Phân tích khái niệm, đặc điểm của dịch vụ thương mại - Pdf 34

Môn Luật thương mại module 2 - Bài tập nhóm tháng 1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thức hiện nay, ngành dịch vụ có vai trò
ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế thế giới và các nền kinh tế quốc gia. Dịch
vụ thương mại ngày càng chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế, là yếu tố đóng góp
quan trọng vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế hàng hóa hiện nay. Một trong
những loại dịch vụ được sử dụng trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa đó là dịch vụ
trung gian thương mại được điều chỉnh bởi luật thương mại 2005.
Trong lịch sử phát triển thương mại, bên cạnh phương thức phổ biến là phương
thức giao dịch trực tiếp có dịch vụ trung gian thương mại cũng chiếm vai trò quan
trọng. Và với nền kinh như hiện nay thì hoạt động trung gian thương mại trong những
loại dịch vụ được sử dụng dần được củng cố và phát triển. Để tìm hiểu them về những
vấn đề trên nhóm chúng em xin trình bày để làm rõ đề tài: “Phân tích khái niệm, đặc
điểm của dịch vụ thương mại. Hoạt động trung gian thương mại theo quy định của
Luật Thương mại 2005 có phải là một loại dịch vụ thương mại không? Hãy phân tích
những vướng mắc trong quy định của Luật Thương mại 2005 về hoạt động trung gian
thương mại và đề xuất giải pháp khắc phục”.
Trong quá trình làm bài chúng em còn những thiếu xót mong thầy, cô giúp
nhóm em hoàn thiện hơn!

NỘI DUNG
I.

Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ thương mại.

1, Khái niệm.
Trước khi đưa ra khái niệm về dịch vụ thương mại trước hết cần tìm hiểu xem
dịch vụ là gì. Dịch vụ được hiểu là những hoạt động và kết quả mà một bên có thể
cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể
gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Dịch vụ còn được hiểu là

Thứ hai: Dịch vụ không có tính đồng nhất, khó tiêu chuẩn hóa vì thước đo chất
lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của bên yêu cầu dịch vụ đối với quá trình cung ứng
dịch vụ. Đó cũng là một điều dễ hiểu bởi dịch vụ là một sản phẩm vô hình, sự cảm
nhận về sự cung ứng dịch vụ của mỗi chủ thể sử dụng dịch vụ là khác nhau. Có thể

Lớp N09 – TL2 - Nhóm 3

Page 2


Môn Luật thương mại module 2 - Bài tập nhóm tháng 1
với chủ thể này thì dịch vụ đó là tốt, hoàn hảo nhưng đối với chủ thể khác lại là
không tốt. Như vậy, chất lượng của dịch vụ thương mại không thể được đánh giá một
cách cụ thể và chính xác được, nó tùy thuộc vào đánh giá của người sử dụng và tiêu
dùng dịch vụ.
Thứ ba: Qúa trình sản xuất ra dịch vụ và quá trình tiêu dùng dịch vụ luôn
luôn diễn ra đồng thời. Các giá trị và giá trị sử dụng của dịch vụ được chuyển tải
vào các giá trị v ật chất khác cò bản thân dịch vụ khôn còn tồn tại. Vì thế tính dừng
lại và quay lại thời điểm ban đầu là rất khó có thể đặt ra. Ví dụ: Trong dịch vụ vận
chuyển hành khách thì khi bên vận chuyển hành khách cung ứng dịch vụ đến đâu
thì đồng thời hành khách cũng là người sử dụng hết từng đó dịch vụ và khi vận
chuyển rồi dù có thể không hài lòng với một điều nào đó trong quá trình vận
chuyển thì hành khách cũng khó có thể đặt ra vấn đề trả họ lại nơi ban đầu họ lên
xe được.
Thứ tư: Dịch vụ không thể cất giữ và lưu kho bãi. Sau khi sản xuất, hàng hóa
có thể lưu kho bãi và không nhất thiết phải tham gia ngay vào quá trình lưu thông,
tiêu dùng. Nhưng đối với dịch vụ, vì quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra song
song đồng thời và dịch vụ có tính vô hình nên không thể cất giữ và lưu kho bãi.
Dịch vụ có tính không lưu giữ được mà nhu cầu đến đâu sẽ cung cấp đến đấy.
Ngoài ra, dịch vụ thương mại có những đặc điểm riêng sau:

Khi thỏa thuận với nhau về việc tham gia dịch vụ thì các bên đã giao kết với
nhau một hợp đồng dịch vụ. Hình thức của hợp đồng có thể là lời nói, hành vi hoặc
văn bản. Trong một số trường hợp pháp luật quy định hình thức của hợp đồng bắt
buộc phải là văn bản nhằm hạn chế tranh chấp giữa các bên tham gia dịch vụ. Ví dụ
như trong dịch vụ đại diện cho thương nhân pháp luật yêu cầu hình thức của hợp
đồng phải là văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương. Sở dĩ
pháp luật có quy định như vậy là bởi khi tham gia dịch vụ đại diện cho thương nhân
thì người đại diện thực hiện các công việc nhân danh người được đại diện và trực
tiếp mang lại quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện, do đó khi người đại diện
thực hiện công việc vượt quá thẩm quyền đại diện và mang lại hậu quả pháp lí bất lợi

Lớp N09 – TL2 - Nhóm 3

Page 4


Môn Luật thương mại module 2 - Bài tập nhóm tháng 1
cho người được đại diện thì phải dựa vào hợp đồng dịch vụ để xác định chính xác
được thẩm quyền của người đại diện.
II.

Hoạt động trung gian thương mại theo quy định của Luật thương
mại 2005 có phải là một loại dịch vụ thương mại không?

Khẳng định: Hoạt động trung gian thương mại theo quy định của Luật Thương mại
2005 là một loại dịch vụ thương mại.
Giải thích:
Theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, “Các hoạt động trung
gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại
cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho

cung ứng dịch vụ của bên giao đại lí cho khách hàng để hưởng thù lao.
Thứ ba, chủ thể của hoạt động thương mại đều là thương nhân (theo quy định tại
khoản 11 Điều 3 Luật thương mại 2005), có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ
và bên thứ ba. Tuy nhiên, thực chất, Luật Thương mại chỉ quy định các bên trong quan
hệ đại diện cho thương nhân và đại lý thương mại phải là thương nhân tại các Điều 141
và 167, ngoài ra, trong quan hệ môi giới thương mại, Luật Thương mại chỉ quy định bên
môi giới thương mại phải là thương nhân mà không quy định bên được môi giới buộc
phải là thương nhân hay không. Các Điều 156, 157 Luật thương mại quy định bên nhận
ủy thác phải là thương nhân nhưng bên ủy thác có thể là thương nhân hoặc không là
thương nhân.
Thứ tư, cơ sở pháp lý của hoạt động trung gian thương mại là hợp đồng do các bên
thỏa thuận, Luật thương mại chỉ quy định hình thức hợp đồng đại diện cho thương nhân,
ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại phải được thể hiện dưới hình thức văn
bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.
Từ sự phân tích trên về hoạt động trung gian thương mại cũng như phần đã trình bày
về dịch vụ thương mại, có thể thấy, hoạt động trung gian thương mại là một loại dịch vụ
thương mại, bởi vì nó mang đầy đủ các đặc điểm của một loại dịch vụ thương mại:
- Về chủ thể: Bên đại diện, bên nhận ủy thác, bên môi giới, bên đại lý mang tư cách là
bên cung ứng dịch vụ; bên giao đại diện, bên ủy thác, bên được môi giới, bên giao đại lý
đóng vai trò là bên sử dụng cung ứng dịch vụ. Các hoạt động trung gian thương mại cũng

Lớp N09 – TL2 - Nhóm 3

Page 6


Môn Luật thương mại module 2 - Bài tập nhóm tháng 1
có chủ thể bên cung ứng dịch vụ là thương nhân, còn bên sử dụng cung ứng dịch vụ có
thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân (đối với đại diện cho thương nhân và
đại lý thương mại thì cả hai bên chủ thể đều phải là thương nhân, đối với ủy thác mua

Môn Luật thương mại module 2 - Bài tập nhóm tháng 1
thể hiện bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương văn bản .
Nội dung của hợp đồng trung gian thương mại cũng bao gồm các yếu tố như một hợp
đồng cung ứng dịch vụ, gồm các thỏa thuận giữa hai bên về công việc (dịch vụ) thực hiện
và các vấn đề liên quan đến thù lao cũng như quyền và nghĩa vụ của mỗi bên khi tham
gia hợp đồng. Nhưng trong một số trường pháp luật qui định hình thức của hợp đồng bắt
buộc phải là văn bản nhằm hạn chế tranh chấp giữa các bên tham gia dịch vụ.
Kết luận: từ những so sánh và phân tích ở trên giữa khái niệm và các đặc điểm của
dịch vụ thương mại và hoạt động trung gian thương mại, ta thấy hoạt động trung gian
thương mại đều có các đặc điểm của dịch vụ thương mại, do đó ta có thể kết luận hoạt
động trung gian thương mại theo luật Thương mại năm 2005 là một loại của dịch vụ
thương mại.
III. Những vướng mắc trong quy định của Luật Thương mại( LTM) 2005
về hoạt động trung gian thương mại và đề xuất giải pháp khắc phục.
Qui định về hoạt động trung gian thương mại của LTM 2005 còn tồn tại nhiều
vướng mắc,bài làm của nhóm chúng em chỉ phân tích những vướng mắc mang tính
chất nổi cộm và cần thiết được giải quyết ngay.
3.1) Vướng mắc chung về các hoạt động trung gian thương mại
Thứ nhất: Về vấn đề người tham gia hoạt động trung gian thương mại.
Khoản 11, điều 3 LTM 2005 qui định : “ Các hoạt động trung gian thương mại
là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc
một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân,
môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại”. Như vậy các
nhà làm luật đã khẳng định rằng hoạt động trung gian thương mại là hoạt động giữa
thương nhân với thương nhân. Nhóm chúng tôi thấy đây là một qui định chưa đúng
về cả mặt kĩ thuật lập pháp và mặt thực tiễn.
Về mặt kĩ thuật lập pháp: Khoản 11, điều 3 nằm trong chương những qui định
chung. Đã là qui định chung thì nó có giá trị xuyên suốt và đúng với mọi qui định
riêng. Tuy nhiên điều 157 LTM 2005 lại qui định như sau : “Bên ủy thác mua bán


đương. Ngay cả trong hợp đồng thương mại quốc tế cũng áp dụng nguyên tắc giao
kết không bắt buộc về hình thức. Sự tồn tại của một hợp đồng có thể được chứng
minh bằng bất cứ hình thức nào, kể cả bằng nhân chứng. Do vậy ở nhiều nước, tòa

Lớp N09 – TL2 - Nhóm 3

Page 9


Môn Luật thương mại module 2 - Bài tập nhóm tháng 1
án có thể công nhận lời khai của các bên trước tòa mà không cần phải có bằng chứng
bằng văn bản.
Đề xuất giải pháp khắc phục: Theo nhóm chúng em thì nên qui định nới lỏng
hơn về hình thức giao kết, ví dụ như qui định “ hợp đồng trung gian thương mại
không bắt buộc phải giao kết bằng văn bản, trừ những trường hợp pháp luật qui
định”
3.2) Vướng mắc về qui định trong từng loại hợp đồng trung gian thương
mạị
a) Hợp đồng đại diện thương mại
Thứ nhất: Vấn đề về thời hạn đại diện được qui định tại điều 144. Nên bỏ qui
định thời hạn đại diện do các bên thỏa thuận, trường hợp không có thỏa thuận, thời
hạn đại diện chấm dứt khi bên giao đại diện… vì các lí do sau: (i)Lý do thứ
nhất:trong trường hợp các bên có thỏa thuận thời hạn đại diện, qui định này sẽ gây
khó khăn cho các bên khi không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng, vì chấm dứt hợp
đồng trong thời hạn này sẽ là vi phạm hợp đồng. (ii)Lý do thứ hai: Qui định này mâu
thuẫn với qui định về nghĩa vụ của bên đại diện phải tuân thủ sự chỉ dẫn của bên giao
đại diện,nếu bên giao đại diện yêu cầu chấm dứt việc thực hiện giao dịch với bên thứ
ba mà yêu cầu này cũng sẽ làm chấm dứt hợp đồng đại diện cho thương nhân
Đề xuất giải pháp khắc phục: Nên qui định các bên có thể đơn phương chấm
dứt hợp đồng bất cứ lúc nào kể cả trong trường hợp hợp đồng có qui định thời hạn

- Môi giới không thành công : các chi phí phát sinh hợp lý.
Như vậy khi tiến hành công việc môi giới, bên môi giới sẽ chắc chắn nhận được
một khoản tiền chi phí phát sinh hợp lý. Môi giới được thì sẽ được thêm khoản tiền
thù lao. Điều đó dẫn đến việc bên môi giới sẽ không tiết kiệm khoản tiền được gọi là
chi phí phát sinh hợp lý, đó là điều gây bất lợi cho bên được môi giới. Trong luật hợp
đồng Trung Quốc qui định về các khoản tiền mà bên môi giới được nhận như sau:
- Môi giới thành công: Thù lao ( đã bao gồm các chi phí phát sinh hợp lý)
- Môi giới không thành công: chi phí phát sinh hợp lý
Nhóm chúng tôi thấy qui định như vậy hợp lý hơn bởi vì khi kinh doanh môi
giới, điều quan trọng mà bên môi giới muốn có được đó là lợi nhuận, chính là thù lao

Lớp N09 – TL2 - Nhóm 3

Page 11


Môn Luật thương mại module 2 - Bài tập nhóm tháng 1
môi giới. Khi đó họ sẽ có ý thức tiết kiệm phần chi phí phát sinh hợp lý tối thiểu để
lợi nhuận mình đạt được sẽ cao hơn.
Đề xuất giải pháp khắc phục : Học tập luật hợp đồng Trung Quốc qui định về
vấn đề này. Qui định lại điều 154 LTM như sau : “ Trừ trường hợp có thỏa thuận
khác, bên được môi giới phải thanh toán các chi phí phát sinh hợp lý liên quan đến
việc môi giới khi môi giới không thành công”
c) Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Thứ nhất : Nhóm chúng tôi xin đưa ra một ví dụ nhỏ để thấy được qui định
thiếu xót trong LTM 2005: A ủy thác cho công ty B bán 1 tấn tôm tươi với giá 1 tỷ
500 triệu đồng. Tuy nhiên do thị trường biến động, B đã bán được 2 tỷ đồng. Như
vậy B có vi phạm hợp đồng không? Và số tiền 500 triệu dư ra thì thuộc sở hữu của
ai? LTM 2005 không qui định cụ thể về vấn đề này, vì vậy nhiều khi quyền và lợi ích
của hai bên không được giải quyết thỏa đáng.

qua đại lý thương mại, các thương nhân giao đại lý đã tiết kiệm được rất nhiều thời
gian và chi phí gia nhập thị trường mà vẫn đưa được các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
của mình đến với người tiêu dùng. Do vậy, quyền sở hữu đối với danh sách khách
hàng là quyền mà các đại lý thương mại cần được bảo vệ. Bởi vì trên thực tế, khi bên
giao địa lý nắm được danh sách khách hàng của bên đại lý có thể trực tiếp bán hàng
hóa và cung ứng dịch vụ cho khách hàng của bên đại lý để thu lợi nhuận mà không
cần phải trả thù lao đại lý. Có một vụ việc thực tế liên quan đến vấn đề này, đó là
năm 2005, các đại lý độc quyền của công ty Coca-cola đã đưa ra vấn đề yêu cầu
pháp luật bảo vệ về việc Coca-cola nắm giữ danh sách địa chỉ khách hàng trong hệ
thống phân phối của mình, và trực tiếp bán hàng cho các khách hàng đó. Do trong
hợp đồng giữa Coca-cola và các đại lý độc quyền không có điều khoản nào xác định
hệ thống khách hàng mà các đại lý độc quyền xây dựng được là “ tài sản” riêng của
họ nên Coca-cola được quyền làm điều đó và các đại lý không thể bắt bẻ được. Từ
sau đó nhiều đại lý độc quyền của Coca-cola đã bị phá sản.Từ vụ việc thực tế này đòi
hỏi cần có cơ chế pháp lý hiệu quả để đảm bảo quyền sở hữu đối với hệ thống khách
hàng của các đại lý. Nói cách khác pháp luật thương mại đã không bảo vệ được
quyền lợi của bên đại lý nên mơí xảy ra tình trạng như vậy
Đề xuất giải pháp :Theo pháp luật của Cộng hòa Pháp thì không chỉ trong thời
hạn hợp đồng có hiệu lực mà nếu sau khi các bên thanh lý hợp đồng đại lý thương

Lớp N09 – TL2 - Nhóm 3

Page 13


Môn Luật thương mại module 2 - Bài tập nhóm tháng 1
mại, bên giao đại lý vẫn tiếp tục ký được các hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ mà những hợp đồng này có thể thiết lập được là có sự đóng góp công sức của
bên đại lý thương mại thi bên đại lý thương mại vẫn được hưởng thù lao. Chúng ta
nên học tập ưu điểm này của pháp luật Pháp.

Môn Luật thương mại module 2 - Bài tập nhóm tháng 1

KẾT LUẬN
Ở Việt Nam, trong thời kì kinh tế kế hoạch tập trung, các hoạt động trung gian
thương mại chủ yếu tồn tạo trong lĩnh vực kinh tế quốc tế còn các hoạt động trung
gian thương mại trong nước chưa có điều kiện để hình thành. Khi chuyển sang nền
kinh tế thị trường, do nhu cầu của việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, các hoạt động trung
gian thương mại là loại hình dịch vụ quan trọng của dịch vụ thương mại đã được xuất
hiện dưới sự điều chỉnh của luật pháp, mà hiện nay là luật thương mại 2005. Tuy
nhiên để hoạt động này được phát huy hiệu quả trong thực tiễn và cũng để hợp với
tình hình kinh tế hiện nay thì luật thương mại cần củng cố những vướng mắc để các
ngành kinh tế đặc biệt là dịch vụ thương mại ngày càng phát triển hơn.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật thương mại năm 2005.
2. Nghị định của Chính phủ số12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 quy định chi
tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các
hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài.
3. Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại tập 2, Nxb. CAND,
Hà Nội,2006.
4. Luận án tiến sĩ luật học: “Pháp luật về điều chỉnh hoạt động trung gian
thương mại ở Việt Nam”- Nguyễn Thị Vân Anh- Hà Nội 2007
5. Khóa luận tốt nghiệp: “ Chế định pháp lý về hợp đồng ủy thác mua bán hàng
hóa”- Phạm Thị Thu Hiền-Hà Nội 2005

Lớp N09 – TL2 - Nhóm 3

Page 15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status