LATS 2018 quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố cần thơ trong hội nhập quốc tế - Pdf 53

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGÔ NGUYỄN HIỆP PHƯỚC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2018


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGÔ NGUYỄN HIỆP PHƯỚC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 62 34 04 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS,TS. Nguyễn Hữu Thắng
2. TS. Trần Thị Hằng

HÀ NỘI - 2018

LỊCH TRÊN ĐIA BÀN THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

2.1. Khái quát chung về du lịch trên địa bàn thành phố
2.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung và các nhân tố tác động đến quản
lý nhà nước về du lịch cấp thành phố trực thuộc trung ương
trong hội nhập quốc tế
2.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch ở một số tỉnh, thành phố
và bài học rút ra
Chương 3:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

8
8
15
23

26
26

35
64
71

3.1. Điều kiện, tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn
thành phố Cần Thơ
3.2. Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ
3.3. Đánh giá chung đối với quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn
thành phố Cần Thơ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN

: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CNTT

: Công nghệ thông tin

DLST

: Du lịch sinh thái

DNDL

: Doanh nghiệp du lịch

DNNVV

: Doanh nghiệp nhỏ và vừa

ĐBSCL

: Đồng bằng sông Cửu Long

GRDP

: Tổng sản phẩm trên địa bàn

HDV


TMV

: Thuyết minh viên

TTTƯ

: Trực thuộc trung ương

UBND

: Ủy ban nhân dân

UNWTO

: Tổ chức du lịch của Liên hợp quốc

VH-TT-DL

: Văn hóa, thể thao và du lịch

VNACCS/VCIS : Hệ thống thông quan tự động và Cơ chế một cửa quốc gia
WTTC

: Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới

XHH

: Xã hội học



84

Bảng 3.6

Doanh thu du lịch thành phố Cần Thơ giai đoạn 2006 -2017

85

Bảng 3.7

Số ngày du lịch của du khách ở Cần Thơ

87

Bảng 3.8

Điểm du lịch du khách lựa chọn khi đến Cần Thơ

88

Bảng 3.9

Số lượng cơ sở lưu trú năm 2017

115

Bảng 3.10

Ý kiến đánh giá về nguồn thông tin chọn du lịch đến Cần Thơ

Hình 2.3

Kiến nghị vấn đề cần cải thiện mạnh nhất ở Cần Thơ hiện nay

57

Hình 3.1

Cơ cấu lao động Cần Thơ 2016

72

Hình 3.2

Cơ cấu kinh tế Cần Thơ năm 2016

72

Hình 3.3

Tỷ lệ nhựa hóa các tuyến đường Cần Thơ

73

Hình 3.4

Số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn Cần Thơ giai đoạn 2006 - 2017

80


Hình 3.10 Tỷ lệ khách sạn đã phân hạng năm 2017

115

Hình 3.11 Mức độ hài lòng đối với kết quả quản lý nhà nước về du lịch ở Cần Thơ

121

Hình 3.12 Đánh giá mức độ khuyến khích phát triển hoạt động du lịch

121

Hình 3.13 Đánh giá các chính sách du lịch được chú trọng phát triển ở Cần Thơ

122


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch được coi là một trong những ngành kinh tế dịch vụ phát triển
nhanh nhất và phạm vi lớn nhất trên thế giới hiện nay, góp phần quan trọng vào
sự phát triển thịnh vượng của nhiều quốc gia. Theo báo cáo của Hội đồng Du
lịch và Lữ hành thế giới (WTTC), năm 2015, ngành du lịch và lữ hành đã tạo ra
hàng triệu việc làm cho nền kinh tế thế giới, đóng góp hàng nghìn tỷ USD cho
GDP toàn cầu mỗi năm. Cũng theo tổ chức này, hoạt động du lịch (HĐDL)
có tác động lan tỏa đến nhiều ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế. Trải qua các
biến cố, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, du lịch được xác định là ngành có
khả năng phục hồi nhanh nhất. Các nước phát triển hàng đầu như Mỹ coi du

du lịch chưa hiệu quả, vấn đề liên kết phát triển du lịch chưa được chú ý. Ngoài
ra, còn hạn chế, yếu kém về kết cấu hạ tầng kỹ thuật du lịch, đội ngũ nhân lực du
lịch, năng lực xúc tiến quảng bá du lịch và thiếu sự ổn định về tổ chức bộ máy
QLNN trong lĩnh vực du lịch, nhiều di tích lịch sử - văn hóa - cách mạng đang
trong tình trạng xuống cấp chưa được tu bổ, tôn tạo lại. Bên cạnh đó, so với tiềm
năng, lợi thế so sánh vốn có thì sự phát triển du lịch thành phố Cần Thơ vẫn chưa
tương xứng, số ngày lưu trú bình quân (1,5 ngày/khách) và chi tiêu của du khách
còn thấp, khách quốc tế đến Cần Thơ chưa nhiều.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế (HNQT) hiện nay và cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, nhu cầu du lịch gia tăng, lưu lượng du khách tăng mạnh, đặc
biệt là khách quốc tế, xu hướng du lịch thay đổi, hình thức và loại hình du lịch gia
tăng. Bên cạnh những tích cực của HNQT đối với du lịch, thì những hiện tượng
tiêu cực cũng gia tăng, ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa và xã hội địa phương, như
hiện tượng "tour 0 đồng", mại dâm, gây ô nhiễm môi trường, tác động xấu đến
văn hóa địa phương… Trong bối cảnh đó, yêu cầu đối với QLNN về du lịch tăng
cao. Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm giải pháp đổi mới QLNN về du lịch nhằm
thúc đẩy HĐDL phát triển bền vững, góp phần làm cho du lịch thực sự trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố Cần Thơ và phát triển bền vững là vấn đề


3
bức thiết hiện nay. Đây là vấn đề có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn ở địa
phương cũng như trong cả nước. Đó cũng là lý do của việc lựa chọn đề tài "Quản
lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong hội nhập quốc tế"
làm luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn của QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố để đề xuất giải pháp hoàn
thiện QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong điều kiện đẩy
mạnh HNQT.

trên địa bàn; và kiểm tra, kiểm soát HĐDL trên địa bàn.
Về không gian, việc nghiên cứu QLNN về du lịch chủ yếu tập trung trên
địa bàn thành phố Cần Thơ, có khảo cứu các tỉnh lân cận để kết nối du lịch.
Về thời gian, việc nghiên cứu, phân tích thực trạng QLNN về du lịch ở
thành phố Cần Thơ chủ yếu từ năm 2010 đến nay; các giải pháp đề xuất hoàn
thiện QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2025 và định
hướng đến năm 2030.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Về cơ sở lý luận: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở lý thuyết về quản
lý kinh tế, trong đó có du lịch; lý luận về QLNN, các mô hình lý thuyết của quản
lý du lịch trong nước và trên thế giới.
Về phương pháp luận: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận
duy vật biện chứng để làm rõ vấn đề QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố
trong sự biến đổi không ngừng, trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, gắn
với những điều kiện cụ thể.
Về phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, các phương pháp nghiên cứu cụ thể
được sử dụng bao hàm cả phương pháp diễn dịch và phương pháp quy nạp;
phương pháp định tính, định lượng và phối hợp.
Việc sử dụng phương pháp diễn dịch nhằm hình thành khung lý thuyết về
QLNN đối với du lịch trên địa bàn thành phố theo cách tiếp cận QLNN nhằm phát
triển du lịch bền vững. Trên cơ sở đó để rút ra những kết luận cần thiết, những
kiến nghị về QLNN nhằm phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ.


5
Phương pháp quy nạp được sử dụng trên cơ sở các dữ liệu thực tế về HĐDL,
thực trạng QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ để khái quát hóa (quy
nạp), rút ra những nhận định, kết luận về QLNN nhằm thúc đẩy phát triển du lịch trên
địa bàn thành phố Cần Thơ một cách có hiệu quả và bền vững.

phương; các đối tượng khác như các nhà nghiên cứu, người dân.
+ Quá trình điều tra được tiến hành theo ba loại phiếu hỏi: phiếu hỏi du
khách nước ngoài (100 phiếu), phiếu hỏi du khách trong nước (200 phiếu) và
phiếu hỏi 4 nhóm đối tượng khác (500 phiếu), gồm các cơ sở kinh doanh du lịch,
quan chức QLNN ở địa phương, các chuyên gia nghiên cứu du lịch và người dân
ở thành phố Cần Thơ. Tổng số phiếu thu được sau khi làm sạch là 800 phiếu.
Phiếu điều tra được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng SPSS và phân tích nhân
tố khám phá (EFA). Kết quả xử lý phiếu điều tra được sử dụng trong 3 chương
của luận án, đặc biệt là chương 3.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đã có những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn sau:
Xây dựng mô hình quản lý của chính quyền cấp thành phố TTTƯ về du
lịch trong sự kết hợp giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên địa bàn
thành phố trực thuộc trung ương phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong bối
cảnh HNQT. QLNN về du lịch cấp thành phố trực thuộc trung ương có sự gắn kết
giữa chức năng, nhiệm vụ của chính quyền thành phố được giao để quản lý ngành
đặc thù, có tính nối kết phức tạp của HĐDL (liên ngành) để thực hiện mục tiêu phát
triển KT-XH địa phương và của ngành.
Phân tích, đánh giá có kiểm chứng bằng số liệu điều tra thực tế về thực
tiễn mô hình kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ trên địa bàn thành phố
Cần Thơ.
Đề xuất các giải pháp để vận hành mô hình QLNN này một cách hiệu
quả và phù hợp với các đặc thù của thành phố Cần Thơ, bao gồm từ thiết kế lại
tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản lý, tăng cường công tác hoạch định,
phát triển, chính sách hỗ trợ, kiểm tra, kiểm soát.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học: Bổ sung một số vấn đề mang tính chất lý luận của
QLNN về du lịch cấp thành phố TTTƯ trong sự kết hợp giữa quản lý theo ngành
và quản lý theo lãnh thổ trên địa bàn thành phố trực thuộc trung ương.


nghĩa hiện đại là một hiện tượng của thời đại, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu
khôi phục sức khỏe và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát
sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên [60, tr. 8].
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn
thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Picara -Edmod
cũng chỉ ra ý nghĩa của HĐDL, khi cho rằng: Du lịch là việc tổng hòa việc tổ
chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về
phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với
một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm
thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí [60, tr. 9].
Những học giả Trung Quốc nghiên cứu về du lịch cũng có chung quan
điểm với hai giáo sư trên nêu ra, họ đưa ra nhận định: Du lịch là một hiện


9
tượng kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hợp tất cả các quan hệ và hiện tượng
do việc lữ hành để thỏa mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí
và văn hóa nhưng lưu động chứ không định cư mà tạm thời cư trú của mọi
người dẫn đến [60, tr. 29].
Từ các quan điểm trên, có thể thấy HĐDL là tổng hợp của nhiều hoạt động,
bao gồm các hoạt động lữ hành, lưu trú và các hoạt động khác phục vụ cho nhu cầu
khác nhau của du khách. HĐDL sẽ giúp du khách khôi phục sức khỏe, phát sinh và
phát triển tình cảm với vẻ đẹp thiên nhiên, nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hóa.
Thông qua HĐDL sẽ thúc đẩy tăng trưởng KT-XH địa phương.
Năm 1980, tại Hội nghị Manila, Tổ chức Du lịch Quốc tế đã chỉ ra ý
nghĩa của HĐDL, khi cho rằng: Việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích
không phải di cư và một cách hòa bình, hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự
phát triển cá nhân về phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần cùng với
việc đẩy mạnh sự hiểu biết và sự hợp tác giữa mọi người [33, tr. 12]. Còn theo
Tổ chức Du lịch của Liên hợp quốc (UNWTO) cho rằng du lịch là một hiện

nghiệp khác liên quan đến du lịch [98];
Tác giả William Theobald (1994) làm rõ ý nghĩa của HĐDL đối với hòa
bình thế giới [108]. Tác giả đã làm rõ HĐDL thúc đẩy nền hòa bình, hữu nghị và
hiểu biết lẫn nhau.
1.1.1.2. Về các loại hình du lịch
Theo kết quả của các nhà nghiên cứu, tùy theo mục đích của du khách
mà có thể phân loại thành nhiều hình thức du lịch khác nhau.
Tác giả Iresh Singh (2011) cho rằng du lịch đề cập đến việc kinh doanh
cung cấp chỗ ở và các dịch vụ liên quan cho những người đến thăm các điểm
đến. Du lịch bao gồm hai yếu tố là hành trình tới đích và ở. Theo đó, các loại
hình du lịch được kể đến bao gồm: du lịch giải trí, du lịch sinh thái (DLST), du lịch
lịch sử, du lịch dân tộc, du lịch văn hóa, du lịch mạo hiểm, du lịch chữa bệnh, du
lịch tôn giáo, du lịch âm nhạc, du lịch làng, du lịch sinh vật hoang dã [90].
Ngoài ra, còn có các bài viết khác cũng bàn về các loại hình du lịch như:
du lịch mạo hiểm, du lịch kinh doanh, du lịch sinh nở, du lịch ẩm thực, du lịch
văn hóa, du lịch đen, du lịch thiên tai, du lịch ma túy, du lịch y tế, du lịch gia


11
phả, du lịch biển, du lịch tình dục, du lịch khu ổ chuột, du lịch không gian, du
lịch thể thao, du lịch ảo, du lịch chiến tranh [103], [105].
Theo UNWTO, tùy thuộc vào nguồn lực sẵn có của điểm đến để đa dạng
hóa và cung cấp nhiều hơn một loại hình du lịch. UNWTO đưa ra một số giải
thích ngắn gọn về các loại hình du lịch chính như du lịch giải trí, du lịch y tế, du
lịch giáo dục, du lịch kinh doanh, du lịch thăm bạn bè hoặc người thân, du lịch
tôn giáo, du lịch thể thao [109].
Ngoài ra, các công trình khác cũng đề cấp đến một vài loại hình du lịch
theo các cách khác như: du lịch giải trí, du lịch văn hóa [105], DLST [4], du lịch
kinh doanh [104], du lịch y tế [106], du lịch giáo dục [99].
1.1.1.3. Về hoạt động kinh tế du lịch và sự phát triển du lịch

triển du lịch như Political and Economic Factors Affecting Tourism Demand
between Countries: A Case from Bosnia Herzegovina and Turkey [91], Tourism
Economics [89], Tourism Economics and Policy [94].
1.1.2. Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về du lịch ở
nước ngoài
1.1.2.1. Về vai trò và nội dung quản lý nhà nước về du lịch
Phutsady Phanyasith (2014), trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tác giả cho
rằng QLNN đối với HĐDL là phương thức nhà nước sử dụng pháp luật tác động
vào đối tượng HĐDL để định hướng hoạt động này vận động, phát triển đạt được
mục đích xác định [37].
W. Susan (1996) khi phân tích nguồn gốc của ngành thương mại giải trí
và du lịch, đã miêu tả về ngành thương mại giải trí và du lịch; miêu tả sứ mệnh
của ngành này; giải thích sự khác biệt giữa sản phẩm và dịch vụ; giới thiệu
những địa điểm mà thương mại giải trí và du lịch có thể diễn ra; giới thiệu các
cơ hội nghề nghiệp cho các ứng viên tốt nghiệp ngành này. Trên cơ sở đó, tác
giả làm rõ vấn đề quản lý và tổ chức sự kiện, lưu trú, thực phẩm và đồ uống,
nghề nghiệp [102].
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả S.Medlik (1995) đã đề
cập về sự cạnh tranh trong ngành hàng không, quảng bá sản phẩm và điểm đến, sự
quản lý du lịch, giới hạn cũng như thách thức đối với ngành du lịch [100].


13
Ngoài ra, còn có các công trình của các tác giả khác đề cập đến vấn đề
này như các tác giả Lelei LeLaulu (2006) [95], Mechthild Kuellmer (2007) [97],
Priya Chetty (2011) [98].
1.1.2.2. Về quản lý nhà nước về du lịch
S.Medlik (1995) đã cho rằng, trong QLNN về du lịch, các chính sách phải
dựa trên một kết hợp chặt chẽ của kinh tế, chính trị, xã hội và các đối tượng về
không gian. Những đối tượng này phải được đặt vào một khuôn khổ mang tính

Nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với hoạt động kinh doanh du lịch
trong thời kỳ hội nhập, Xu Xeng (2015) cho rằng: Công tác ban hành và thực
hiện pháp luật về du lịch cần được khắc phục từ khâu ban hành văn bản quy
phạm pháp luật nói chung; tổ chức bộ máy nhà nước về du lịch cần được kiện
toàn, ổn định nhanh chóng; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính
sách phát triển du lịch cần chú trọng đến công tác đào tạo nguồn nhân lực du
lịch; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh du
lịch cần hướng đến việc làm trong sạch môi trường du lịch và áp dụng công nghệ
thông tin (CNTT) trong hệ thống quản lý du lịch [110].
Trong công trình Tourism Economics and Policy, các tác giả tập trung
chỉ ra nhu cầu du lịch và dự báo, nguồn cung cấp du lịch và giá, đo lường tác
động và lợi ích của những thay đổi trong nhu cầu du lịch, đầu tư cơ sở hạ tầng du
lịch và thuế du lịch, hàng không, du lịch và môi trường (bao gồm cả biến đổi khí
hậu) và năng lực cạnh tranh điểm đến. Từ đó cung cấp cơ sở để hiểu được sự
liên quan của phân tích kinh tế và các giải pháp cho vấn đề du lịch trong thực tế
cuộc sống, cũng như hoạch định chính sách du lịch [94].
Theo tác giả của công trình Economic Success of Tourism, du lịch là một
trong những ngành phát triển nhanh nhất trên thế giới ngày nay. Qua khảo sát sự
thành công kinh tế du lịch ở Peru và Bồ Đào Nha, tác giả khẳng định rằng sự
phát triển du lịch tùy thuộc vào hành chính công [97].
Trong công trình The Business of Rural Tourism International
Perspectives, các tác giả làm rõ những vấn đề cơ bản: chính sách, kế hoạch, các
tác động của nghiên cứu về thương mại du lịch tại khu vực nông thôn, trong đó
phân tích vấn đề tài chính cũng như quảng bá cho du lịch tại khu vực nông thôn,


15
đồng thời nêu ra một số mô hình mẫu tại các nước như Mỹ, Canada, Trung
Quốc, Đức, Úc, Niu Dilân… và một số tác động đối với việc phát triển loại hình
du lịch tại khu vực này [101].

Du lịch đóng góp tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân; tham
gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng; làm tăng
thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vào cân bằng cán cân thanh
toán quốc tế; là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả; góp phần củng cố và phát triển
các mối quan hệ kinh tế đối ngoại; góp phần giải quyết việc làm cho người dân địa
phương [18], [38].
Khi bàn về vai trò của du lịch, tác giả Nguyễn Đình Sơn (2002) cho rằng
du lịch là hoạt động của con người mà trong quá trình đó đồng thời diễn ra cả hai
mặt: sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm du lịch, người đi du lịch là những người
tiêu dùng các sản phẩm du lịch, người kinh doanh du lịch là người cung cấp các
sản phẩm du lịch, chỉ có hoạt động diễn ra đồng thời thì mới đảm bảo được một
tour du lịch hoàn chỉnh. Để phát triển kinh tế du lịch ở vùng Bắc Bộ kết hợp với
tăng cường củng cố quốc phòng an ninh trong thời gian tới nhằm góp phần tăng
trưởng KT-XH, giải quyết việc làm và tăng thu nhập người dân, tác giả đã đề
xuất phương hướng, mục tiêu và những giải pháp cơ bản để giải quyết những tồn
tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế của kinh tế du lịch [57].
1.2.1.2. Về hoạt động kinh tế du lịch
Trong luận án Phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế: Kinh nghiệm của một số nước Đông Á và gợi ý chính sách
cho Việt Nam, tác giả Nguyễn Trùng Khánh (2012) đã đưa ra bảy bài học thành
công về chiến lược phát triển, marketing, cung cấp dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ
tầng, đảm bảo an ninh, phát triển nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường. Từ phân
tích thực trạng phát triển ngành du lịch của Việt Nam, tác giả chỉ ra những thành
tựu, hạn chế và nguyên nhân trong lĩnh vực dịch vụ lữ hành và đề xuất một số
giải pháp cơ bản, kiến nghị về chính sách phát triển dịch vụ lữ hành du lịch cho
Việt Nam trong điều kiện HNQT hiện nay [27].
Luận án Phát triển kinh doanh lưu trú du lịch tại vùng du lịch Bắc Bộ của
Việt Nam, trên cơ sở phân tích tiềm năng, thế mạnh và thực trạng phát triển bền





18
tranh điểm đến của ngành du lịch Việt Nam; chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu, cơ
hội và áp lực đối với ngành du lịch Việt Nam cũng như nguyên nhân của hạn chế
về năng lực cạnh tranh điểm đến của ngành du lịch Việt Nam. Tác giả đề xuất
bốn quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của ngành du lịch Việt
Nam, trong đó đề xuất: ngành du lịch phải được phát triển theo hướng chất
lượng, hiệu quả, bền vững [70].
Trong luận án Thị trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế
quốc tế, tác giả đã hướng nghiên cứu vào làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thị
trường du lịch trong HNQT; phân tích thực trạng của thị trường du lịch Quảng
Ninh, trong đó tác giả đã phác họa rõ nét về những thành tựu, đặc biệt là nêu rõ
những vấn đề đặt ra cần khắc phục để mở rộng thị trường du lịch Quảng Ninh
đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Tác giả đã đề xuất bốn nhóm giải
pháp nhằm phát triển thị trường du lịch trong thời gian tới, trong đó chú trọng
tăng nguồn cung hàng hóa du lịch và kích cầu về du lịch [1].
Tác giả Nguyễn Duy Mậu (2011) trong luận án Phát triển du lịch Tây
Nguyên đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đã đề xuất chín
giải pháp để phát triển du lịch Tây Nguyên trong quá trình HNQT, trong đó chú
trọng nâng cao chất lượng dịch vụ khách sạn, nhà hàng; phát triển các hình thức
liên kết các DNDL trên địa bàn khu vực Tây Nguyên [32].
Trong luận án Những giải pháp phát triển du lịch sinh thái Việt Nam
trong xu thế hội nhập, tác giả chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với phát
triển DLST trong xu thế hội nhập; phân tích những kinh nghiệm phát triển DLST
của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; đề xuất một số giải pháp
chủ yếu phát triển DLST ở Việt Nam [69].
Luận án Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ Bàng đã phân
tích các quan niệm về hệ thống đánh giá du lịch bền vững, các kinh nghiệm du
lịch bền vững và không bền vững trên thế giới và đề xuất các giải pháp phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status