Báo cáo nghiên cứu khoa học: "NGHĨA CỦA CÁC TỪ BIỂU THỊ SỰ NÓI NĂNG TRONG TIẾNG VIỆT ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG NGA" - Pdf 19

NGHĨA CỦA CÁC TỪ BIỂU THỊ SỰ NÓI NĂNG
TRONG TIẾNG VIỆT ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG NGA
ON THE MEANING OF VIETNAMESE SPEECH EXPRESSIONS IN
CONTRAST WITH RUSSIAN TRẦN THỊ HIỀN
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Ngữ nghĩa học là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa hình thức diễn đạt và cái được diễn
đạt. Ngữ nghĩa học chủ yếu nghiên cứu “những quy luật tinh thần” trong ngôn ngữ, tức là
nghiên cứu ý nghĩa của từ trong mối quan hệ của nó với các yếu tố khác. Muốn hiểu nghĩa
của một từ thì phải biết xác định ở mỗi lần xuất hiện của từ ấy, cái mà nó chỉ định là gì.
Bài viết trình bày cấu trúc ngữ nghĩa của các từ biểu thị sự nói năng trong tiếng Việt đối chiếu
với tiếng Nga, qua đó muốn làm phong phú thêm vốn từ của mình cũng như khả năng sử
dụng chúng trong những tình huống hoàn cảnh nói năng khác nhau.
ABSTRACT
Semantics is a science studying the relationship between the form and content of what is
expressed. Semantics mainly studies the spiritual principles of languages, that is to say
studying word meanings related to other elements. In order to understand the meaning of a
word, it is to define what is indicated at each time of its appearance.
This paper is aims at presenting the semantic structure of Vietnamese speech expressions in
contrast with Russian. The writer would like to enrich her vocabulary and the ability of using
words in various situations of speech performance. 1. Đặt vấn đề
Ngày nay, do nhu cầu phát triển của xã hội, việc học ngoại ngữ ngày càng đóng vai trò
quan trọng và cần thiết. Người học không những phải trang bị cho mình một vốn từ vựng

Trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ, người ta dùng lời nói để truyền đạt tư tưởng
tình cảm của mình. Hành vi giao tiếp bằng ngôn ngữ ấy là sự nói năng. Nhóm từ biểu thị sự
nói năng naỳ rất phong phú và đa dạng. Hành vi giao tiếp (cũng là hành vi nói năng) bao gồm
hành vi NÓI và tiếp nhận LỜI, có thể được hiểu qua quá trình nói và nghe. Hành vi giao tiếp
bằng lời thể hiện mối quan hệ cá nhân giữa chủ thể giao tiếp và khách thể giao tiếp.
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là công cụ thông báo, nên thực chất của ngôn ngữ học
là tìm hiểu ngữ nghĩa của câu nói. Mà nghĩa của câu nói - đơn vị của lời nói (речевая
единица) thì khác với nghĩa của câu - đơn vị của ngôn ngữ (языковая единица). Cho nên có
khi biết nghĩa của từng từ mà vẫn không hiểu nghĩa của câu nói là gì. Ngược lại, có hiểu
nghĩa của câu nói mới rút ra được đầy đủ nghĩa của những từ đã được thực hiện hóa trong đó.
Sở dĩ như vậy là bởi câu nói còn tùy thuộc vào tình huống phát ngôn, vào nhiều nhân tố khác
nữa.
Nói: Hay thật! Có nghĩa là “không hay”
Trời đẹp nhỉ! Có nghĩa là “chúng ta chưa có điều gì để nói với nhau”
Tình huống của lời nói là tất cả hoàn cảnh trong đó diễn ra một hành vi phát ngôn. Nó
rất đa dạng. Có thể là môi trường vật lý và xã hội trong đó câu nói xuất hiện. Tình huống còn
có thể là những vấn đề có liên quan đến tông tích của những người đối thoại. Họ là ai? Ý kiến
của họ đối với nhau ra sao?
Miêu tả một câu nói mà không đề cập đến hành vi là sự ứng phó của nó trong một số
kiểu tình huống khác nhau của nó được sử dụng là một thiếu sót. Tình huống giúp xác định
tính chất của hành vi ngôn ngữ được hoàn thành.
Chẳng hạn câu nói: “Anh làm việc này ngày mai.” Có thể hiểu như một lời hứa hẹn,
hay một mệnh lệnh của cấp trên hoặc như một lời thông báo của một người nào đó.
Những thực tế trên đây chứng tỏ tình huống của một câu nói là rất quan trọng. Cần
phải xác định vị trí của nó như thế nào trong một lý thuyết ngôn ngữ học.
Ví dụ: Ba giá trị định ngôn theo hoàn cảnh của câu: “Anh làm việc này ngày mai.” Có
thể diễn đạt theo 3 cách:
- Tôi ra lệnh cho anh làm việc này ngày mai (mệnh lệnh của người giám đốc)
- Anh làm việc này ngày mai (hứa hẹn của cấp trên)
- Đồng chí bí thư nói: “Anh làm việc này ngày mai” (thông báo)

nhất hai nghĩa.
- Nghĩa biểu thị bản thân hành vi nói năng
- Nghĩa biểu thị sự giao tiếp bằng lời
Xét về nhiều mặt говорить/сказать là từ trung tâm trong nhóm từ ngữ này vì nghĩa
của từ говорить/сказать bao quát được những nét nghĩa cơ bản có giá trị phạm trù cơ cấu
nghĩa của các từ trong nhóm.
Ví dụ: Мы говорим по-русски.
Скажите, пожалуйста, как вас зовут?
Скажи, как тебя зовут? [1, Tr.45]
Cặp động từ говорить/сказать là thành tố nghĩa biểu thị khái niệm phạm trù, nghĩa
là chúng được dùng làm thành tố cơ bản chung trong cơ cấu nghĩa của từ ngữ đang xét.
Chúng là cơ sở để qui những từ ngữ này về một nhóm từ vựng ngữ nghĩa thống nhất.
3.3. Nghĩa của các từ biểu thị sự nói năng trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Nga
Ở đây chúng ta cần hiểu nghĩa của các từ biểu thị sự nói năng trong tiếng Việt đối
chiếu với tiếng Nga. Và chúng ta xét xem hai từ tương đương NÓI và ГОВОРИТЬ là gì trong
cơ chế giao tiếp bằng ngôn ngữ.
3.3.1. Giống nhau: NÓI là hành vi phát ra thành tiếng, thành lời, nghĩa là biểu thị bản
thân hành vi nói năng.
Ví dụ: a. Tôi nói đồng bào nghe rõ không? (Hồ Chí Minh)
Я говорю, вы хорошо слышите? [1, Tr.50]
b. Nghe như có ai đang nói! [9, Tr.254]
Кто-то говорит! [1, Tr.47]
Sử dụng từ NÓI ở hai câu này là tương đương với nhau.
3.3.2. Khác nhau: NÓI là hành vi giao tiếp bằng lời.
Ví dụ: a. Người ta hỏi mà nó chẳng thèm nói. [9, Tr.292]
Спрашивают, но он не отвечает. [1, Tr.46]
b. Nói mà nó không chịu nghe [9, Tr.243]
Советуют, но он не слушает. [1, Tr.52]
c. Đã nói thì phải làm. [9, Tr.405]
Обещайте- то выполните. [1, Tr.54]

Trong câu (b) người nói hứa với người nghe rằng bằng cách nào đó anh ta sẽ đem tới
cho người nghe cái mà người muốn.
Trong câu (c) người nói muốn khẳng định với người nghe rằng có sự hiện diện của
“chó dữ trong vườn”.
Như vậy việc tìm hiểu bản chất cơ chế giao tiếp bằng lời nói giúp chúng ta hiểu được
mối tương tác. mối quan hệ cá nhân giữa chủ thể và khách thể giao tiếp. Sản phẩm của hành
vi nói năng (là lời) bao gồm: Mục đích nói, nội dung nói và cách nói. Trong bối cảnh giao tiếp
nhất định, khi chủ thể giao tiếp thực hiện hành vi nói năng là muốn đối tượng giao tiếp nhận
hiểu được nội dung, mục đích và cách nói. Tuy nhiên khi thể hiện hành vi giao tiếp mà sản
phẩm của hành vi đó là lời, chủ thể giao tiếp với nội dung nhất định nhằm truyền đạt đến
người nghe những mục đích khác nhau của lời nói, đó là:
- Những thông tin có tính chất thông báo thông thường.
Ví dụ: Он говорит, что он идёт в институт. [1, Tr.25]
- Những lời khuyên răn, bảo ban.
Ví dụ: Учитель советует своим ученикам: “Вам надо хорошо учиться” [1,
Tr.78]
- Những lời thông báo, dự báo trước, ngăn cản.
Ví dụ: Я предупреждаю вас о том, что чёрный пёс лежит в саду. [7, Tr.140 T.2]
- Những lời ra lệnh hoặc cầu xin.
Ví dụ: Милиционер спрашивает преступника: “Скажите, как вас зовут?” [1,
Tr.108]
Vấn đề nảy sinh ở đây là mối tương tác, mối quan hệ liên cá nhân giữa chủ thể giao
tiếp và khách thể giao tiếp thể hiện như thế nào.
- Khi muốn truyền đạt những thông tin có tính chất thông báo thông thường thì không
có sự phân biệt về ngôi thứ, địa vị xã hội, cấp bậc, vai vế giữa người nói và người tiếp nhận
lời.
- Khi muốn truyền đạt những lời khuyên răn, dạy bảo thì thông thường cần phải có sự
phân biệt về ngôi thứ giữa người nói và người nghe, chẳng hạn chỉ những người lớn hơn về
mặt tuổi tác mới đủ tư cách khuyên bảo những người nhỏ tuổi hơn mình, hoặc những người
có trách nhiệm khuyên bảo những người thuộc trách nhiệm của mình (VD: một bác sĩ khuyên

Ở đây nghĩa là phải diễn ra quá trình nói và nghe (tiếp nhận lời) giữa chủ thể và khách
thể giao tiếp trong một tình huống giao tiếp nhất định.

4. Kết luận
Như vậy ta thấy nhóm từ biểu thị sự nói năng trong tiếng Việt có thể là những động từ
đơn âm tiết, có thể là từ láy, có thể là thành ngữ như đã đề cập ở trên. Còn nhóm từ biểu thị sự
nói năng trong tiếng Nga thuộc lớp từ loại động từ. Cấu trúc ngữ nghĩa của chúng cũng mang
tối thiểu hai nghĩa: nghĩa ngữ pháp và nghĩa từ vựng. Xét về nghĩa từ vựng thì các từ ngữ này
đều có thể là những từ nhiều nghĩa. Tuy nhiên, đã là các từ biểu thị hành vi nói năng thì phải
bao gồm ít nhất hai nghĩa: Nghĩa biểu thị hành vi phát ra thành tiếng, thành lời và nghĩa biểu
thị sự giao tiếp bằng lời.
Các từ biểu thị nói năng trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Nga khá phong phú, đa
dạng về nghĩa. Bên cạnh những nghĩa biểu thị bản thân hành vi nói năng còn tồn tại những
nghĩa không biểu thị hành vi nói năng. Việc nắm bắt toàn bộ cơ cấu ngữ nghĩa của nhóm từ
này không phải vấn đề đơn giản. Vì vậy việc dạy học ngữ nghĩa của nhóm từ này nên được
trang bị cho người học một khái niệm khái quát về khả năng thể hiện nhiều nghĩa của từ.
Chúng ta cần biết rằng hiện tượng phong phú về nghĩa của từ là hiện tượng phổ biến trong các
ngôn ngữ, không riêng gì ở tiếng Việt hay tiếng Nga. Vì vậy bài viết này muốn làm phong
phú thêm vốn từ của mình cũng như khả năng và sử dụng chúng trong những tình huống,
hoàn cảnh nói năng khác nhau. TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Акишина А.А; Формановская Н.И., Русский речевой зтикет, Изд. “Русский
язык”, Москва, 1981.
[2] Виноградов В.В., Русский язык, Изд. “Русский язык”, Москва, 2001.
[3] Панфилов В.С., Грамматический Строй вьетнамского языка, Санкт-петербург,
1993.
[4] Saussure, Ferdinand, Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXB KHXH, Hà Nội, 1973.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status