Mối quan hệ giữa chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo pháp luật hiện hành - Pdf 53

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
NỘI DUNG...............................................................................................................1
I. Khái quát về chủ tịch nước............................................................................1
II.

Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung

ương theo pháp luật hiện hành............................................................................2
1.

Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc

hội…....................................................................................................................3
2.

Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ...........................................5

3.

Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm

sát nhân dân tối cao...........................................................................................6
4.

Đánh giá mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở

trung ương theo pháp luật hiện hành...............................................................8
KẾT LUẬN...............................................................................................................8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................9


Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước trong việc thực hiện các
chức năng Nguyên thủ quốc gia vừa đảm bảo sự phân công và phối hợp chặt chẽ
giữa các cơ cấu trong bộ máy nhà nước.
Tại Điều 101 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định vị trí, tính chất của Chủ tịch
nước: “Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại”.
Về trật tự hình thành: Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc
hội. Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội là 5 năm, khi Quốc
hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa
mới bầu Chủ tịch nước mới.
Chủ tịch nước được trao quyền hạn rộng lớn trong cả ba lĩnh vực lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Xét trên nhiều phương diện, Chủ tịch nước là cơ quan có vị trí đặc
biệt và giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phối hợp thống nhất giữa các
cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước.
II. Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương
theo pháp luật hiện hành
Về tổ chức bộ máy Nhà nước trong Hiến pháp năm 1992, quan điểm cơ bản đã
được khẳng định là: Toàn bộ quyền lực Nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc
hội, và có sự phân công phân nhiệm giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để mỗi cơ quan thi hành có hiệu lực chức năng,
quyền hạn của mình với sự phối hợp chặt chẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền
lực Nhà nước. Cùng với quy định “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước”
(Điều 101 Hiến pháp năm 1992), các quy định khác về mối quan hệ giữa Chủ tịch
nước với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toàn án nhân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thể hiện rõ quan điểm đó, cụ thể là:
1. Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội
2


Theo điều 83 Hiến pháp năm 1992: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của

thành viên khác của Chính phủ (Khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 1994).
Chủ tịch nước có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội, kiến nghị về luật
thông qua việc kiến nghị ban hành luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật hiện hành.
Chủ tịch nước công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh (Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp
năm 1992).
Ví dụ: Ngày 12/12/3013, văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố 8
Luật và 1 pháp lệnh (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen
thưởng; Luật việc làm; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy và
chữa cháy; Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Luật tiếp công dân; Luật đấu thầu;
Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật đất đai; Pháp lệnh sửa đổi, bổ
sung một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ
trợ) vừa được Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua.
Ngoài ra, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Chủ
tịch nước còn công bố nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ
Quốc hội. Hiện tại, quyền này của Chủ tịch nước chưa được quy định trong Hiến
pháp mà chi được quy định tại Điều 57 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 2008.
Ví dụ: Ngày 9/12/2013, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nghị quyết của Quốc hội
quy định một số điểm thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam Việt Nam đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11.
Chủ tịch nước căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ
Quốc hộiđể công bốquyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định
đại xá; căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ralệnh tổng động

4


viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng
địa phương (Khoản 5, Khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 1992).

cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ (Khoản
4, sửa đổi bổ sung năm 2001). Trong thời gian Quốc hội không họp Thủ tướng
Chính phủ trình Chủ tịch nước quyết định tạm đình chỉ công tác của Phó Thủ
tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (Khoản 3 Điều 20 Luật tổ chức
Chính phủ).
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Chủ tịch nước (Điều 109 Hiến pháp năm
1992).Hàng quý, sáu tháng, Chính phủ gửi báo cáo công tác của Chính phủ đến
Chủ tịch nước (Điều 38 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001).
Chính phủ mời Chủ tịch nước tham dự phiên họp của Chính phủ; trình Chủ
tịch nước quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước; (Điều 38
Luật tổ chức Chính phủ năm 2001). Khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch nước có quyền
tham dự các phiên họp của Chính phủ (Điều 105 Hiến pháp năm 1992).
Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện những quyết định của
Chủ tịch nước (Khoản 1 Điểu 20 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001).
Nhìn chung, mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ đã thể hiện rõ sự
tăng cường vai trò của Chủ tịch nước đối với bộ máy hành pháp, đồng thời thấy
được sự phối hợp gắn bó giữa Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ.
3. Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát
nhân dân tối cao
Theo Hiến pháp năm 1992, tại Điều 134 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao
là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Tòa án
nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án nhân dân địa phương và các
Tòa án quân sự. Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Tòa án đặc biệt
6


và các tòa án khác… ”; Điều 137: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc
chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, đảm bảo cho

cho Chủ tịch nước liên kiết, phối hợp với tất cả các cơ quan trong cơ chế nhà nước.
4. Đánh giá mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở
trung ương theo pháp luật hiện hành
Từ sự phân tích trên ta có thể thấy Chủ tịch nước ta hiện nay nghiêng về cơ
quan lập pháp hơn hành pháp, tư pháp, hay nói cách khác, Chủ tịch nước nghiêng
về phía Quốc hội, gắn bó mật thiết với Quốc hội. Nhìn chung, vị trí, vai trò, thẩm
quyền và mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương
theo pháp luật hiện hành về cơ bản là phù hợp.

KẾT LUẬN
Qua sự phân tích trên đây, ta thấy được tầm quan trọng của Chủ tịch nước
Việt Nam trong bộ máy nhà nước cũng như mối quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt
không thể tách rời giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương. Vì
vậy, để củng cố bộ máy nhà nước và đạt hiệu quả cao trong công việc quản lý nhà
nước cần phải làm cho thể chế Chủ tịch nước ngày càng phát huy được vai trò,
chức năng quan trọng đối với đất nước; đặc biệt cần thiết chặt hơn nữa mối quan hệ
giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội (2013).
8


2. Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, Khoa Luật – Trường Đại học quốc gia
Hà Nội, nxb Đại học quốc gia Hà Nội (2006).
3. Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay, Bùi Xuân
Đức, Nxb Tư pháp Hà Nội (2004).
4. Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp hiện hành – Thực trạng và phương
hướng thực hiện, Lê Thị Hoa, Hà Nội (2012).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status