I. Phân tích khái niệm, đặc điểm của tội phạm rửa tiền trong các văn bản pháp
lý quốc tế.
1. Khái niệm tội phạm rửa tiền:
Trong pháp luật quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm tham
nhũng và Công ước Palermo (2000) của Liên hợp quốc quy định: rửa tiền là các
hoạt động chuyển hoán hoặc chuyển nhượng tài sản khi biết tài sản đó có nguồn
gốc từ các hành vi phạm tội, hoặc tham gia vào hành vi nhằm mục đích giấu giếm
hoặc che đậy nguồn gốc phi pháp của tài sản hoặc tiếp tay cho bất kỳ cá nhân nào
tham gia vào hành vi này, hoặc giấu giếm hoặc che đậy bản chất thực, nguồn gốc,
địa điểm, việc định đoạt, sự chuyển dịch, các quyền liên quan đến tài sản hoặc
quyền sở hữu tài sản khi biết rằng tài sản đó có được từ hành vi phạm tội, hoặc có
được, chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản khi tại thời điểm tiếp nhận nó đã biết rằng tài
sản này có được từ hành vi phạm tội.
Theo Điều 6 Công ước Palermo cần phải quy định thành tội phạm hình sự
hành vi hợp pháp hóa tài sản do phạm tội mà có, Điều 23 Công ước Liên hợp quốc
về phòng chống tội tham nhũng quy định về hành vi tẩy rửa tài sản đã cho thấy bản
chất của hành vi rửa tiền. Như vậy, có thể định nghĩa khái quát rửa tiền là hoạt
động bất hợp pháp, sử dụng các phương thức, biện pháp nhằm hợp pháp hóa các tài
sản do phạm tội mà có và được pháp luật quốc tế quy định là tội phạm.
Khoản 1 Điều 215 BLHS 1999 định nghĩa: “Người nào thông qua các
nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp pháp hoá tiền, tài
sản do phạm tội mà có hoặc sử dụng tiền, tài sản đó vào việc tiến hành các hoạt
động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm
năm.” Đến ngày 19/6/2009, Điều 251 BLH: 1999 được Quốc hội Việt Nam sửa đổi
thành tội Rửa tiền quy định tại khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của BLHS 1999 có hiệu lực từ ngày 1.1.2010 thì tội rủa tiền được hiểu là việc thực
1
hiện các hành vi: tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân
hàng hoặc giao dịch liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có nhằm
Người thực hiện hành vi phạm tội có thể là bất cứ người nào có đủ năng lực
trách nhiệm hình sự (TNHS) và đạt độ tuổi theo luật định. Nguời đó hoặc
người khác đã có hành vi phạm tội nên có được số tài sản bất hợp pháp mà
người phạm tội muốn hợp pháp hoá.
Về ý thức chủ quan, người phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp, họ nhận thức được
đó là tiền, tài sản do phạm tội mà có hoặc nhận biết rõ tiền, tài sản do
chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có và
với mong muốn hợp pháp hoá số tiền, tài sản đó.
II. Phân tích nội dung cơ bản về quy định tội phạm ma túy trong các Công ước
của Liên Hợp quốc.
Pháp luật quốc tế có nhiều văn bản quy định về tội phạm ma túy, tuy nhiên
điển hình nhất vẫn là ba công ước đó là Công ước năm 1961 và nghị định thư bổ
sung cho công ước, Công ước năm về các chất hướng thần 1970, Công ước năm
1988 về chống buôn bán ma túy, chất hướng thần. Cả ba công ước đều quy định
những nội dung cơ bản về tội phạm ma túy như: Quy định về các hành vi bất hợp
pháp được coi là tội phạm; Định hướng quy định về hình phạt và các biện pháp
thay thế; Định hướng quy định về các tình tiết tăng nặng; Thống nhất quyền tài
phán và dẫn độ tội phạm; một số quy định khác.
1 .Các quy định về tội phạm:
Dựa vào những quy định của hiến pháp, quy tắc cơ bản của hệ thống pháp
luật và theo luật của mỗi nước, mỗi bên của Công ước sẽ áp dụng những biện pháp
cần thiết để coi là tội phạm hình sự nếu những hành vi dưới đây cố ý thực hiện:
3
- Sản xuất, điều chế, chiết xuất, pha chế, chào hàng, phân phối, bán, trao đổi
dưới bất cứ hình thức nào như môi giới, gửi, quá cảnh, vận chuyển, nhập khẩu,
xuất khẩu ma tuý và các chất hưởng thần trái với các quy định của Công ước
1961, Công ước 1961 sửa đổi hoặc Công ước 1971.
- Trồng cây thuốc phiện, cây côca hay cây cần sa với mục đích sản xuất trái
thích đáng, đặc biệt là bằng hình phạt tù hoặc các hình phạt tước tự do khác.”
(Khoản a Điều 22 Công ước 1971)
Công ước cũng khuyến nghị bên cạnh hình thức phạt tù cần đưa ra các hình
phạt bổ sung về tiền, tịch thu tài sản…Công ước còn quy định các chế tài riêng cho
người nghiện mà túy thực hiện các tội phạm ma túy.Mặc dù có điểm trên đây, khi
người lạm dùng ma tuý thực hiện những tội này, các Bên có thể áp dụng đối với họ
biện pháp điều trị, giáo dục, chăm sóc sau điều trị, phục hồi và tái hoà nhập vào
xã hội phù hợp với các quy định về biện pháp chống lạm dụng ma túy thay cho
việc thi hành án hoặc hình phạt, hoặc coi đó là biện pháp bổ sung vào hình phạt.
(Điều 36 Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961)
Tất cả các công ước đều xác định tội phạm ma túy là tội phạm nguy hiểm,
gây hậu quả nghiêm trọng và cần trừng phạt đích đáng, nhưng lại không áp dụng
hình phạt tử hình bởi tùy vào phong tục tôn giáo, quan điểm đạo đức, tội ác mà các
quốc gia có quan điểm khác nhau về hình phạt tử hình: có quốc gia ủng hộ việc áp
dụng biện pháp tử hình nhưng nhiều quốc gia trên thế giới lại không đồng tình và
cho rằng đó là hình phạt quá khắc nghiệt và phi nhân tính. Vì thế, các Công ước chỉ
quy định áp dụng hình phạt tù và các biện pháp tước quyền tự do khác tùy theo hệ
thống pháp luật của từng nước, tạo cơ hội cho các quốc gia lựa chọn tham gia công
ước phù hợp với pháp luật, truyền thống, phong tục, tôn giáo của nước mình.
5
3. Các quy định về các biện pháp tăng nặng:
Theo Khoản 5, Điều 3 Công ước Liên Hợp Quốc về chống buôn bán trái
phép các chất ma túy và chất hướng thần năm 1988 .khuyến nghị các quốc gia cần
đưa vào pháp luật các quy định về các tình tiết tăng nặng như sau:
a) Việc tham gia hành vi phạm tội của một nhóm tội phạm có tổ chức mà kẻ
phạm tội là một thành viên;
b) Việc kẻ phạm tội tham gia vào những hoạt động phạm tội có tổ chức mang
tính chất quốc tế khác;
bán chất ma túy còn có các hình vi với mục đích khác như mua để sử dụng.
Thứ hai, pháp luật hình sự Việt Nam chưa có quy định riêng về hình thức xử
phạt đối tượng phạm tội là những người nghiện ma túy và các chất hướng thần là
áp dụng các biện pháp chữa trị, giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng thay cho việc thi
hành án mà hành vi sử dụng ma túy vẫn bị coi là tội phạm và phải chịu thi hành án.
Thứ ba, pháp luật Việt Nam còn quy định cụ thể các hình thức tội phạm ma
túy. Do tính chất nguy hiểm của tội phạm ma túy và tình hình ra tăng cả về số
lượng nên BLHS Việt Nam đã có những quy định rất cụ thể, chi tiết và đầy đủ các
hình thức phạm tội, vận chuyển và mạng lưới hoạt động của loại tội phạm này.
Đồng thời, Chính phủ Việt Nam cũng rất coi trọng hợp tác quốc tế trong
phòng, chống ma tuý, bằng việc tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác song
phương, đa phương với các nước, các tổ chức phi Chính phủ, đặc biệt với sự hỗ trợ
của Tổ chức phòng, chống tội phạm và ma tuý của Liên hợp quốc (UNODC), với
các nước tiểu vùng sông Mêkông và với các quốc gia có chung đường biên giới...
Ngày 01/9/1997, Chủ tịch Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Quyết
định số 798/QĐ-CTN về việc tham gia 3 Công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý đó
là: Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961; Công ước về các chất
hướng thần năm 1971 và Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp
pháp các chất ma tuý và các chất hướng thần năm 1988. Việc tham gia của các
7
quốc gia vào Công ước đã tạo điều kiện cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm
ma túy có hiệu quả, kể cả việc đạt được những mục tiêu trong các Công ước.
III. Đánh giá tính tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với các văn bản
pháp luật quốc tế về tội phạm khủng bố
Từ khi ban hành BLHS đầu tiên năm 1985 đến BLHS năm 1999 và được sửa
đổi, bổ sung năm 2009, tội danh khủng bố được quy định tương đối ổn định tại
Điều 78 BLHS năm 1985 và Điều 84 BLHS năm 1999. Theo các quy phạm pháp
luật này, Tội khủng bố có một số đặc điểm cơ bản sau:
chống chính quyền nhân dân và Điều 230a. Tội khủng bố, trong đó hành vi khủng
bố còn có mục đích là gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng.
Bên cạnh đó, hành vi tài trợ khủng bố được hình sự hóa tại Điều 230b với
tên gọi là tội tài trợ khủng bố. Đây là một trong những nghĩa vụ mà Nghị quyết số
1373 (năm 2001) của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc về hợp tác toàn diện chống
khủng bố đưa ra đối với các thành viên tham gia ký kết. Đây là một bước quan
trọng đánh dấu nỗ lực của Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống khủng bố.
Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục được quan tâm, nghiên cứu
liên quan đến các quy định về tội phạm khủng bố, chẳng hạn:
- Khái niệm về hành vi khủng bố vẫn chưa được quy định trong các điều luật
về các tội phạm khủng bố, do đó cùng một hành vi có thể bị truy tố theo hai tội
danh trong trường hợp dấu hiệu về mục đích không rõ ràng.
- Hành vi khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân theo quy định tại
Điều 84 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) chỉ có đối tượng tác động là
con người. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hoạt động khủng bố còn nhằm tấn công
vào các mục tiêu vật chất khác cũng với mục đích chống chính quyền nhân dân.
- Ngoài việc trừng trị hành vi khủng bố và tài trợ khủng bố, các hành vi
tuyển mộ, huấn luyện, chứa chấp các phần tử khủng bố chưa được nghiên cứu để
hình sự hóa.
9
- Khủng bố là một tội danh độc lập trong BLHS năm 1999 của Việt Nam,
còn cộng đồng quốc tế luôn xác định tội phạm khủng bố trong mối liên hệ không
tách rời với nhiều loại tội phạm nguy hiểm của khác, như tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia, buôn bán ma túy, rửa tiền, buôn bán vũ khí bất hợp pháp, vận
chuyển bất hợp pháp vật liệu hạt nhân, hóa học, sinh học và các vật liệu có tính
năng hủy diệt khác...
Thứ hai, thực tiễn thi hành pháp luật về tương trợ tư pháp về hình sự đối với
tội phạm khủng bố còn có những hạn chế, vướng mắc do sự khác biệt giữa quan
Trang
I.
II.
III.
Phân tích khái niệm, đặc điểm của tội phạm rửa tiền
trong các văn bản pháp lý quốc tế ......................................
1
1. Khái niệm tội phạm rửa tiền............................................
1
2. Đặc điểm của tội rửa tiền.................................................
2
Phân tích nội dung cơ bản về quy định tội phạm ma túy
trong các Công ước của Liên Hợp quốc..............................
3
1 .Các quy định về tội phạm................................................
3
2. Các quy định về hình thức xử phạt.................................
ma túy và chất hướng thần năm 1988.
Chuyên đề cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về phòng
chống khủng bố ở Việt Nam hiện nay.
12