Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ SÂM

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ
EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. BÙI THỊ XUÂN MAI

HÀ NỘI, 2017


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
Chương 1. LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM
KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG ..................................................................................... 7
1.1. Một số lý luận về trẻ em khuyết tật vận động ......................................................7
1.2. Một số lý luận về công tác xă hội cá nhân đối với TEKTVĐ ..............................9
1.3. Cơ sở pháp lý về công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật vận động ...............19
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM
KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TỈNH THANH HÓA. ....................................... 22
2.1. Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa .............................22
2.2. Thực trạng người khuyết tật và trẻ khuyết tật vận động trên địa bàn tỉnh Thanh

CTXHCN

Công tác xã hội cá nhân

3

DVCTXH

Dịch vụ Công tác xã hội

4

KTVĐ

Khuyết tật vận động

5

LĐTBXH

Lao động, Thương binh và Xã hội

6

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội

7


QLTH

Quản lí trường hợp


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kế thừa truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “Thương người
như thể thương thân”, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến những NKT trong xã
hội, nhất là đối với trẻ em khuyết tật. Trong điều kiện đất nước gặp nhiều khó khăn,
kinh tế còn chậm phát triển, chúng ta đã từng bước xây dựng, thực hiện chính sách
và biện pháp nhằm giúp đỡ NKT nhất là giúp đỡ TEKT về vật chất và tinh thần,
vượt qua khó khăn riêng để hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng. Minh chứng là Việt
Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước Liên hiệp quốc về quyền
trẻ em, luôn đề cao các nguyên tắc cơ bản của công ước, không phân biệt đối xử và
luôn nổ lực để hướng tới bảo đảm để TEKT hưởng một cách trọn vẹn, đầy đủ và
bình đẳng các quyền của mình. Hệ thống luật pháp, chính sách đối với NKT ngày
càng được hoàn thiện. Ngày 17/6/2010, Quốc hội đã thông qua Luật Người khuyết
tật và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011[23]. Luật trẻ em số 102/2016/QH13
ngày 05/4/2016 [24]; Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17/10/2012 về phê duyệt
Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020 [29]; Nghị định
136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 về quy định chính sách trợ giúp xã hội với đối
tượng bảo trợ xã hội [41]…Các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc tại địa
phương và đơn vị thường xuyên quan tâm, tạo thuận lợi để phát huy năng lực và hỗ
trợ trẻ em khuyết tật, trẻ mồ côi cùng với sự chung tay góp sức của toàn xã hội, sự
sẻ chia, giúp đỡ của bè bạn quốc tế.
Tuy nhiên, là một đất nước còn nghèo, trải qua nhiều năm chiến tranh, thiên
tai, dịch bệnh… NKT nói chung và NKTVĐ nói riêng, trong đó có TEKTVĐ ở
nước ta chiếm số lượng lớn. Theo báo cáo của Bộ Lao động – TBXH về thực trạng
người khuyết tật tại Việt Nam tính đến tháng 6/2015 cho thấy, trong 7 triệu NKT,

của TEKTVĐ; chính sách, hoạt động trợ giúp CTXH cá nhân với TEKTVĐ để từ
đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hoạt động CTXH đối với TEKTVĐ nhằm
giúp cho đời sống của các em ngày một tốt hơn, phù hợp với quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước. Đó là lý do để tôi chọn đề tài: “Công tác xã hội cá
nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” để nghiên
cứu làm luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục tiêu đề ra trong luận văn là nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về
CTXHCN với TEKTVĐ ở khía cạnh CTXH, đề tài được kế thừa có chọn lọc các

2


kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học khác nhau và tiếp tục nghiên cứu
sâu về các vấn đề lý luận và thực tiễn CTXHCN với TEKTVĐ trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa. Hiện nay, tại Việt Nam và nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên
cứu, nhiều ấn phẩm được đề cập trên các báo, luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận
tốt nghiệp đề cập đến vấn đề về TEKT:
Tác giả Đặng Thị Thu Trang (2016) nghiên cứu về: “Quyền trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay” đề tài làm rõ những quy định về quyền trẻ em
có HCĐBKK và thực tiễn pháp luật ghi nhận, bảo đảm thực hiện các quyền trẻ em
có HCĐBKK ở Việt Nam [45]
Đỗ Thị Liên (2014) với nghiên cứu về “Công tác xã hội đối với Người
khuyết tật từ thực tiễn Thành phố Thanh Hóa”, tác giả đã đánh giá thực trạng hỗ trợ
NKT tại Thành phố Thanh Hóa và đưa những khuyến nghị DVCTXH phù hợp để
thực hiện quá trình trợ giúp cho NKT [10]
Nguyễn Thị Kim Hoa (2009) trong hội thảo khoa học Quốc tế về “Phát triển
CTXH tại Việt Nam” đã đưa ra những nhu cầu can thiệp dưới góc độ CTXH đối với
nhóm đối tượng yếu thế. Đồng thời tác giả đánh giá thực trạng năng lực của đội ngũ
cán bộ làm CTXH tại Việt Nam đang còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng và

3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về CTXH, CTXHCN, NKT, TEKT và
TEKTVĐ đồng thời đánh giá thực trạng CTXHCN với TEKTVĐ trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao
CTXHCN đối với TEKTVĐ nói chung và TEKTVĐ tại tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về CTXHCN, TEKTVĐ, CTXHCN đối với
TEKTVĐ.
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến CTXHCN đối
với TEKTVĐ từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa.
- Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTXHCN đối với
TEKTVĐ trên cả nước nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
CTXHCN với TEKTVĐ từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa.

4


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn
CTXHCN với TEKTVĐ và gia đình trẻ.
Phạm vi về khách thể: nghiên cứu trên 50 TEKTVĐ từ 6 tuổi đến 16 tuổi; 50
gia đình trẻ và 30 cán bộ làm việc với TEKTVĐ.
Phạm vi về địa bàn: TEKTVĐ tại huyện Hoằng Hóa và Trung tâm cung cấp
DVCTXH tỉnh Thanh Hóa.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Nghiên cứu lý luận từ thực tiễn và đánh giá thực
tiễn để làm sáng tổ thêm về lý luận. Nghiên cứu đối tượng là TEKTVĐ, gia đình trẻ
và môi trường của trẻ; Nghiên cứu các hoạt động CTXHCN; các yếu tố ảnh hưởng

số liệu tại chương 2 của luận văn
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên ở tỉnh nghiên cứu có hệ thống hoạt động
công tác xã hội đối với TEKTVĐ và có những đóng góp mới sau đây:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và những đặc điểm của hoạt động CTXHCN đối
với TEKTVĐ.
- Đánh giá có hệ thống và khái quát thực trạng hoạt động CTXHCN đối với
TEKTVĐ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản góp phần hoàn thiện
CTXHCN đối với TEKTVĐ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung nhận thức lý luận về
thực hiện pháp luật và đề xuất những giải pháp phù hợp trong quá trình hoạch định
chính sách, triển khai chính sách, làm tài liệu tham khảo tham khảo cho các nghiên
cứu sau này về lĩnh vực TEKT, TEKTVĐ và chính sách chăm sóc sức khỏe cho
TEKT, TEKTVĐ ở Việt Nam nói chung, tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung
của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về CTXHCN đối với TEKTVĐ.
Chương 2: Thực trạng CTXHCN đối với TEKTVĐ địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả CTXHCN đối với TEKTVĐ.

6


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG

suy giảm ch c năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt,
h c tập gặp khó khăn”[23].
1.1.1.3. Khái niệm trẻ khuyết tật
Là những đứa trẻ bị tổn thương về cơ thể hoặc rối loạn các chức năng nhất
định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động học tập, vui chơi và lao
động. TKT có thể tham gia các hoạt động như mọi thành viên khác trong cộng
đồng.
Theo Luật người khuyết tật, người ta chia thành 6 dạng tật: Trẻ em khuyết tật
vận động; Trẻ em khuyết tật nghe, nói; Trẻ em khuyết tật nhìn; Trẻ em khuyết tật
thần kinh, tâm thần; Trẻ em khuyết tật trí tuệ; Trẻ em khuyết tật khác.
1.1.1.4. Khái niệm trẻ em khuyết tật vận động
Là những trẻ có sự tổn thất các chức năng làm cản trở đến việc di chuyển,
vận động của trẻ từ đó làm ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập của trẻ
Trẻ khuyết tật vận động có thể phân ra làm hai dạng dưới góc độ khác nhau:
- Những trẻ bị hội chứng não thường là trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong học
tập, sinh hoạt.
- Những trẻ do chấn thương nhẹ hay do bệnh bại liệt nhưng não bộ của trẻ
vẫn bình thường là trẻ gặp khó khăn trong di chuyển, vận động nhưng vẫn có khả
năng học tập tốt.
1.1.2. Đặc điểm nhu cầu của trẻ em khuyết tật vận động
Đối với TEKTVĐ do sự thiếu hụt về thể chất dẫn đến khả năng vận động bị
giảm sút nên trẻ gặp nhiều trở ngại trong sinh hoạt, lao động, học tập... khó khăn
trong giao tiếp với môi trường xung quanh. Bản thân trẻ thì dễ bị kích động do bị
phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng, tâm lí mặc cảm tự ti luôn cho rằng số phận mình
không được may mắn, là gánh nặng cho người thân, gia đình. Do đó họ thường sống
khép kín, ngại giao tiếp với mọi người. Trong quá trình tương tác với người khác
trong gia đình, cộng đồng họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng và hay tự ái. Nếu
sống trong những gia đình khó khăn trẻ có thể bị bỏ rơi.
Xuất phát từ đặc điểm tâm lý đó mà mọi trẻ em sinh ra và lớn lên trong xã
hội loài người đều có những nhu cầu cơ bản về cơ thể, sự an toàn (Bậc thang nhu

Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã
hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và
giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của h ngày càng thoải mái và

9


dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH
can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của h
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010): CTXH được xem là một nghề, một
hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng
cao năng lực đáp ng nhu cầu và tăng cường ch c năng xã hội, đồng thời thúc đẩy
môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình
và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an
sinh xã hội [tr.4;11]
CTXH được xem là một nghề bởi vì nó có nhiệm vụ, chức năng được xã hội
giao phó. CTXH là công cụ để triển khai các chính sách, chương trình và các dịch
vụ CTXH và CTXH là một khoa học…
Mục đích của CTXH là hướng đến nâng cao năng lực cho các nhóm đối
tượng như cá nhân, gia đình và cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn, đồng thời cải
thiện môi trường xã hội để hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện các chức
năng, vai trò của họ có hiệu quả từ đó giúp họ giải quyết các vấn đề ngăn ngừa họ
không rơi vào hoàn cảnh khó khăn.
Công tác xã hội có 4 chức năng: chức năng chữa trị, chức năng phòng ngừa,
chức năng phục hồi và chức năng phát triển.
CTXH với các phương pháp như CTXH cá nhân; Phương pháp CTXH
nhóm; Phát triển cộng đồng; Quản trị công tác xã hội; Nghiên cứu trong công tác xã
hội. Như vậy CTXH cá nhân là một trong phương pháp thực hành của CTXH.
1.2.2. Một số lý luận về công tác xã hội cá nhân
CTXHCN trước hết được khẳng định như là một phương pháp chuyên

- CTXHCN được diễn ra theo một tiến trình các bước bao gồm: Tiếp cận và
xác định vấn đề ban đầu; Thu thập thông tin; chuẩn đoán; lập kế hoạch trị liệu và
thực hiện và giám sát việc thực hiện kế hoạch.
1.2.3. Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khuyết tật vận động
1.2.3.1. Khái quát về công tác xã hội cá nhân với trẻ em khuyết tật vận động
Trên cơ sở lý luận về CTXHCN được đề cập ở trên, xin đưa ra khái niệm về
CTXHCN với TEKTVĐ như sau:
CTXHCN với TEKTVĐ là hoạt động trợ giúp mà ở đó nhân viên công tác xã
hội áp dụng hệ thống giá trị đạo đức nghề CTXH, các kiến thức, kỹ năng của
CTXHCN vào trợ giúp TEKTVĐ và gia đình trẻ giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu
của TEKTVĐ đồng thời thúc đẩy chính sách trợ giúp TEKTVĐ.

11


Mục đích của CTXHCN với TEKTVĐ: Là nhằm hỗ trợ bản thân TEKTVĐ
được chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, hòa nhập cộng đồng, được tiếp cận với các
dịch vụ CTXH nhằm phát triển và hoàn thiện về nhân cách và thể lực cho trẻ.
Các hoạt động của CTXHCN với TEKTVĐ: trong rất nhiều các hoạt động trợ
giúp cho TEKTVĐ, tác giả luận văn chỉ tập trung vào các hoạt động cơ bản trong
trợ giúp cho TEKTVĐ như:
+ Hoạt động tham vấn trợ giúp TKTVĐ và gia đình trẻ
+ Hoạt động Quản lí trường hợp với những ca TKTVĐ
+ Hoạt động biện hộ nhằm trợ giúp, bảo vệ quyền lợi cho trẻ và gia đình trẻ
+ Hoạt động hỗ trợ trẻ và gia đình tiếp cận các chính sách và tiếp cận nguồn lực.
Các nguyên tắc công tắc xã hội cá nhân khi làm việc với TEKTVĐ
+ Tôn tr ng TEKTVĐ: TEKTVĐ thường rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương
trước hành vi, thái độ của người khác. Chính vì thế NVCTXH cần phải chia sẻ, thấu
hiểu nỗi đau khổ của TEKTVĐ, quan tâm đến nhu cầu, tâm tư , tôn trọng ý kiến của
các trẻ, không phán xét, không xem thường trẻ giúp TEKTVĐ tự tin, thấy rõ giá trị

lập mối quan hệ tương tác tích cực với trẻ nhằm giúp đỡ trẻ nhận thức được bản
thân, vấn đề và nguồn lực, qua đó xác định giải pháp để giải quyết vấn đề một cách
có hiệu quả
Mục đích tham vấn cho trẻ em và gia đình trẻ KTVĐ: Giúp trẻ đối phó với
những cảm xúc tiêu cực mà trẻ đang phải đối mặt trong tình huống có vấn đề. Giúp
trẻ thay đổi cảm xúc, hành vi, suy nghĩ tiêu cực; Giúp trẻ tạo sự cân bằng giữa tình
cảm, lý trí và tư duy; Giúp trẻ có nhận thức tích cực về bản thân, nhận thức về hoàn
cảnh và môi trường xung quanh; Giúp trẻ có khả năng đưa ra Quyết định hợp lý và
thực hiện các Quyết định đó; Giúp trẻ tăng cường khả năng thích nghi và phát triển
nhân cách tích cực.
Các hình th c tham vấn: Tham vấn cá nhân bản thân TEKTVĐ: Hình thức
tham vấn này diễn ra trong mối quan hệ tương tác 1-1 giữa nhân viên công tác xã
hội với trẻ và Tham vấn gia đình của trẻ em KTVĐ: diễn ra qua các buổi làm việc
giữa các thành viên trong gia đình của trẻ với sự điều phối của nhân viên công tác
xã hội, các thành viên trong gia đình trẻ và cá nhân trẻ cùng thảo luận tìm kiếm
những giải pháp để giải quyết những vấn đề liên quan tới trẻ.

13


Các nguyên tắc cơ bản trong tham vấn với trẻ và gia đình trẻ KTVĐ: Nguyên
tắc chấp nhận và tôn trọng trẻ; nguyên tắc không phán xét trẻ; nguyên tắc giành
quyền tự quyết cho trẻ; nguyên tắc đảm bảo bí mật những thông tin liên quan tới trẻ.
Quy trình tham vấn với trẻ và gia đình trẻ KTVĐ:
Giai đoạn 1: Tạo mối quan hệ và xây dựng lòng tin đối với trẻ
Giai đoạn 2: Thu thập thông tin xác nhận vấn đề
Giai đoạn 3: Lựa chọn giải pháp tối ưu; Xác định mục tiêu, xây dựng kế
hoạch hành động.
Giai đoạn 4: Tổ chức thực hiện các giải pháp đưa ra để đi đến mục tiêu
Giai đoạn 5: Kết thúc và lượng giá

Quy trình quản lý trường hợp: Giai đoạn 1: Tiếp nhận và đánh giá; Giai đoạn
2: Xây dựng kế hoạch can thiệp; Giai đoạn 3: Triển khai kế hoạch can thiệp; Giai
đoạn 4: Giám sát và rà soát và Giai đoạn 5: Lượng giá và kết thúc.
- Hoạt động biện hộ cho TEKTVĐ và gia đình trẻ
Khái niệm: Là hoạt động thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, đặc biệt đối
với những người yếu thế nhằm thúc đẩy công bằng xã hội cho tất cả mọi người.
Mục đích của hoạt động biện hộ cho TEKTVĐ và gia đình trẻ: Đại diện bảo
vệ quyền lợi cho TEKTVĐ và gia đình trẻ.
Các hình th c biện hộ: Biện hộ cá nhân và biện hộ nhóm; Tự biện hộ và
Biện hộ đồng cảnh.
- Hoạt động tiếp cận nguồn lực cho trẻ và gia đình trẻ
Khái niệm: Là hoạt động trợ giúp cho TEKTVĐ và gia đình trẻ được tiếp cận
với các chính sách hỗ trợ của nhà nước đồng thời kết nối với các nguồn lực để giúp
cho trẻ và gia đình trẻ có cơ hội được tham gia học nghề, hỗ trợ việc làm, phục hồi
chức năng, giáo dục hòa nhập, chế độ bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khỏe, trợ giúp
pháp lý.
Mục đích hoạt động tiếp cận nguồn lực
Trợ giúp TEKTVĐ làm các thủ tục để được hưởng các chính sách bảo trợ xã
hội đối với TEKTVĐ.
Theo dõi, kiểm soát các chính sách, chương trình thông qua hoạt động biện
hộ, hoạt động xã hội để tăng năng lực cho TEKTVĐ và thúc đẩy công bằng, bình
đẳng.

15


Cùng với các cơ quan, ban ngành có liên quan cùng nhau giải quyết những
bất cập trong chính sách đối vớiTEKTVĐ. Để từ đó bổ sung và tham mưu để đưa ra
những chính sách phù hợp hơn.
Hoạt động hỗ trợ tiếp cận chính sách, pháp luật đối với TEKTVĐ phải đảm

nên nhiều người trong xã hội luôn có thái độ kinh thường và thiếu tôn trọng trẻ, xa
lánh, từ chối, ngược đãi, có thành kiến và hạn chế rất nhiều quyền của TEKTVĐ.
Sự định kiến của xã hội ảnh hưởng rất lớn đến cơ hội sống, cơ hội vui chơi,
cơ hội học tập, cơ hội hòa nhập cộng đồng, cơ hội chăm sóc sức khỏe... của
TEKTVĐ.
1.2.4.3. Yếu tố bản thân trẻ em khuyết tật vận động và gia đình trẻ
TEKTVĐ thường mặc cảm, tự tin về bản thân, dễ bị tổn thương khi người
khác có hành vi và thái độ không tôn trọng. Đối với TEKTVĐ từ 6-16 tuổi thì bên
cạnh yếu tố đặc điểm tâm lí đó TEKTVĐ thì giai đoạn này TEKTVĐ có nhiều thay
đổi về tâm sinh lí, nhận thức. Nếu TEKTVĐ không đi học thì luôn có tâm trạng
buồn chán, ngại giao tiếp với mọi người xung quanh. Nếu trẻ đang đi học thì trẻ gặp
khó khăn trong hòa nhập với bạn bè, thầy cô, dễ có tâm trạng chán nản khi bạn bè,
thầy cô đối xử không công bằng nhiều TEKTVĐ rơi vào trạng thái rụt rè, sợ sệt,
bẽn lẽn, nhiều trẻ thu mình lại, cảm thấy cô độc.
Bên cạnh đó nhiều gia đình có TEKTVĐ thường mặc cảm, xấu hổ với cộng
đồng vì đã sinh ra đứa con tật nguyền nên không cho trẻ ra ngoài tiếp xúc với bạn
bè, hàng xóm. Hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ở vùng xâu vùng xa cũng là một trong
những yếu tố dẫn đến việc gia đình có TEKTVĐ không chăm sóc chu đáo, nhiều
gia đình còn bỏ mặc trẻ. Chính sự mặc cảm về bản thân, gia đình TEKTVĐ đã làm
ảnh hưởng rất lớn đến sự hòa nhập cộng đồng của TEKTVĐ, các trẻ không đánh giá
được bản thân mình có khả năng làm được gì có ích cho mình, gia đình và xã hội.
Các gia đình trẻ đánh mất cơ hội giao tiếp, hòa nhập cộng đồng của con. Bên cạnh
đó không nhận được sự trợ giúp của NVCTXH, cộng đồng trong việc hỗ trợ
TEKTVĐ tiếp cận với các dịch vụ CTXH như Chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức
năng, tham vấn, kết nối nguồn lực…
1.2.4.4. Yếu tố cơ chế chính sách
Công việc hỗ trợ chăm sóc TEKTVĐ và gia đình trẻ gặp phải nhiều khó
khăn về mọi mặt. Những chính sách, chế độ cũng có tác động như yếu tố thúc đẩy
hay rào cản cho quá trình này tùy thuộc vào tính phù hợp của các chính sách, chế
độ, điều kiện cho hoạt động chăm sóc, trợ giúp trẻ em khuyết tật nói chung và

nhà chuyên môn sẽ đem lại kết quả can thiệp hiệu quả hay không hiệu quả đối với
hoạt động can thiệp CTXHCN đối với TEKTVĐ.

18


1.3. Cơ sở pháp lý về công tác xă hội đối với trẻ em khuyết tật vận động
1.3.1. Những văn bản Quốc tế liên quan đến người khuyết tật và trẻ em
khuyết tật vận động bao gồm:
Một số các luật pháp quốc tế cũng như những văn bản quốc tế có vai trò trong
thúc đẩy luật pháp, chính sách, chương trình dịch vụ quốc gia liên quan tới NKT
trong đó có TEKTVĐ như Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật ngày 09 tháng 12
năm 1975 (The Declaration on the Rights of Disabled Persons) [47]; Chương trình
hành động thế giới về NKT 1982 (The World programme of Action for Disabled
Persons) [1]; Quy tắc tiêu chuẩn của Liên hợp quốc về bình đẳng hoá cơ hội cho
NKT ngày 26 tháng 12 năm 1993 (The United Nations Standard Rules on the
Equalization of Opportunities for Persons with disabilities) [21]; Tuyên bố
Salamanca và Cương lĩnh hành động về giáo dục nhu cầu đặc biệt 1994 (The
Salamanca Statement and Framwork for Action on Special Needs Education) [48];
Công ước quốc tế về quyền trẻ em – 2007 [7]; Công ước Quốc tế về quyền của
NKT ngày 13 tháng 12 năm 2006 [2]
Liên hợp quốc đã cụ thể hoá các văn bản này bằng những hành động cụ thể
như phát động năm quốc tế về NKT (1982). Sau khi phát động thì đã có 141 quốc
gia và vùng lãnh thổ thành lập Ủy ban quốc gia về NKT, lấy ngày 03 tháng 12 hàng
năm là Ngày Quốc tế NKT [1]
Về khía cạnh nghề CTXH, trên thế giới cũng rất chú ý phát triển nghề nghiệp
này ở nhiều quốc gia nhằm đem lại tính nhân văn, công bằng và bình đẳng xã hội
trong quá trình thực thi các luật pháp chính sách xã hội tại mỗi quốc gia.
1.3.2. Luật pháp, chính sách, dịch vụ liên quan tới trợ giúp người khuyết
tật nói chung và công tác xã hội cá nhân cho người khuyết tật ở Việt Nam

Ngày 05/4/2016, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XIII, kỳ họp thứ 11 đã chính thức thông qua Luật Trẻ em (có hiệu lực từ ngày
01/6/2016). Nhiều quan điểm mới được đề cập trong Luật trẻ em (2016) mà từ trước
tới nay chưa được đề cập đến [24]
Như vậy, về cơ sở pháp lý của CTXHCN với TEKTVĐ hiện nay đã được thể
hiện thông qua Luật Trẻ em, hệ thống các văn bản quy định trợ giúp cho TEKTVĐ
ở nhiều lĩnh vực, hoạt động khác nhau và trách nhiệm phối hợp của hệ thống dịch
vụ bảo vệ trẻ em. Về lĩnh vực CTXH thì ngoài các Nghị định, thông tư đã được ban
hành, Bộ LĐ-TBXH đang tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy trình để trình Ủy

20


ban thường vụ Quốc Hội, Quốc hội về Luật công tác xã hội. Hi vọng trong thời gian
tới Luật NCTXH được Quốc Hội ban hành sẽ là khung pháp lí quan trọng để trợ
giúp cho các đối tượng yếu thế trong xã hội nói chung và TEKTVĐ nói riêng vươn
lên hòa nhập với cộng đồng.
Tiểu kết Chương 1
Trong chương 1 Luận văn đã đề cập tới một số lý luận về hoạt động công tác
xã hội cá nhân đối với trẻ em KTVĐ đề tài cũng đã khái quát được các khái niệm
TE, NKT, TEKT, TEKTVD, CTXH, Đặc điểm CTXH, Phương pháp CTXH, chức
năng CTXH, CTXH cá nhân với trẻ KTVĐ, các hoạt động CTXH cá nhân với trẻ
KTVĐ để từ đó có thể hiểu CTXH cá nhân với trẻ KTVĐ là một hoạt động chuyên
nghiệp của công tác xã hội như hoạt động tham vấn tư vấn, hoạt động quản lí ca,
hoạt động phục hồi chức năng, hoạt động biện hộ, hoạt động tiếp cận các nguồn lực
và cơ chế chính sách nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản và quyền của các em để
góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Tác giả cũng đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng tới
CTXHCN với TEKTVĐ như trình độ của người thực thi, yếu tố chính sách hay yếu
tố bản thân trẻ và gia đình trẻ…


139.980 NKT trong đó NKT vận động là 51.108 người; nghe nói 12.802 người;
Khuyết tật nhìn 20.624 người, khuyết tật thần kinh, tâm thần 27.891 người, khuyết
tật trí tuệ 10.783 người và khuyết tật khác 16.772 người. Trong đó 21.871 NKT đặc
biệt nặng; 77.725 NKT nặng và 40.384 NKT nhẹ; NKT trong độ tuổi lao động là
63.342 người và NKT cao tuổi (trên 60 tuổi) là 76.638 NKT.

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status