Truyền thông công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình cho phụ nữ từ thực tiễn tỉnh thái bình - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

KHÚC THỊ XUÂN

TRUYỀN THÔNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH CHO PHỤ NỮ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI BÌNH

Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 8 76.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THANH BÌNH

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công
tác xã hội đề tài “Truyền thông Công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình
cho phụ nữ từ thực tiễn tỉnh Thái Bình” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp
với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./.
Tác giải luận văn

Khúc Thị Xuân



BĐG:

Bình đẳng giới

BLGĐ:

Bạo lực gia đình

CTXH:

Công tác xã hội

CTV CTXH:

Cộng tác viên Công tác xã hội

MTTQ:

Mặt trận tổ quốc

NV CTXH:

Nhân viên Công tác xã hội

LHPN:

Liên hiệp phụ nữ

LĐTBXH:


Huỳnh Sang (Bình Phước), phát biểu tại Quốc hội sáng 10/11/2016. Kết quả nhiều
cuộc khảo sát và báo cáo địa phương cho thấy, hiện nay bạo lực gia đình đã gây ra
những hậu quả cho phụ nữ và xã hội nói chung. Nạn nhân của BLGĐ rất cần sự
giúp đỡ của xã hội và cộng đồng. Hiện nay trên toàn quốc đã có nhiều mô hình can
thiệp trợ giúp phụ nữ bị BLGĐ. Như: “mô hình trợ giúp pháp lý”, “mô hình nhóm
nhỏ”, “mô hình nhà tạm lánh”... Các mô hình trên đã thực hiện nhiều dịch vụ khác

1


nhau nhằm hỗ trợ tốt nhất cho phụ nữ bị BLGĐ, được an toàn, được động viên, an
ủi, sớm được trở lại với đời sống bình thường với một nhận thức mới, vị thế mới.
Phòng chống bạo lực gia đình là trách nhiệm của mỗi người và toàn xã hội. Do
vậy, để ngăn ngừa và giảm thiểu những hậu quả của bạo lực gia đình thì các quy
định của pháp luật cần phải được nghiêm chỉnh thi hành và có cơ chế theo dõi, giám
sát việc thi hành đó và cần có sự phối hợp và linh hoạt giữa các ban ngành, đoàn thể
với các nhân viên xã hội tại địa phương để bảo đảm sự ứng phó toàn diện đối với
phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Với tư cách là một nghề chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các đối tượng yếu thế
trong xã hội vượt qua được vấn đề của mình, Công tác xã hội đóng vai trò quan
trọng trong việc trợ giúp những nạn nhân bị BLGĐ phục hồi về mặt thể chất, tâm
lý, để từng bước ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Phòng chống bạo lực gia đình là trách nhiệm của mỗi người và toàn xã hội. Do
vậy, để ngăn ngừa và giảm thiểu những hậu quả của bạo lực gia đình thì các quy
định của pháp luật cần phải được nghiêm chỉnh thi hành và có cơ chế theo dõi, giám
sát việc thi hành đó và cần có sự phối hợp và linh hoạt giữa các ban ngành, đoàn thể
với các nhân viên xã hội tại địa phương để bảo đảm sự ứng phó toàn diện đối với
phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Tại tỉnh Thái Bình chưa có những nghiên cứu chuyên sâu để hình dung một
cách tổng thể và toàn diện về tình trạng bạo lực gia đình và thực trạng xây dựng các

đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về vấn đề và chiến lược liên quan đặc biệt đến
bạo lực giới. Đó là mở rộng chương trình tuyên truyền vận động, giáo dục, cải cách
luật pháp và hành động chống bạo lực đối với phụ nữ. (tr.41, quyển bạo lực gia
đình, một sự sai lệch…)
Trong số các nghiên cứu của nước ngoài, phải kể đến đóng góp của nhà nữ
quyền Dobash với cuốn sách “Violence Against Wives” (Tạm dịch là Bạo lực
chống lại những người vợ - 1979) là một trong những công trình nghiên cứu nổi
tiếng về BLGĐ. Nghiên cứu được tiến hành ở Scotland bao gồm những cuộc phỏng
vấn sâu và phỏng vấn không chính thức 137 phụ nữ đang lánh nạn vì bạo lực của
người chồng. Trong số đó, có tới 84% các trường hợp phụ nữ bị tấn công lần đầu
tiên trong 3 năm đầu của hôn nhân. Dobash đã chỉ ra nguyên nhân chính của các vụ
bạo lực trong hôn nhân là do uy quyền của người chồng và sự phụ thuộc của người

3


phụ nữ vào đàn ông. Uy quyền của người chồng thường được khơi tỏa bởi sự ghen
tuông, tình dục, con cái, tiền nong, say rượu …. Dobash cũng chỉ ra rằng phụ nữ bị
bạo lực thường có xu hướng quay lại với người chồng bạo lực vì bị phụ thuộc về
kinh tế và lo lắng về sự thiếu vắng vai trò của người bố đối với con cái của họ.
Chính từ những lo lắng đó nên khi xảy ra bạo lực, những người phụ nữ thường
không muốn đi trình báo cảnh sát hoặc cơ quan chức năng. Do vậy, họ thường
không nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng hay các dịch vụ phúc lợi.
Năm 2005, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp với Trường Dược nhiệt đới
của Mỹ đã thực hiện một nghiên cứu đa quốc gia với chủ đề “Women’s Health
and Domestic Violence against Women” (Sức khỏe phụ nữ và BLGĐ chống lại
phụ nữ). Nghiên cứu đã tiếp cận với phụ nữ trên 10 quốc gia bao gồm Bawngladet,
Brazin, Ethiopia, Nhật, Peru, Namibia, Samoa, Serbia và Montenegro, Thái Lan và
nước Cộng hòa Tanzania cho thấy có 15% đến 71% phụ nữ phải chịu đựng một
hình thức bạo lực nào đó về thể xác và tình dục ngay trong gia đình họ và đây là vấn

những hậu quả đáng tiếc mà bạo lực gây ra, bên cạnh đó kêu gọi cộng đồng chung
tay đẩy lùi bạo lực và bất bình đẳng giới.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ, tuy nhiên các công trình
nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên thực trạng và đưa đến những giải
pháp và cũng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về truyền thông công
tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình cho phụ nữ, chưa nghiên cứu xây
dựng mô hình can thiệp cho nhóm phụ nữ chịu ảnh hưởng của bạo lực gia đình trên
góc độ của ngành công tác xã hội.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của bạo lực gia đình, trong những năm
gần đây, không chỉ trên thế giới mà tại Việt Nam, bạo lực gia đình đã trở thành một
trong những vấn đề được nhiều tổ chức cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm.
Đây là một vấn đề phức tạp mang tính toàn cầu và có thể coi là một loại vi phạm
quyền con người mang tính phổ biến nhất. Bạo lực gia đình đã vượt qua ranh giới
văn hóa, đẳng cấp xã hội, trình độ học vấn, tuổi tác; nó đã và đang tác động đến mỗi
cá nhân và toàn xã hội. Cho đến nay, các tác phẩm, bài nghiên cứu viết về hoạt
động truyền thông phòng chống bạo lực gia đình một cách chuyên sâu còn rất ít.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về bạo lực gia đình cũng được bắt
đầu từ những năm 1990 và ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn, thu hút sự chú ý

5


đặc biệt của xã hội. Các góc cạnh của vấn đề được tìm tòi, phát hiện và công bố trên
nhiều ấn phẩm thuộc các chuyên ngành và lĩnh vực khác nhau.
Từ những năm 1994, tác giả Lê Thị Quý - một trong những chuyên gia nghiên
cứu về Giới, gia đình đã có bài viết đầu tiên về “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” trên
tạp chí Khoa học và Phụ nữ, trong đó xác định 5 nguyên nhân chính của nạn bạo lực
gia đình; tuy nhiên nguyên nhân lớn nhất, sâu xa nhất chính là bất bình đẳng trong
quan hệ giới. Năm 1996, trong tác phẩm “Nỗi đau thời đại” tác giả Lê Thị Quý đã đi

nguyên nhân, hình thức của bạo lực chủ yếu do bất bình đẳng giới; và tác giả cũng
có đưa ra một số giải pháp dành cho nạn nhân bị bạo lực. Song cách thức để tuyên
truyền về phòng, chống vẫn chưa được phân tích cụ thể, sâu sắc.
Bạo lực còn được nhắc đến dưới dạng bạo lực giới như nghiên cứu của Vũ
Mạnh Lợi với cuốn “Bạo lực trên cơ sở Giới tại Việt Nam”, và Quy, Lê Thi (2004)
– Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn với bài nghiên cứu “Bạo lực trên
cơ sở Giới trong gia đình, Điển cứu tại Thái Bình, Phú Thọ và Hà Nội”. Đặc biệt
người phụ nữ được đề cập đến rất nhiều trong các văn bản chỉ đạo hoạt động và
công tác đoàn thể của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Tại tỉnh Thái Bình, năm 2001 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành thực
hiện đề tài: “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” tại ba tỉnh: Thái Bình,
Lạng Sơn và Tiền Giang. Với phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, đề
tài đã tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân và các cán bộ thi hành pháp luật
của các tổ chức đoàn thể xã hội tại địa phương. Đề tài cũng đã chỉ ra được những
nguyên nhân và hậu quả của nạn BLGĐ đối với phụ nữ và phản ứng của nạn nhân
trước những hành vi bạo lực.
Năm 2012, Vụ Gia đình thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với
Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
thực hiện “Điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp có tính đột phá
trong năm 2012 và giai đoạn 2012-2016”. Cuộc điều tra này nhằm xác định thực
trạng, nguyên nhân và đề xuất những giải pháp có tính đột phá cho công tác phòng,
chống bạo lực gia đình những năm tiếp theo.
Năm 2013, Học viên Lê Thị Vân Anh – Khoa văn hóa học, trường Đại học
văn hóa Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Hoạt động truyền thông phòng
chống bạo lực gia đình tại trung tâm phụ nữ và phát triển từ năm 2007 đến nay” với

7


mục đích nghiên cứu đề tài là tìm hiểu các lý thuyết về truyền thông trực tiếp, các



BLGĐ, cho người làm công tác xã hội và chính quyền các cấp tại tỉnh Thái Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về Công tác xã hội, truyền thông công tác
xã hội.
- Khảo sát đánh giá hoạt động truyền thông Công tác xã hội trong phòng
chống bạo lực gia đình cho phụ nữ từ thực tiễn tỉnh Thái Bình.
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông Công tác xã hội trong
phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại tỉnh Thái Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Truyền thông Công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình cho phụ nữ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về địa bàn nghiên cứu: 8 huyện, thành phố tỉnh Thái Bình.
- Về thời gian: Từ năm 2012 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận về phép duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề bạo lực gia đình và truyền thông
phòng, chống bạo lực gia đình.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Đây là phương pháp sử dụng các kỹ năng chuyên môn tìm hiểu, thu thập,
phân tích các tài liệu đã được công nhận có liên quan đến công tác xã hội đối với
phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình từ đó đánh giá vấn đề để đưa ra các định
hướng, giải pháp để nâng cao hoạt động truyền thông công tác xã hội trong phòng
chống bạo lực gia đình cho phụ nữ tỉnh Thái Bình.
5.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

6.1. Ý nghĩa lý luận
Vận dụng các lý thuyết về truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình để
nghiên cứu và lý giải một cách khoa học vấn đề phòng chống bạo lực gia đình, góp

10


phần tổng quan lý luận cơ bản truyền thông Công tác xã hội trong phòng, chống bạo
lực gia đình đối với phụ nữ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp thêm các giải pháp nhằm giúp chính quyền, các ban, ngành, đoàn
thể của tỉnh nâng cao hiệu quả truyền thông Công tác xã hội trong phòng, chống bạo
lực gia đình cho phụ nữ, góp phần ngăn chặn và giảm thiểu hậu quả của bạo lực gia
đình,bạo lực đối với phụ nữ.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
nội dung chính của luận văn được chia làm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Truyền thông công tác xã hội trong phòng
chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Chương 2: Thực trạng hoạt động truyền thông Công tác xã hội trong phòng
chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Thái Bình
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông
Công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Thái Bình

11


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC

trò của nhân viên CTXH, những dịch vụ CTXH và các hoạt động của CTXH qua
các kênh thông tin đại chúng, qua các cuộc trao đổi, tọa đàm, hội nghị ….đến người
dân trong cộng đồng.
Truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình là quá trình liên tục chia sẻ thông
tin, kiến thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng giữa người truyền thông và đối tượng
tiếp nhận nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và chuyển đổi hành vi về bạo
lực gia đình theo mục tiêu truyền thông đề ra.
1.1.3. Khái niệm bạo lực gia đình
- Khái niệm bạo lực
Bạo lực là một hiện tượng xã hội, phương thức ứng xử trong các mối quan hệ
xã hội tồn tại trong mọi xã hội từ khi hình thành xã hội loài người. Đây là mối quan
hệ khi một bên sử dụng quyền lực để trấn áp bên kia.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bạo lực được hiểu là việc đe dọa hay dùng
sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm
người, một cộng đồng người mà gây ra hay làm tăng khả năng gây ra tổn thương, tử
vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa bạo lực “là sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn
áp hoặc lật đổ” (tr.33, Từ điển Tiếng Việt (2007), NXB Lý luận CT, HN). Với giải
thích này, bạo lực thường được hiểu theo nghĩa là phương thức thực hiện một cuộc
cách mạng lật đổ chính quyền và thiên về sử dụng vật chất.
- Khái niệm bạo lực gia đình
Định nghĩa bạo lực gia đình của Liên hợp quốc về việc loại bỏ bạo lực đối
với phụ nữ ngày 20/12/1993 đã định nghĩa: “Bạo lực đối với phụ nữ là bất kỳ hành
động nào dựa trên cơ sở giới gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn
hại hoặc gay đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tình dục hay tâm lý, kể cả những lời
đe dọa hay độc đoán tước quyền tự do, dù xảy ra ở nơi công cộng hay trong đời
sống riêng tư”.

13


14


- Bạo lực tinh thần
Bạo lực tinh thần không gây hậu quả nghiêm trọng đến thể chất người bị bạo
hành, nhưng có nhiều trường hợp, người bị bạo hành phải tìm đến cái chết để giải
thoát. Bạo lực tinh thần phổ biến, âm ỉ và dai dẳng hành hạ nạn nhân. Biểu hiện của
kiểu bạo hành này là các hành vi chửi mắng, hạ nhục với lời lẽ thô thiển, nặng nề
xâm phạm đến nhân phẩm và danh dự. Thậm chí, có khi bạo lực tinh thần tồn tại
dưới một số dạng như đe dọa tinh thần, khủng bố tâm lý gây nên sự ức chế, phẫn
uất, khủng hoảng ý thức.
Ngược lại với kiểu hành hạ bằng lời là kiểu hành hạ bằng tình cảm, với các
hành vi như tỏ ra thờ ơ, lạnh nhạt, “chiến tranh lạnh”, tỏ ra vô trách nhiệm.
- Bạo lực tình dục
Bạo lực tình dục là hành vi ép buộc bằng bạo lực, gạ gẫm, đe dọa, lừa gạt
hoặc dùng kinh tế để ép buộc quan hệ tình dục với người khác trái với ý muốn của
họ. Dùng các thủ đoạn khiến nạn nhân lệ thuộc hay trong tình trạng quẫn bách phải
miễn cưỡng chấp nhận, bắt quan hệ ngay cả khi bạn đời đau ốm,mệt mỏi.
Trong các hình thức bạo lực thì bạo lực tình dục ít bị phát hiện và nạn nhân
không được bảo vệ vì ở nước ta, đây là một vấn đề tế nhị khó tìm hiểu. Trong lĩnh
vực này, nạn nhân nữ chịu ảnh hưởng nặng nề của các chuẩn mực đạo đức, các giá
trị văn hóa truyền thống chi phối. Đối với người chồng, họ có nghĩa vụ phải phục
tùng, thậm chí bị ép buộc sinh thêm con, không cho dùng các biện pháp tránh thai,
cưỡng ép quan hệ khi họ không muốn.
- Bạo lực kinh tế
Bạo lực kinh tế bao gồm các hành vi như: kiểm soát tiền bạc, bắt bạn đời lệ
thuộc về tài chính, chi tiêu, không cho giữ tiền và đi làm, phải chứng minh mọi chi
tiêu mua sắm lớn nhỏ. Ở Việt Nam, loại bạo lực này chưa có thống kê đầy đủ, tuy
nhiên thực tế cho thấy đây là hình thức phổ biến rộng rãi.
- Bạo lực xã hội

đình, khi năng lực tự chủ tài chính của người đàn ông trong gia đình bị hạn chế sẽ
hình thành ở họ tư tưởng tự ti, hẹp hòi, dễ nổi nóng dẫn đến các mâu thuẫn, xung
đột trong gia đình. Hoặc trong hoàn cảnh, nữ giới bị hạn chế về cơ hội tiếp cận việc
làm, phải phụ thuộc vào nam giới về mặt tài chính thì những khó khăn về kinh tế sẽ
tạo ra các áp lực, căng thẳng, bế tắc đối với các thành viên trong gia đình, từ đó dẫn

16


tới các mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột; nếu không biết cách xử lý phù hợp có thể
gây nên bạo lực gia đình.
Ba là, trình độ học vấn, năng lực nghề nghiệp, sự chênh lệch nghề nghiệp
giữa vợ và chồng là một trong những yếu tố khách quan dẫn đến tình trạng BLGĐ.
Bốn là, sự khủng hoảng của các mối quan hệ gia đình. Thực tế đã khẳng
định, ngoài những yếu tố khách quan từ bên ngoài, bạo lực gia đình còn xảy ra do
chính những nguyên nhân trong nội bộ gia đình. Gia đình không hạnh phúc, không
có tình yêu thương, sẻ chia là điều kiện tốt nhất làm cho các loại bạo lực có thể phát
triển. Do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội, gia đình Việt Nam đang
có những dấu hiệu của sự khủng hoảng; nhiều giá trị truyền thống về gia đình đã có
sự thay đổi. Các mối quan hệ giữa những người ruột thịt trong nhiều gia đình không
còn bền chặt như trước.
Năm là, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực
gia đình còn hạn chế. Trình độ nhận thức và sự hiểu biết về pháp luật trong một bộ
phận người dân còn thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình
vẫn còn tiếp tục xảy ra.
Sáu là, tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm cũng là
những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới bạo lực gia đình.
+ Hậu quả của bạo lực gia đình
Thứ nhất, bạo lực gia đình dù ở hình thức nào cũng gây tổn thương đến sức
khỏe và tinh thần đối với nạn nhân, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con

Bạo lực đối với phụ nữ gây tổn hại cho phụ nữ về mặt thể chất, tình dục, tâm lý
hay kinh tế, bao gồm cả đe dọa thực hiện những hành động đó, ép buộc hay cố tình
tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do xảy ra ở nơi công cộng hay đời sống riêng tư.
Không phải tất cả các trường hợp bạo lực đối với phụ nữ đều là bạo lực trên cơ sở
giới nhưng trong bối cảnh bất bình đẳng giới còn phổ biến ở Việt Nam, hầu hết các
trường hợp bạo lực đối với phụ nữ do chồng hay bạn tình lâu dài gây ra bạo lực trên cơ
sở giới.
Bạo lực đối với phụ nữ vi phạm nghiêm trọng những quyền con người cơ
bản nhất và là một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của bất bình đẳng giới. Đây
là nguyên nhân gây suy giảm sức khỏe cho phụ nữ ở độ tuổi sinh sản thạm chí gây
tử vong (Tham khảo Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh

18


sản, trang 460, Bộ Y tế 2016 ban hành theo Quyết định số 4128/QĐ-BYT ngày
9/7/2016). Bạo lực trên cơ sở giới được quy định là một trong những hành vi bị cấm
trong điều 10 Luật Bình đẳng giới năm 2016. Theo Luật Phòng chống bạo lực gia
đình năm 2007, bạo lực đối với phụ nữ do chồng hoặc các thành viên khác trong gia
đình gây ra là hành vi vi phạm pháp luật.
1.1.5. Khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc thực hiện cac biện pháp
nhằm ngăn chặn và đẩy lùi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình, giúp cho người phụ nữ
tránh được bạo lực gia đình, bảo đảm các quyền con người và có cuộc sống hạnh phúc.
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một công việc rất khó khăn và
lâu dài. Để bảo vệ người phụ nữ, bảo vệ quyền và vị trí của người phụ nữ cần thiết
phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
chỉ đạt được hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật, phù hợp với pháp
luật, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được hiểu là phòng ngừa những

gặp rất nhiều khó khăn.
Đa số phụ nữ là nạn nhân của BLGĐ bị tổ thương tâm lý nặng nề, tâm trạng
thường thấy thua thiệt so với bạn bè, anh chị em trong gia đình, nếu làm họ bị tổn
thương thì họ cảm thấy bị xúc phạm và rất dễ bất mãn. Một số khác có tâm lý cho
rằng người khác không hiểu hoàn cảnh của mình nên chán nản, bất mãn từ đó họ
cảm thấy khó hòa nhập với gia đình, cộng đồng, không có ý chí phấn đấu vươn lên.
Tuy nhiên, có những nạn nhân nỗ lực tìm kiếm cho mình giải pháp phù hợp để
đấu tranh với người gây bạo hành, có người đã dần dần cảm hóa được người gây ra
bạo lực, vì vậy cuộc sống của họ trở lên hạnh phúc; Có nạn nhân tìm kiếm sự hỗ trợ
của người thân, bạn bè và các dịch vụ trợ giúp xã hội để thoát khỏi hoàn cảnh bạo
lực; trong số những nạn nhân này có thể trở thành người hỗ trợ đắc lực cho chính
quyền địa phương trong công tác tư vấn, giải quyết, trợ giúp các ca bị bạo lực từ trải
nghiệm của chính mình.
Phụ nữ bị BLGĐ thường có cảm giác lo lắng, xấu hổ, nhục nhã, ít nói, phủ
nhận việc mình bị BLGĐ và không muốn kết nối, chia sẻ với những người khác

20


trong gia đình; đồng thời họ không làm gì để ngăn chặn bạo lực xảy ra và tự đổ lỗi
cho bản thân về việc
1.2.2. Nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Là con người trong xã hội, mỗi người đều có những nhu cầu về vật chất và
nhu cầu về tinh thần. Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và
luôn phát triển, biến đổi cùng với sự phát triển của con người. Nhu cầu con người
phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tuỳ theo hoàn cảnh sống, yếu tố
văn hoá, nhận thức và vị trí xã hội của họ. Để tồn tại con người cần phải được đáp
ứng các nhu cầu thiết yếu cơ bản cần cho sự sống, như: ăn, mặc, nhà ở, và chăm sóc
y tế,…; để phát triển con người cần được đáp ứng các nhu cầu cao hơn như: nhu cầu
được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định. Xét


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status