PHẦN MỞ ĐẦU
0.1 Lý do chọn đề tài
Tính từ (TT) tiếng Việt, như các từ loại từ vựng khác, có vai trò
rất quan trọng. Có thể nói, hầu hết các tài liệu về ngữ pháp tiếng Việt
đều ít nhiều đề cập đến từ loại này. Quan điểm cũng như những nghiên
cứu về nó cho thấy đây là đối tượng nghiên cứu phức tạp, còn nhiều bất
đồng trong giới Việt ngữ học. Trong tiếng Việt, từ loại này được nhiều
học giả cho là có nhiều nét tương đồng với từ loại động từ (ĐT) tuy
nhiên cơ sở cho kết luận như vậy thường chủ yếu dựa trên những tương
đồng về hoạt động cú pháp. Bằng cách khảo sát cấu trúc tham tố
(CTTT), luận án này góp phần tìm hiểu bản chất của tính từ (TT) tiếng
Việt cũng như sự tương đồng của TT với động từ (ĐT) trong tiếng Việt ở
một góc độ khác. Đó cũng chính là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài: "Cấu
trúc tham tố của tính từ trong tiếng Việt (đối chiếu với cấu trúc tương
ứng trong tiếng Anh)".
Đề tài của Luận án được phát triển từ cùng một đề tài của luận văn.
Luận văn đã khảo sát, làm rõ CTTT của TT dựa trên tập hợp TT đơn tiết
ở một mức độ nhất định, như: (i) Phân chia TT thành TT nội động và TT
ngoại động; (ii) Xác định những tham tố cơ bản trong CTTT của TT
(diễn tố, chu tố); (iii) Tìm hiểu khả năng làm hạt nhân của TT trong
CTTT (kết hợp với một tham tố và hai tham tố); (iv) Mối liên hệ giữa
CTTT và cấu trúc cú pháp của TT tiếng Việt; (v) Đối chiếu CTTT của
TT tiếng Việt với CTTT của TT tiếng Anh ở phương diện CTTT.
1
Ở luận án này, chúng tôi tiếp tục làm rõ những vấn đề chưa được
xử lý triệt để, những vấn đề mới được đặt ra trong luận văn, bằng cách
củng cố thêm cơ sở lý luận, khảo sát thêm tập hợp TT đa tiết để xác định
đúng hơn bản chất CTTT của TT tiếng Việt.
Vấn đề trọng tâm mà đề tài đặt ra, cần tiếp tục giải quyết là: xác
Nhiều nhà Việt ngữ học nhìn thấy sự tương đồng sâu sắc của hai từ
loại ĐT và TT. Do sự gần nhau về đặc điểm ngữ pháp, trước hết là trong
chức vụ vị ngữ, TT và ĐT có những đặc điểm chung, khiến người ta
nghĩ đến khả năng gom chúng vào một phạm trù. Quan điểm này được
nhiều tác giả chia sẻ, như Nguyễn Tài Cẩn, Đinh văn Đức, Nguyễn Thị
Quy, cao Xuân Hạo,v.v.
Từ khi ngữ pháp chức năng được áp dụng giải quyết các vấn đề
trong ngôn ngữ học, nhiều vấn đề như việc xác định câu, từ loại được
xem xét lại, được xác định gần bản chất hơn. Trọng tâm nghiên cứu câu
được chuyển từ chủ - vị sang vị từ. Câu không chỉ được xem xét trên
bình diện cú pháp như trước đây, mà còn được chú trọng làm rõ trên
bình diện nghĩa. Từ loại cũng được xác định rõ hơn trong sự hành chức
của từ, trong khung tham tố, trong câu. Việc xác định từ loại trong
khung tham tố làm cho từ loại bộc lộ bản chất rõ nhất trên các bình diện,
đặc biệt là bình diện nghĩa – một bình diện có khả năng xác định được
những vấn đề phổ quát trong ngôn ngữ. Việc xác định TT từ góc độ
3
CTTT cũng là một hướng khả thi, cần thiết. Những nhà ngữ pháp chức
năng đã nghiên cứu các quy tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trên
các bình diện hình thức và nội dung trong mối liên hệ có tính chức năng
– mối liên hệ giữa những phương tiện và những mục đích – để từ đó tìm
ra quy tắc xây dựng cấu trúc của đơn vị ngôn từ cơ bản là câu. Nghĩa
miêu tả của câu (còn được gọi là nghĩa biểu hiện, nghĩa trình bày, nghĩa
kinh nghiệm) phản ánh sự tri nhận và kinh nghiệm của chúng ta về thế
giới, theo đó mỗi câu nói có một vị từ làm cốt lõi và quay quần xung
quanh là những tham tố, biểu thị những vai nghĩa nào đó. Những tác giả
tiêu biểu cho xu hướng này là Tesniere, Fillmore, Givón, Dik, Cao Xuân
Hạo, Nguyễn Văn Hiệp, Hoàng Văn Vân,v.v.
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là TT (TT) trong tiếng Việt
và cấu CTTT của nó. Xác định cụ thể hơn, đối tượng khảo sát sẽ giới
hạn ở 1612 TT đơn tiết và những 769 đơn vị song tiết có hạt nhân là
TT đơn tiết và yếu tố sau có tư các bổ ngữ.
- Phạm vi nghiên cứu là CTTT của TT, cấu trúc cú pháp của TT, và
quan hệ giữa hai bình diện này.
5
- Ngữ liệu nghiên cứu được lấy chủ yếu từ "Từ điển tiếng Việt"
(Hoàng Phê chủ biên, 2006) và từ ngôn ngữ được được sử dụng trong
giao tiếp hàng ngày (xem Phụ lục).
0.5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên quan điểm của ngữ pháp chức năng, đặc biệt là lý
thuyết về CTTT, để xác định CTTT của TT được rõ hơn. Bên cạnh đó,
luận án cũng sử dụng các quan điểm của Dixon, Givon, v.v. để giải quyết
những vấn đề có liên quan.
Về phương pháp, luận án sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích, miêu tả: dùng để miêu tả TT ở phương
diện cú pháp và CTTT (trong tiếng Việt và trong tiếng Anh).
- Phương pháp đối chiếu: dùng để chỉ ra những tương đồng, khác
biệt giữa CTTT trong tiếng Việt và trong tiếng Anh, qua đó biện giải,
làm rõ thêm những đặc điểm CTTT của TT trong tiếng Việt.
- Phương pháp thống kê: dùng để thống kê dữ liệu phục vụ cho
những luận điểm trong luận án.
0.6. Đóng góp của luận án
Về phương diện lý luận, luận án cố gắng làm rõ CTTT của TT;
dùng tiêu chí CTTT để xác định bản chất của TT; tìm mối liên hệ giữa
CTTT và cấu trúc cú pháp của TT; chứng minh sự gần gũi giữa ĐT và
đủ, sâu sắc về TT; Quan điểm của Givón về ý nghĩa đặc trưng của TT, để
từ đó, khẳng định nếu thừa nhận một tập hợp TT trong tiếng Việt, thì nó
chỉ nằm ở phương diện đặc trưng (phân biệt với tập hợp TT được luận
án giả định); Một quan điểm phổ biến về TT tiếng Việt – về tập hợp TT
mà luận án giả định.
Các tiêu chí được dùng để xác định, nhận diện TT được bàn đến.
Về cơ bản, các tiêu chí - ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức năng
cú pháp - vẫn có tác dụng ở một mức độ nhất định, trong những phạm vi
nhất định trong việc phân chia từ loại. Nếu không tính đến các tiêu chí
này thì khó có thể bàn đến việc phân chia từ loại. Thực tế cho thấy rằng:
có sử dụng cả ba tiêu chí, hay kết hợp các tiêu chí một cách riêng rẽ thì
vẫn chưa có khả năng tìm được một kết quả nhất quán, một hướng để
phân định một cách triệt để từ loại nói chung cũng như từ loại tiếng Việt
nói riêng. Cần quan niệm đúng về các phương diện hoạt động của mỗi
nhóm từ loại, từ đó, xác định rõ ranh giới của từ loại trong tiếng Việt.
Trong luận án này, chúng tôi cũng đề cập đến một hướng phân chia
từ loại – dựa trên thang độ nghĩa. Hướng phân chia này cũng cho thấy
chỉ có hai từ loại cơ bản, phổ quát trong các ngôn ngữ (danh từ và ĐT).
TT, nếu được thừa nhận, thì nó chỉ tồn tại ở phương diện đặc trưng, hay
8
nói như Đinh Văn Đức: “Nói một cách tổng quát, TT là từ loại chỉ đặc
trưng của tất cả những khái niệm được biểu đạt bằng danh từ và ĐT”.
Đối với việc phân loại TT tiếng Việt: Về mặt ngữ nghĩa, việc tìm
kiếm sự khu biệt rạch ròi giữa TT nội động với TT ngoại động là ít tính
khả thi. Nếu cần phân biệt sâu hơn về mặt nghĩa, có thể coi TT nội động
là những từ chỉ trạng thái, tính chất tự thân của đối tượng giữ vai chủ
ngữ ở bình diện cú pháp. Trong quá trình khảo sát chúng tôi cũng nhận
optional argument); (ii) Tham tố ngoại tại và tham tố nội tại (external
argument and internal argument); (iii) Tham tố trực tiếp và tham tố gián
tiếp (direct argument and indirect argument); (iv) Tham tố ngầm ẩn
(suppressed/ implicit argument); (v) Tham tố bị lược bỏ (deleted
argument); (vi) Tham tố sự kiện (event argument).
CTTT của TT là một dạng CTTT trong đó hạt nhân là một TT, các
tham tố là những ngữ đoạn bổ sung về phương diện nghĩa cho TT đó.
Các ngữ đoạn này thường là ngữ danh từ, ngữ giới từ hoặc một cấu trúc
cú pháp phức hợp (một cú, hoặc một ĐT nguyên mẫu, v.v.).
1.3. Tiểu kết
10
TT tiếng Việt cũng chia sẻ hầu hết đặc tính của TT trong các ngôn
ngữ khác. TT trong tiếng Việt – một ngôn ngữ không biến hình, không
được nhận diện về hình thức – là nhóm từ gây nhiều tranh luận. Đặc
điểm có khả năng độc lập làm vị ngữ như một vị từ nội động khẳng định
tư cách là một tiểu loại của vị từ (giống như ĐT) của nó.
Ngoài ba tiêu chí – ý nghĩa, chức năng cú pháp, khả năng kết hợp
thường được nêu ra, luận án này bổ sung thêm một tiêu chí – tiêu chí
CTTT. Trong CTTT, khả năng kết hợp của vị từ trung tâm với các tham tố
trên cả bình diện cú pháp, ngữ nghĩa được làm rõ. CTTT cũng được bàn
đến ở các khía cạnh: vai trò của vị từ hạt nhân, phân loại các tham tố và
khả năng kết hợp với tham tố. CTTT của TT cũng được trực tiếp hoặc
gián tiếp đề cập đến, đặc biệt là vai trò trung tâm của TT trong CTTT.
Về phân chia từ loại TT, luận án chia TT thành ba loại (TT nội
động, TT ngoại động, TT có hai cách dùng). Việc phân chia TT được
dựa trên cơ sở của phạm trù nội động / ngoại động và chú trọng đến
tiêu chí cú pháp [+/- Bổ ngữ trực tiếp].
TT nhóm nội động có thể một mình làm vị ngữ, có quan hệ chặt với chủ
12
ngữ cả về cú pháp và ngữ nghĩa. Các TT nhóm nội động này khi tự mình
làm thành phần Thuyết có thể kết hợp với phần Đề để tạo thành câu đơn
hai thành phần tối giản mà không cần đến những thành phần khác. Về
mặt cấu tạo, TT nhóm nội động này có thể là một từ đơn hoặc từ phức.
Sự kết hợp trực tiếp giữa Đề với TT kiểu này cho ta một câu trọn nghĩa –
có thể hiểu được mà không cần phải đặt trong ngữ cảnh (context). Phần
lớn TT này tương đương với những vị từ trạng thái. Những TT có bản
chất là ngoại động nhưng cũng được dùng như nội động. Đó là những
TT ở nhóm ngoại động thỏa mãn về tiêu chí hình thức cú pháp (một bổ
ngữ trực tiếp) nhưng không thỏa mãn về phương diện ngữ nghĩa. TT loại
này có thể rút gọn số lượng diễn tố ở cấu trúc nghĩa ban đầu để trở thành
một TT mới có số lượng diễn tố ít hơn, có thể có sự chuyển đổi tư cách
cú pháp.
2.4. Cấu trúc song trị có hạt nhân là tính từ tiếng Việt
Đây là những TT đòi hỏi phải có 2 tham tố tham gia vào sự tình.
Một diễn tố xuất hiện trên bề mặt cú pháp là chủ ngữ, diễn tố kia là bổ
ngữ. Dựa vào cấu trúc ngữ pháp, bổ ngữ có những hình thức là (ngữ)
danh từ, ngữ giới từ, kết cấu chủ - vị, một vị từ hoặc ngữ vị từ. Trong đó
bổ ngữ có hình thức (ngữ) danh từ, ngữ giới từ là phổ biến.
Nội dung phần này cũng so sánh hoạt động của đơn vị song tiết
có một trung tâm và một yếu tố sau có tư cách bổ ngữ với đơn vị song
tiết có một trung tâm và một yếu tố láy, ĐVST có một trung tâm và một
yếu tố sắc thái hóa, và đơn vị song tiết còn chưa xác định. Chúng tôi xác
13
trong cấu trúc đơn trị và cấu trúc song trị có hạt nhân là TT tiếng Việt, và
hầu hết TT tiếng Việt có khả năng kết hợp với một hoặc hai diễn tố với
những biểu hiện hết sức đa dạng. Trong chức năng vị ngữ, TT tiếng Việt
thể hiện sự tương đồng rất lớn với ĐT.
Khảo sát cũng cho thấy trong CTTT của TT, ngoài vai Nghiệm thể,
còn có ba nghĩa cơ bản là vai Đương thể, vai Phạm vi và vai Đối thể.
Đây là bốn vai nghĩa cơ bản của TT tiếng Việt, thể hiện khả năng hoạt
động đa dạng của TT trên bình diện nghĩa.
Chương 3:
MỐI LIÊN HỆ GIỮA CẤU TRÚC THAM TỐ
VÀ CẤU TRÚC CÚ PHÁP CỦA TÍNH TỪ TIẾNG VIỆT
3.1. Cấu trúc cú pháp của tính từ tiếng Việt
Nhìn chung việc nghiên cứu TT trong giới ngôn ngữ học thế giới
cũng như giới Việt ngữ học mới chỉ tập trung ở khả năng hoạt động cú
pháp. Ngay đối với điều này, khả năng hoạt động như là hạt nhân của
một cấu trúc nội động, ngoại động cũng ít được chú ý. Đối với CTTT
của TT, giới ngôn ngữ học có đề cập ít nhiều; riêng giới Việt ngữ học
15
hầu như không ai chú ý tới vấn đề này. Nội dung trong phần này trình
bày khái quát về phạm trù nội động / ngoại động trong tiếng Việt – một
nền tảng cơ bản của cấu trúc cú pháp, và từ đó làm rõ cấu trúc nội động,
ngoại động có hạt nhân là TT ở các phương diện cơ bản, như: (i) Việc
xác định các phạm trù nội động/ngoại động dựa trên tiêu chí loại hình;
(ii) Tiêu chí xác định phạm trù nội động/ngoại động trong tiếng Việt;
(iii) Những đối lập cơ bản giữa vị từ nội động và ngoại động; (iv) Sự
chuyển đổi diễn trị và hiện tượng vị từ có 2 cách dùng trong tiếng Việt.
Có thể thấy, hầu hết các TT trong tiếng Việt có thể tham gia làm
hạt nhân trong cấu trúc nội động. Điều này có nguồn gốc sâu xa từ bản
Cũng giống như ĐT, TT cũng có thể làm hạt nhân của CTTT (đơn
trị, đa trị), và hạt nhân của cấu trúc cú pháp (nội động, ngoại động).
Trong tiếng Việt, quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp thường là
quan hệ một - một, hoặc một - nhiều, nghĩa là một CTTT TT đơn trị thì
được hiện thực hóa thành một cấu trúc nội động (quan hệ một - một);
một CTTT TT đa trị (trong tiếng Việt chỉ có song trị) có thể được hiện
thực hóa thành cấu trúc ngoại động (nếu diễn tố thứ hai thể hiện là một
ngữ đoạn danh từ - bổ ngữ trực tiếp) hoặc cấu trúc nội động (nếu diễn tố
thứ hai thể hiện là một ngữ giới từ - bổ ngữ gián tiếp).
17
Thực tế này cho thấy rõ quan hệ phức tạp giữa CTTT và cấu trúc cú
pháp. Về cơ bản, CTTT chi phối cấu trúc cấu trúc cú pháp và một CTTT
có thể được hiện thực hóa bằng một hay nhiều cấu trúc cú pháp.
Bảng tóm tắt mối liên hệ giữa CTTT và cấu trúc cú pháp đã thể
hiện khá đầy đủ khả năng hoạt động đa dạng của của các tham tố trên
bình diện cú pháp, bình diện nghĩa, và mối liên hệ giữa cấu trúc tham tố
và cấu trúc cú pháp.
Chương 4:
ĐỐI CHIẾU TÍNH TỪ TIẾNG VIỆT VỚI TÍNH TỪ TIẾNG ANH
Ở PHƯƠNG DIỆN CẤU TRÚC THAM TỐ VÀ PHƯƠNG DIỆN
CÓ LIÊN QUAN
4.1. Đối chiếu tính từ tiếng Việt với tính từ tiếng Anh ở phương
diện cấu trúc tham tố
Một nghiên cứu về CTTT TT tiếng Anh của Ikeya (1995) được
nhiều tác giả chia sẻ, đã coi TT tiếng Anh là vị từ đơn trị và cho rằng tất cả
những ngữ đoạn có quan hệ về nghĩa với TT, ngoài ngữ đoạn làm chủ ngữ
có cương vị đầy đủ của một tham tố, đều chỉ là những ‘tham tố giả’
(pseudo-argument). Những ngữ đoạn – ‘tham tố giả’- này có thể biểu hiện
19
TT tiếng Việt có sự khác biệt lớn so với TT tiếng Anh, đó là khả
năng làm trung tâm của CTTT và khả năng chi phối các ngữ đoạn theo
sau. TT tiếng Việt có thể làm hạt nhân của CTTT đơn trị hoặc đa trị và
có thể chi phối trực tiếp yếu tố theo sau. Trong khi, TT tiếng Anh chỉ là
hạt nhân của CTTT đơn trị và có khả năng chi phối yếu tố sau một cách
gián tiếp. Sự khác biệt giữa TT tiếng Việt và tiếng Anh được thấy rõ trên
bình diện cú pháp.
KẾT LUẬN
Sau khi khảo sát, phân tích khả năng hoạt động của 1612 TT đơn
tiết và 769 đơn vị song tiết có hạt nhân là TT đơn tiết và yếu tố sau có tư
các bổ ngữ ở hai phương diện (cấu trúc cú pháp và CTTT), làm rõ các
vai nghĩa và vai cú pháp của TT trên hai phương diện này, tìm mối liên
hệ giữa CTTT và cấu trúc cú pháp của TT, đối chiếu CTTT của TT tiếng
Việt với CTTT của TT tiếng Anh, chúng tôi tạm rút ra một số nhận xét
bước đầu như sau.
Trong CTTT của TT tiếng Việt, tư cách hạt nhân của TT được thể
hiện rõ nét, đặc biệt là những hình thức ĐVST_TT+BN đã được xác
định là những ngữ đoạn chức năng có hạt nhân là TT đơn tiết và yếu tố
sau có tư cách bổ ngữ. Các tham tố của TT có khá nhiều nét tương đồng
với tham tố của ĐT, mặc dù khả năng hoạt động và số lượng hạn chế
hơn so với tham tố của ĐT. Về khả năng kết hợp với diễn tố, hầu hết TT
tiếng Việt có khả năng kết hợp với một hoặc hai diễn tố với những biểu
hiện hết sức đa dạng. Việc chỉ ra TT có khả năng làm hạt nhân trong
20
CTTT, và hơn nữa, có thể là hạt nhân trong cấu trúc song trị, có thể là
cấu trúc cú pháp như cấu trúc ngữ nghĩa của ĐT. Vai Nghiệm thể của TT
tiếng Việt, nếu chỉ là đối tượng mang trạng thái ở vai chủ thể thì chưa
đủ, mà cần được xác định rõ hơn trong mối liên hệ với cấu trúc cú pháp
Đề Thuyết của tiếng Việt. Mặc dù mới làm rõ về những vai nghĩa này ở
mức độ nhất định, nhưng chúng tôi cho rằng đây là những vai nghĩa có
liên hệ chặt chẽ với TT và chúng cần được nghiên cứu sâu hơn.
Xem xét TT trong mối quan hệ giữa khả năng tham gia CTTT và
khả năng tham gia cấu trúc cú pháp không chỉ giúp làm rõ hoạt động của
lớp từ này mà còn góp phần làm rõ mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ
pháp trong ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, quan hệ đó thường là quan hệ
một - một, hoặc một - nhiều, nghĩa là một CTTT TT đơn trị thì được
hiện thực hóa thành một cấu trúc nội động (quan hệ một - một); một
CTTT TT đa trị (trong tiếng Việt chỉ có song trị) có thể được hiện thực
hóa thành cấu trúc ngoại động (nếu diễn tố thứ hai thể hiện là một ngữ
đoạn danh từ - bổ ngữ trực tiếp) hoặc cấu trúc nội động (nếu diễn tố thứ
hai thể hiện là một ngữ giới từ - bổ ngữ gián tiếp). Thực tế này cho thấy
quan hệ giữa CTTT và cấu trúc cú pháp phản ánh rõ mối quan hệ giữa
cấu trúc sâu với cấu trúc bề mặt. Cấu trúc sâu (CTTT) chi phối cấu trúc
22
bề mặt (cấu trúc cú pháp) và một cấu trúc sâu có thể được hiện thực hóa
bằng một hay nhiều cấu trúc bề mặt.
Nêu ra những tương đồng rất nổi bật về phương diện CTTT và
phương diện cú pháp giữa TT với ĐT trong tiếng Việt. Có thể khẳng
định, cũng giống như ĐT, TT cũng có thể làm hạt nhân của CTTT (đơn
trị, đa trị), và hạt nhân của cấu trúc cú pháp (nội động, ngoại động). Khả
năng tham gia (làm hạt nhân) CTTT và cấu trúc cú pháp cho thấy sự cần
thiết bàn luận thêm về tương đồng giữa hai từ loại. Việc khẳng định sự
tồn tại song song hai từ loại (TT và ĐT) có lẽ có ý nghĩa và là cần thiết ở
cách hạt nhân như ĐT trong CTTT. Sự khác biệt này, như nhiều lần
chúng tôi đã đề cập trong luận án, bắt nguồn từ sự khác biệt về khả năng
hoạt động cú pháp của TT trong hai ngôn ngữ.
TT tiếng Việt cũng được đối chiếu với TT tiếng Anh trong mối liên
hệ với các từ loại khác, để thấy được: ý nghĩa đặc trưng là đặc tính phổ
quát của TT, giới hạn nghĩa cho những khái niệm về sự vật, hiện tượng,
tồn tại, trạng thái, quá trình, hành động, v.v. Chúng tôi cho rằng: nếu
thừa nhận trong tiếng Việt có TT thì nó là một từ loại không “chính
danh” tồn tại như danh từ, ĐT, và chỉ tồn tại ở phương diện đặc trưng,
chỉ có chức năng định ngữ.
24
Tóm lại, luận án, mặc dù sử dụng thuật ngữ TT, nhưng mục đích
cuối cùng lại nhằm chỉ ra những tương đồng rất rõ nét, cơ bản giữa TT
và ĐT hay nói rõ hơn, chúng tôi nghiêng về quan điểm nên hợp nhất hai
nhóm từ này thành một từ loại (vị từ). Sự khác biệt giữa chúng, chủ yếu
ở phương diện nghĩa. Đóng góp lớn nhất của luận án để góp phần hợp
nhất hai nhóm từ này là: cung cấp thêm tiêu chí cấu trúc tham tố - khẳng
định TT cũng có CTTT tương đồng với CTTT của ĐT, và TT cũng
tương đồng với ĐT trong khả năng làm hạt nhân của CTTT; Trên bình
diện cú pháp, ở vai trò trung tâm vị ngữ, TT tiếng Việt cũng thể hiện tính
nội động/ ngoại động tương đồng với ĐT.
DANH MỤC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Phạm Hồng Hải. (2016). “Xác định cương vị của nai, vô, bất trong ngữ đoạn tính từ
tiếng Việt. Ngôn ngữ & Đời sống, 10, 33-39.
2. Phạm Hồng Hải. (2015). Về ý nghĩa đặc trưng của tính từ. Ngôn ngữ & Đời sống, 4,
23-27.
3. Lê Kính Thắng, Phạm Hồng Hải. (2016). Tính từ tiếng Việt – nhìn từ phương diện cấu