A. Mở đầu
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến công tác đấu
tranh phòng chống bạo lực gia đình, Luật phòng chống bạo lực gia đình đã được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào tháng 11/2007
và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2008 đã đánh dấu một bước quan trọng trong công tác
phòng chống bạo lực gia đình. Kể từ thời điểm Luật phòng chống bạo lực gia đình
có hiệu lực đến nay, chúng ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, giảm thiểu
đáng kể tình trạng bạo lực trong gia đình, tuy nhiên, tình hình bạo lực gia đình vẫn
diễn biến khá phức tạp.
Để giải quyết triệt để vấn đề này, bên cạnh quy định trách nhiệm cụ thể của các
cá nhân, gia đình, Luật phòng chống bạo lực gia đình cũng đã quy định trách nhiệm
của xã hội trong công tác này. Thông qua việc thực hiện đề tài “Trách nhiệm của xã
hội trong phòng chống bạo lực gia đình”, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về trách
nhiệm của xã hội trong công tác phòng chống bạo lực gia đình hiện nay.
B. Nội dung
I. Khái quát chung về phòng chống bạo lực gia đình
Khái niệm gia đình và thành viên gia đình:
Có thể hiểu khái niệm gia đình giữa hai góc độ :
Thứ nhất, dưới góc độ xã hội học, gia đình được coi là tế bào của xã hội. Không
giống bất cứ nhóm xã hội nào khác, gia đình có sự đan xen các yếu tố sinh học,
kinh tế, tâm lý, văn hóa… Những mối liên hệ cơ bản của gia đình bao gồm vợ
chồng, cha mẹ và con, ông bà và cháu ( và những mối liên hệ khác như cô dì chú
bác, con dâu, con rể… ). Mối quan hệ gia đình được thể hiện ở các khía cạnh như:
lao động tạo ra của cải vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp cho xã hội,
nuôi dạy con cái, đời sống tình dục… Những mối liên hệ này có thể dựa trên những
căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên những căn cứ thực tế một cách tự nhiên, tự
phát.
1
Thứ hai, dưới góc độ pháp lý, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau
quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép sinh con
II. Thực trạng về vấn đề bạo lực gia đình diễn ra ở Việt Nam trong thời gian
qua
Theo Báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao cho biết : trong 5 năm (2000 – 2005),
tòa án các địa phương giải quyết 352.047 vụ việc về hôn nhân gia đình. Trong đó
gần 200.000 vụ ly hôn do bạo lực gia đình, hành hạ, đánh đập, ngược đãi chiếm
53,1% trong các nguyên nhân dẫn đến ly hôn.
Còn theo báo cáo của Bộ Công an, trên toàn quốc cứ 2-3 ngày lại có 1 người bị
chết có liên quan đến bạo lực gia đình 80% nạn nhân là nữ, số nạn nhân còn lại là
đàn ông. Trong năm 2005 có 14% số vụ giết người liên quan đến bạo hành gia đình
(151/1113 vụ, trong đó 39 vụ chồng giết vợ, 16 vụ vợ giết chồng). Chỉ riêng 3
tháng đầu năm 2006, tỉ lệ này là 30,5% (26/77 vụ).
Nạn nhân của bạo lực gia đình ở Việt Nam bao gồm cả nam giới lẫn nữ giới, tuy
nhiên, nạn nhân là nam giới chiếm tỉ lệ ít hơn, khó phát hiện hơn, vì vậy, việc đưa
ra các số liệu thống kê gặp rất nhiều khó khăn.
Ngoài ra, theo Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt
Nam năm 2010 thu thập thông tin chi tiết về tỷ lệ bạo lực, tần suất, những yếu tố
nguy cơ và hậu quả của bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Đây là nghiên cứu đầu tiên
trên phạm vi toàn quốc, thông qua đó có thể thấy thực trạng bạo lực gia đình diễn
ra ở Việt Nam như sau :.
Bạo lực gia đình với nạn nhân là phụ nữ và người có hành vi bạo lực gia đình chủ
yếu là người chồng
Tại Việt Nam, 99% phụ nữ từng có bạn tình đều thuộc nhóm những phụ nữ "từng
kết hôn" và chỉ có 1% cho biết có hình thức bạn tình khác (hẹn hò/sống chung như
vợ chồng). 1% này được đưa chung vào kết quả của báo cáo, để thuận tiện cho việc
sử dụng thuật ngữ "đã từng kết hôn" và "chồng" để chỉ tất cả phụ nữ có bạn tình
trong nghiên cứu.
3
trong cuộc đời tương ứng là 9% và 34%. Tỷ lệ bạo lực trong cuộc đời khác nhau
theo vùng và giữa các nhóm dân tộc và thay đổi từ 8% đến 38%.
Khi kết hợp ba loại bạo lực chính: thể xác, tình dục và tinh thần do chồng gây ra
đã có hơn nửa phụ nữ (58%) trả lời từng bị ít nhất một trong ba loại bạo lực này
trong cuộc đời. Tỷ lệ này trong 12 tháng qua là 27%.
Bạo lực đối với phụ nữ do đối tượng khác không phải là chồng gây ra ( thành viên
khác trong gia đình )
- Bạo lực thể xác đối với phụ nữ
Khoảng 10% phụ nữ cho biết đã từng bị bạo lực thể xác bởi một người khác không
phải là chồng trong gia đình, tuy nhiên có sự khác biệt khá lớn giữa các vùng với
khoảng dao động từ 3% đến 12%. Người gây bạo lực chủ yếu là các thành viên
trong gia đình (65% phụ nữ bị bạo lực là do thành viên trong gia đình gây ra).
- Lạm dụng tình dục
Khoảng gần 1% tổng số phụ nữ được hỏi cho biết bị lạm dụng tình dục bởi thành
viên khác trong gia đình
Hậu quả của bạo lực đối với phụ nữ
Trong khảo sát, 26% phụ nữ từng bị chồng gây bạo lực thể xác hoặc tình dục cho
biết đã bị thương tích do hậu quả trực tiếp từ hành vi bạo lực. Trong số này, 60%
cho biết họ bị thương tích hai lần trở lên và 17% bị thương tích 5 lần trở lên.
Tất cả phụ nữ trong khảo sát đã trả lời một số câu hỏi về sức khỏe chung, sức khỏe
tâm thần và sức khỏe sinh sản. Trong phần phân tích tình trạng sức khỏe, những
hậu quả này được so sánh giữa những phụ nữ từng bị bạo lực thể xác hoặc tình dục
với những phụ nữ chưa bao giờ bị bạo lực thể xác hoặc tình dục. Phụ nữ bị bạo lực
do chồng gây ra thường trả lời là tình trạng sức khỏe của họ là "kém" hoặc "rất
kém" nhiều hơn. Họ cũng gặp phải nhiều hơn những vấn đề về đi lại hoặc thực hiện
những hoạt động thường ngày, bị đau và mất trí nhớ, căng thẳng tinh thần và suy
nghĩ tiêu cực, sảy thai, nạo thai và thai chết lưu. Phụ nữ có con từ 6 đến 11 tuổi
5
6
thể xác và tình dục do chồng gây ra nói rằng họ có nghe về Luật Phòng, chống bạo
lực gia đình. Tuy nhiên, phỏng vấn định tính cho thấy phụ nữ không nắm được chi
tiết luật và ngay cả các cấp chính quyền địa phương cũng không nắm được Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình.
II. Trách nhiệm của xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình
Để giải quyết vấn đề về bạo lực gia đình hiện nay, pháp luật Việt Nam đã đề cập
đến trách nhiệm của cá nhân, gia đình và các cơ quan, tổ chức, đoàn thể chính trị xã hội nhằm tiến tới xóa bỏ nạn bạo lực gia đình hiện nay, tuy nhiên, trong phạm vi
đề tài này, bài viết chỉ tập trung tìm hiểu về trách nhiệm của tổ chức xã hội – một
trong những cấu thành của xã hội, được thể hiện trong các quy định của pháp luật
Việt Nam và có những tác động nhất định trong thực tiễn đời sống.
1. Trách nhiệm của xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình theo quy định của
Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2008:
Ở Việt Nam hiện nay tồn tại rất nhiều các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội có
thể kể đến như : Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Đoàn thanh niên, Hội nông
dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt
Nam… Nhìn chung, tất cả các tổ chức xã hội này đều là tổ chức thành viên của Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chính vì thế, trách nhiệm của các tổ chức xã hội
trong phòng chống bạo lực gia đình được quy định cụ thể tại Luật phòng, chống
bạo lực gia đình năm 2008 chủ yếu đề cập đến trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc
Việt nam và các tổ chức thành viên và trách nhiệm của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt
Nam ( tổ chức đại diện cho phụ nữ và trẻ em – những nạn nhân chủ yếu của bạo lực
gia đình ở Việt Nam hiện nay ). Cụ thể :
- Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên ( Điều
33 ): Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm tuyên
truyền, giáo dục, khuyến khích, động viên hội viên và nhân dân chấp hành pháp
luật về phòng, chống bạo lực gia đình, đồng thời có trách nhiệm kiến nghị những
biện pháp cần thiết đối với cơ quan nhà nước có liên quan để thực hiện pháp luật về
nhiều hình thức và nội dung, tuy nhiên, tập trung chủ yếu vào hai biện pháp cơ bản,
8
có hiệu quả trên thực tế, đó là truyền thông nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình
và tổ chức thực hiện hòa giải khi có bạo lực gia đình xảy ra
Qua số liệu khảo sát gần đây của Tổng cục dân số - kế hoạch hóa gia đình đã
cho thấy việc cá nhân, gia đình tiếp cận được các thông tin nhằm thay đổi nhận
thức, hành vi về bạo lực gia đình là do các tổ chức xã hội tuyên truyền phòng chống
bạo lực gia đình đạt đến 66,6 %. Trong đó, Hội Liên hiệp phụ nữ là tổ chức có
những hoạt động tích cực nhất trong hoạt động tuyên truyền pháp luật phòng chống
bạo lực gia đình, tiếp đến là Mặt trận Tổ quốc và Đoàn thanh niên. Đây cũng là ba
tổ chức xã hội hoạt động hiệu quả nhất trong phòng chống bạo lực gia đình. Có
65,4% số người được hỏi cho rằng, Hội Liên hiệp phụ nữ tích cực tham gia phòng
chống bạo lực gia đình, tỷ lệ này đối với Mặt trận tổ quốc là 50,5% và Đoàn thanh
niên là 43,3%. Về hiêu quả hoạt động thì có 53,6% số người được hỏi cho rằng,
Hội phụ nữ hoạt động có hiệu quả tốt, Mặt trận tổ quốc là 44,4% và Đoàn thanh
niên là 37,1%.
Bên cạnh những hoạt động tích cực trong công tác phòng chống bạo lực gia
đình, các tổ chức xã hội cũng bộc lộ những nhược điểm khác nhau. Phần lớn các
hoạt động của các tổ chức xã hội còn mang tính phong trào, như tuyên truyền, vân
động, thông tin tới các thành viên về vấn đề bạo lực gia đình, chưa xây dựng được
những biện pháp nhằm can thiệp trực tiếp khi có các vụ bạo lực gia đình nghiêm
trọng xảy ra, nội dung tư vấn còn nhiều hạn chế… ( Ví dụ như hoạt động của Hội
phụ nữ: thường chỉ can thiệp vào những trường hợp bạo lực gia đình rất nghiêm
trọng – chỉ nhằm mục đích chấm dứt ngay sự ngược đãi lúc đó mà không tư vấn
tiếp theo cho nạn nhân và người có hành vi bạo lực gia đình sau đó )
Bên cạnh công tác tuyên truyền phòng chống bạo lực gia đình, các tổ chức xã
hội còn thể hiện vai trò của mình thông qua hình thức hòa giải. Biện pháp hòa giải
trong bạo lực gia đình được xem như là một biện pháp quan trọng và có hiệu quả
- Đối với công tác tuyên truyền pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình của các
tổ chức xã hội :
10
Những người thực hiện công tác tuyên truyền, truyền thông, tư vấn về bạo lực
gia đình của các tổ chức xã hội cần được định kỳ tập huấn và cung cấp tài liệu đầy
đủ, kịp thời.
Đối với những mô hình tuyên truyền về phòng chống bạo lực gia đình có hiệu
quả cao như mô hình khu phố, thôn, xóm văn hóa cần được duy trì và phát huy
( cung cấp kinh phí kịp thời, đầy đủ nhằm hỗ trợ chương trình này ). Đưa vấn đề
bạo lực gia đình thành một tiêu chuẩn trong việc xây dựng gia đình văn hóa
Đối với những chương trình lồng ghép việc tuyên truyền pháp luật phòng chống
bạo lực gia đình, cần xây dựng những kế hoạch, chương trình cụ thể, hợp lý, có ý
nghĩa thực tiễn. Đối với những tổ chức xã hội xây dựng được những chương trình
lồng ghép việc tuyên truyền đạt hiệu quả cao, cần có các biện pháp nhân rộng, tạo
điều kiện cho các chương trình này đi vào thực tiễn
- Trong công tác hòa giải
Công tác hòa giải của các tổ chức xã hội nêu trên cần hướng tới việc bảo vệ thiết
thực quyền lợi, sức khỏe, tinh thần của nạn nhân bạo lực gia đình. Trong những
trường hợp khác nhau, cần áp dụng các phương pháp hòa giải khác nhau ( Đa dạng
hóa các phương thức hòa giải nhằm tiếp cận đối tượng, nạn nhân của bạo lực gia
đình một cách dễ dàng hơn )
C. Kết Luận
Bạo lực gia đình có nguồn gốc từ lâu đời trong xã hội Việt Nam, với nguyễn
nguyên nhân và đặc điểm đặc thù của mình, hậu quả của bạo lực gia đình là rất lớn
không chỉ đối với nạn nhân của và người thân của họ mà còn gây tốn kém trong
công tác điều tra, truy tố, xét xử, chữa trị thương tích, trợ giúp nạn nhân …. Chính
vì vậy, muốn công tác phòng chống bạo lực gia đình đạt kết quả cao, xã hội càng