phải là thương nhân, hoạt động
không nhằm mục đích sinh lời trên lãnh thổ Việt Nam thì vẫn chịu sự điều chỉnh của Luật
này nếu bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lời chọn áp dụng Luật
thương mại 2005. Theo những quy định trên của pháp luật thì hợp đồng mua bán hàng
hóa của A và B sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại 2005 nếu cả hai bên là thương
nhân và hợp đồng mua bán này nhằm mục đích sinh lời. Trường hợp A hoặc B không
phải là thương nhân, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với một bên còn lại là thương
nhân thì hợp đồng sẽ chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại khi mà bên không phải
thương nhân ký kết hợp đồng không nhằm mục đích sinh lời lựa chọn Luật này để điều
chỉnh cho quan hệ hợp đồng giữa A và B.
2. Nêu các nội dung tranh chấp có thể phát sinh trong hợp đồng này mà bắt
buộc phải sử dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 làm cơ sở giải quyết tranh chấp.
Theo quy định của pháp luật hiện nay thì hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh,
thương mại được ký kết chịu sự điều chỉnh của hai văn bản pháp luật cơ bản là Bộ luật
Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005. Bộ luật dân sự được coi là luật gốc quy
định các vấn đề chung về hợp đồng. Đạo luật này được xem là nền tảng cho pháp luật về
hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự
nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm.
Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền và
nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại. Theo đó, tranh
chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng của tranh chấp thương mại mà ở đó có
Nhóm 1 Lớp N01.TL4

đồng bán sản phẩm đó cho C, gây thiệt hại cho B. Tranh chấp về nghĩa vụ của A đối với
Nhóm 1 Lớp N01.TL4

Page 4


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật thương mại module 2
B phát sinh mà cụ thể ở đây là nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi giao kết hợp đồng
trong thời hạn chờ trả lời đề nghị giao kết của bên được đề nghị. Tranh chấp này được
giải quyết dựa trên quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 390 BLDS 2005.
*) Tranh chấp phát sinh từ chấp nhận giao kết hợp đồng.
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên
đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của của đề nghị(Điều 396 BLDS). Tranh
chấp có thể phát sinh ở trường hợp này là sự chậm trễ trả lời của bên được đề nghị giao
kết hợp đồng mua bán vì lý do khách quan nhưng lại gây thiệt hại cho bên đề nghị giao
kết. Áp dụng vào tình huống trong đề bài, khi A đề nghị giao kết hợp đồng bằng văn bản
và gửi cho B với thời hạn của đề nghị là 5 ngày kể từ ngày B nhận được đề nghị giao kết.
B đã gửi đề nghị giao kết chấp nhận nhưng chậm hơn 1 ngày so với thời hạn do trục trặc
về đường bưu điện. Hàng hóa của A muốn bán cho B là thực phẩm nên bị thối rữa. Tranh
chấpphát sinh ở đây là thiệt hại do việc chậm trễ trả lời của B do ai chịu? Theo quy định
tại Khoản 1 Điều 397 BLDS, chấp nhận giao kết hợp đồng của B vẫn có hiệu lực. Tuy
nhiên, vấn đề bồi thường thiệt hại do thỏa thuận của hai bên.
*) Tranh chấp phát sinh về việc xác định thời điểm giao kết của hợp đồng:
Điều 404 BLDS quy định cụ thể về thời điểm giao kết hợp đồng. Theo đó, thời
điểm hợp đồng được giao kết xác định trong 4 trường hợp: bên đề nghị nhận được trả lời
chấp nhận giao kết; hết hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng nếu có thỏa
thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết; khi các bên đã thỏa thuận về nội dung của
hợp đồng nếu là hình thức hợp đồng bằng lời nói; thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản
đối với hợp đồng bằng văn bản.
Tranh chấp có thể phát sinh trong tình huống là A có đề nghị giao kết hợp đồng bán

Thứ ba, hợp đồng mua bán được giao kết đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng
theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí
thực của họ, hướng đến lợi ích chính đáng của các bên. Tranh chấp có thể phát sinh trong
tình huống khi A vi phạm nguyên tắc tự nguyện, có dấu hiệu ép buộc B giao kết hợp đồng
mua hàng hóa của mình. Trường hợp này, hợp đồng mua bán hàng hóa cũng bị vô hiệu do
Nhóm 1 Lớp N01.TL4

Page 6


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật thương mại module 2
viphạm nguyên tắc tự nguyện giao kết hợp đồng. Theo quy định của BLDS, việc giao kết
hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng phải tuân theo nguyên tắc:
tự do giao kết nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội, tự nguyện, bình đẳng, thiện
chí… Những hành vi cưỡng ép, lừa dối, đe dọa là lý do dẫn đến hợp đồng mua bán không
có hiệu lực.
3.Tranh chấp phát sinh từ việc yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng mà xác lập
giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của hợp đồng
đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu toà án tuyên bố
hợp đồng vô hiệu. Ví dụ, A kí hợp đồng bán cho B 30 chiếc xe máy nhưng A quên không
thông báo cho B biết rằng hệ thống đèn của chiếc xe đó đã bị cháy. B yêu cầu A giảm bớt
giá bán chiếc xe đó hoặc thay thế hệ thống đèn mới nhưng A không chấp nhận. B có
quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch mua bán đó vô hiệu.
Trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng thì
sẽ áp dụng các quy định tại Điều 132 BLDS về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe
doạ. Trong ví dụ trên đây, nếu A cố tình che giấu, không thông báo cho B biết về hệ thống
đèn bị hỏng và nói với B rằng hệ thống đèn vẫn tốt thì trường hợp này bị coi là giao dịch
bị lừa dối.

trong việc xử lý các tình huống phát sinh, cụ thể như sau:
Về phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: các bên được toàn quyền thoả thuận về phạm vi
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn
bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật+ Về tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ:
BLDS thể hiện quan điểm là về nguyên tắc mọi tài sản đều có thể được dùng để bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ trừ một số trường hợp mà pháp luật cấm. Bên cạnh đó còn có các
quyền tài sản thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm .

Nhóm 1 Lớp N01.TL4

Page 8


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật thương mại module 2
Trong số các biện pháp thực hiện nghĩa vụ dân sự thì các biện pháp cầm cố và thế chấp
thường được các bên áp dụng nhiều nhất. Trong Bộ luật Dân sự đã quy định rất chi tiết về
các biện pháp bảo đảm này vì vậy mà Luật Thương mại không có quy định .Trong hợp
đồng mua bán hàng hóa giữu A và B có thể thỏa thuận sử dụng các biện pháp bảo đảm để
bảo đảm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa và phát sinh tranh chấp về các biện pháp
bảo đảm này .Như vậy khi có sự tranh chấp về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp
đồng thì các bên phải sử dụng quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.
3. Khi hợp đồng không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng, việc xác định vi
phạm hợp đồng của các bên sẽ được thực hiện như thế nào?
Địa điểm giao hàng là một nội dung quan trọng trong hợp đồng vì nó liên quan đến
vấn đề chuyển rủi do, liên quan đến chi phí vận chuyển. Trên thực tế, đối với những hợp
đồng mua bán hàng hóa với số lượng lớn, vận chuyển đường dài hay hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế thì vấn đề này không thể có thỏa thuận trước. Còn các trường hợp khác
nhau thì cũng có thể các bên sơ xuất hoặc các bên đã từng mua bán theo thói quen với
nhau nên không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng. Để xác định vi phạm hợp đồng của

d. Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh của bên
bán, nếu không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư trú của bên bán
được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng mua bán”
Điều 284 và Điều 443 BLDS 2005 quy định:
“ Trong trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự
được xác định như sau;
a. Nơi có bất động sản, nếu đối tượng có nghĩa vụ là bất động sản;
b. Nơi cư trú hoặc trú của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự không phải
là bất động sản.”
Như vậy, mặc dù không có thỏa thuận trong hợp đồng về địa điểm giao hàng,
nhưng pháp luật đã quy định những trường hợp cụ thể để các bên có thể áp dụng khi
chuyển giao hàng hóa từ bên bán sang bên mua. Dựa vào những quy định này, các bên sẽ
Nhóm 1 Lớp N01.TL4

Page 10


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật thương mại module 2
dễ dàng hơn trong việc thực hiện hợp đồng, đồng thời tạo điều kiện cho việc xác định
trách nhiệm của mỗi bên khi có tranh chấp phát sinh.
Để xác định trách nhiệm vi phạm hợp đồng của các bên trong trường hợp không có
thỏa thuận về địa điểm giao hàng, cần xét từng trường hợp cụ thể:
Trường hợp 1: Hàng hóa là vật gắn liền với đất đai.
Theo quy định của pháp luật, nếu hàng hóa là vật gắn liền với đất đai thì bên bán
phải giao hàng cho bên mua tại địa điểm có có hàng hóa đó. Như vậy, địa điểm chuyển
giao hàng hóa theo quy định của pháp luật trong trường hớp hàng hóa là vật gắn liền với
đất đai là nơi có hàng hóa đó. Cả bên bán và bên mua sẽ có nghĩa vụ giao hàng và nhận
hàng tại địa điểm trên. Nếu trong thời gian do các bên thỏa thuận, một trong các bên
không có mặt tại địa điểm giao hàng sẽ được coi là vi phạm hợp đồng và sẽ phải chịu chế
tài do vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Nếu không thuộc các trường hợp bên mua phải đến địa điểm kinh doanh của bên
bán, nếu không có địa điểm kinh doanh thì đến nơi cư trú của bên bán lúc kí hợp đồng để
lấy hàng. Trường hợp này, bên mua chịu rủi ro cao hơn do phải bảo quản hàng hóa trong
quá trình vận chuyển từ nơi giao hàng của bên bán về kho, địa điểm kinh doanh của bên
mua. Và việc xác định vi phạm hợp đồng sẽ căn cứ vào việc bên nào không thực hiện
đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bên mua phải đến nhận hàng theo đúng thời
gian đã thỏa thuận tại địa điểm kinh doanh của bên bán hoặc noi cư trú của bên bán lúc
ký hợp đồng, ngược lại bên bán phải chuyển hàng hóa cho bên mua đúng thời điểm đã
thỏa thuận và tại địa điểm nêu trên.
4. Để tránh hợp đồng trên vô hiệu do người không có thẩm quyền đại diện ký
kết, cần lưu ý những vấn đề pháp lý nào?
Theo quy định của pháp luật, người có thẩm quyền ký kết hợp đồng của doanh
nghiệp thường là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Nếu giữa hai bên giao
kết hợp đồng thuận lợi thì không có vấn đề gì . Nhưng khi có tranh chấp xảy ra giữa các
bên thì chính việc giao cho người không đúng thẩm quyền ký kết lại khiến cho hợp đồng
Nhóm 1 Lớp N01.TL4

Page 12


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật thương mại module 2
có thể bị vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 145 BLDS 2005:“ Giao dịch dân sự do
người không có thẩm quyền đại diện xác lập thực hiện không làm phát sinh quyền ,nghĩa
vụ đối với người được đại diện ,trừ trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện
đồng ý”.
Để một hợp đồng mua bán ký kết có hiệu lực thi hành thì các chủ thể của hợp đồng
mua bán cần tuân thủ các quy định về mặt chủ thể, mục đích, nội dung và hình thức của
hợp đồng, được giao kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng. Chủ thể của hợp đồng phải
có năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự và các điều kiện khác theo luật định. Chủ
thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là thương nhân hoặc ít nhất trong

xác minh này được dựa vào thông tin trong giấy đăng ký kinh doanh, giấy ủy quyền, điều
lệ của doanh nghiệp và trên các thông tin từ phòng đăng ký doanh nghiệp. Hiện này còn
có thể tìm hiểu thông tin trên các trang báo mạng có úy tín hoặc trên trang chủ của doanh
nghiệp.
Khi xác định thẩm quyền giao kết hợp đồng mua bán cần lưu ý Điều 145 BLDS
2005 quy định: "Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác
lập, thực hiện:
1. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không
làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đại
diện hoặc người được đại diện đồng ý. Người đã giao dịch với người không có quyền đại
diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời
trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì giao dịch đó không làm
phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, nhưng người không có quyền đại
diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp
người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện.
2. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện có quyền đơn phương
chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt
hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn
giao dịch."
Theo đó khi người không có thẩm quyền đại diện theo pháp luật giao kết hợp đồng
mua bán sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ như trong thoản thuận. Nếu bên giao
hợp đồng không có người đại diện theo pháp luật phải thông báo cho bên kia. Nếu bên
Nhóm 1 Lớp N01.TL4

Page 14


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật thương mại module 2
người đại diện hoặc người được đại diện của người đó cố tình lờ, không trả lời thông báo
thì giao dịch đó vô hiệu và người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ

3. Bộ Luật Dân sự năm 2005 NXB Lao Động.
4. Hỏi và đáp luật thương mại, Nguyễn Thị Dung (chủ biên), Nxb. Chính trị-hành
5.

chính, 2011.
Một số trang web : http://www.chinhphu.vn
http://www.moj.gov.vn
http://thuvienphapluat.vn

Nhóm 1 Lớp N01.TL4

Page 16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status