Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn tỉnh thanh hóa - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ SÂM

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ
EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. BÙI THỊ XUÂN MAI

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ
thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề
tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.

Tác giả luận văn

Lê Thị Sâm



STT

Nội dung

1

CTXH

Công tác xã hội

2

CTXHCN

Công tác xã hội cá nhân

3

DVCTXH

Dịch vụ Công tác xã hội

4

KTVĐ

Khuyết tật vận động

5


TEKT

Trẻ em khuyết tật

11

TEKTVĐ

Trẻ em khuyết tật vận động

12

QLTH

Quản lí trường hợp


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kế thừa truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “Thương người
như thể thương thân”, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến những NKT trong xã
hội, nhất là đối với trẻ em khuyết tật. Trong điều kiện đất nước gặp nhiều khó khăn,
kinh tế còn chậm phát triển, chúng ta đã từng bước xây dựng, thực hiện chính sách
và biện pháp nhằm giúp đỡ NKT nhất là giúp đỡ TEKT về vật chất và tinh thần,
vượt qua khó khăn riêng để hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng. Minh chứng là Việt
Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước Liên hiệp quốc về quyền
trẻ em, luôn đề cao các nguyên tắc cơ bản của công ước, không phân biệt đối xử và
luôn nổ lực để hướng tới bảo đảm để TEKT hưởng một cách trọn vẹn, đầy đủ và
bình đẳng các quyền của mình. Hệ thống luật pháp, chính sách đối với NKT ngày

mà còn là tổng hợp những trở ngại về mặt xã hội, văn hóa, quan điểm và cả về vật
chất mà TEKT phải đối mặt trong đời sống hàng ngày.
Bên cạnh đó, hiện nay Nghề CTXH đang phát triển mạnh và sâu rộng tại
nước ta mà cụ thể là ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 32/2010/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án "phát triển nghề Công tác xã hội" giai
đoạn 2010-2020” [44] với mục tiêu của Đề án là nâng cao nhận thức của xã hội về
NCTXH; phát triển CTXH trở thành một nghề; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức,
nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn
với hình thành và phát triển hệ thống cơ sở cung cấp DVCTXH tại địa phương, góp
phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. Điều đó khẳng định một chính sách
đúng đắn, hiệu quả của nhà nước ta trong việc đảm bảo an sinh xã hội, song công
tác triển khai các hoạt động CTXH cho các đối tượng yếu thế tại tỉnh Thanh Hóa
đang còn hạn chế và nhiều bất cập. Do đó để tìm hiểu những nhu cầu và khó khăn
của TEKTVĐ; chính sách, hoạt động trợ giúp CTXH cá nhân với TEKTVĐ để từ
đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hoạt động CTXH đối với TEKTVĐ nhằm
giúp cho đời sống của các em ngày một tốt hơn, phù hợp với quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước. Đó là lý do để tôi chọn đề tài: “Công tác xã hội cá
nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” để nghiên
cứu làm luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục tiêu đề ra trong luận văn là nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về
CTXHCN với TEKTVĐ ở khía cạnh CTXH, đề tài được kế thừa có chọn lọc các

2


kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học khác nhau và tiếp tục nghiên cứu
sâu về các vấn đề lý luận và thực tiễn CTXHCN với TEKTVĐ trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa. Hiện nay, tại Việt Nam và nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên
cứu, nhiều ấn phẩm được đề cập trên các báo, luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận

phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của đa số NKT.
Những công trình nghiên cứu trên đều ít nhiều đề cập đến vấn đề hỗ trợ, giáo
dục cho NKT, trẻ em khuyết tật, trẻ em KTVĐ dưới các góc độ khác nhau cả về lý
luận và thực tiễn. Một số tác giả đã chỉ ra được thực trạng hoạt động CTXH trong
việc cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ cho NKT, TEKT, TEKTVĐ. Tuy nhiên chưa
có nghiên cứu sâu nào về CTXHCN với TEKTVĐ từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa, do
đó nên tôi chọn nghiên cứu CTXHCN với TEKTVĐ tại tỉnh Thanh Hóa vì ngoài
việc kế thừa, chọn lọc từ các thành tựu đã có, đề tài đi sâu vào việc tìm hiểu các
DVCTXH đang trợ giúp cho TEKTVĐ để từ đó đánh giá tính chuyên nghiệp của
NCTXH, các hoạt động trợ giúp của CTXH, các yếu tố ảnh hưởng của quá trình trợ
giúp các DVCTXH và đưa ra được những định hướng giải pháp về trợ giúp các
DVCTXH cho TEKTVĐ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về CTXH, CTXHCN, NKT, TEKT và
TEKTVĐ đồng thời đánh giá thực trạng CTXHCN với TEKTVĐ trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao
CTXHCN đối với TEKTVĐ nói chung và TEKTVĐ tại tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về CTXHCN, TEKTVĐ, CTXHCN đối với
TEKTVĐ.
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến CTXHCN đối
với TEKTVĐ từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa.
- Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTXHCN đối với
TEKTVĐ trên cả nước nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
CTXHCN với TEKTVĐ từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa.

4

giúp TEKTVĐ tại tỉnh Thanh Hóa cụ thể phỏng vấn 03 cán bộ làm việc với
TEKTVĐ, 02 cán bộ lãnh đạo ở địa phương, 01 lãnh đạo Trung tâm cung cấp dịch

5


vụ CTXH, 03 Lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, 03 gia đình
TEKTVĐ.
* Phương pháp quan sát: Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương
pháp quan sát để tìm hiểu sâu hơn về thực trạng môi trường sống của TEKTVĐ, các
hành vi ứng xử của TEKTVĐ cũng như cách quan tâm, chăm sóc của gia đình, cộng
đồng đối với TEKTVĐ.
* Phương pháp xử lý và thu thập thông tin: Dùng Execl để phân tích và xử lý
số liệu tại chương 2 của luận văn
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên ở tỉnh nghiên cứu có hệ thống hoạt động
công tác xã hội đối với TEKTVĐ và có những đóng góp mới sau đây:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và những đặc điểm của hoạt động CTXHCN đối
với TEKTVĐ.
- Đánh giá có hệ thống và khái quát thực trạng hoạt động CTXHCN đối với
TEKTVĐ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản góp phần hoàn thiện
CTXHCN đối với TEKTVĐ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung nhận thức lý luận về
thực hiện pháp luật và đề xuất những giải pháp phù hợp trong quá trình hoạch định
chính sách, triển khai chính sách, làm tài liệu tham khảo tham khảo cho các nghiên
cứu sau này về lĩnh vực TEKT, TEKTVĐ và chính sách chăm sóc sức khỏe cho
TEKT, TEKTVĐ ở Việt Nam nói chung, tỉnh Thanh Hóa nói riêng.

2006), Điều 1 quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể
chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại
với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của
người khuyết tật vào xă hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [2].
Ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật Người khuyết tật, có
hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho
khái niệm “người tàn tật”, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế
giới về vấn đề khuyết tật. Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 của Luật này thì
“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị

7


suy giảm ch c năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt,
h c tập gặp khó khăn”[23].
1.1.1.3. Khái niệm trẻ khuyết tật
Là những đứa trẻ bị tổn thương về cơ thể hoặc rối loạn các chức năng nhất
định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động học tập, vui chơi và lao
động. TKT có thể tham gia các hoạt động như mọi thành viên khác trong cộng
đồng.
Theo Luật người khuyết tật, người ta chia thành 6 dạng tật: Trẻ em khuyết tật
vận động; Trẻ em khuyết tật nghe, nói; Trẻ em khuyết tật nhìn; Trẻ em khuyết tật
thần kinh, tâm thần; Trẻ em khuyết tật trí tuệ; Trẻ em khuyết tật khác.
1.1.1.4. Khái niệm trẻ em khuyết tật vận động
Là những trẻ có sự tổn thất các chức năng làm cản trở đến việc di chuyển,
vận động của trẻ từ đó làm ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập của trẻ
Trẻ khuyết tật vận động có thể phân ra làm hai dạng dưới góc độ khác nhau:
- Những trẻ bị hội chứng não thường là trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong học
tập, sinh hoạt.
- Những trẻ do chấn thương nhẹ hay do bệnh bại liệt nhưng não bộ của trẻ

đánh giá được những nhu cầu cần thiết của TEKTVĐ để từ đó có thể giúp trẻ phát
triển và hòa nhập cộng đồng.
1.2. Một số lý luận về công tác xă hội cá nhân đối với TEKTVĐ
1.2.1. Khái quát chung về công tác xã hội
CTXH được xem như là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia
từ gần thế kỷ nay. CTXH tồn tại và hoạt động khi xuất hiện những vấn đề cần giải
quyết như tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng giới, và giúp đỡ những thành phần dễ
bị tổn thương như trẻ mồ côi, người tàn tật, trẻ đường phố, trẻ bị lạm dụng…
Tuy nhiên ở Việt Nam, CTXH thường được nghĩ như là một việc làm từ
thiện. Để cho thấy CTXH không phải là công việc đơn giản như công tác từ thiện,
cần có cái nhìn đầy đủ ý nghĩa về CTXH. Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về
CTXH, dưới đây là một số định nghĩa về CTXH.
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế
Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã
hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và
giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của h ngày càng thoải mái và

9


dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH
can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của h
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010): CTXH được xem là một nghề, một
hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng
cao năng lực đáp ng nhu cầu và tăng cường ch c năng xã hội, đồng thời thúc đẩy
môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình
và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an
sinh xã hội [tr.4;11]
CTXH được xem là một nghề bởi vì nó có nhiệm vụ, chức năng được xã hội
giao phó. CTXH là công cụ để triển khai các chính sách, chương trình và các dịch

CTXH để thực thi các hoạt động cụ thể như: tham vấn, quản lý trường hợp, hỗ trợ
xử lý stress, can thiệp khủng hoảng, biện hộ bảo vệ quyền lợi, hỗ trợ tiếp cận nguồn
lực…
- Mục đích của CTXHCN: Là giúp cho cá nhân giải quyết vấn đề của họ khi
gặp khó khăn về tâm lý, kinh tế, việc làm…và thúc đẩy các chính sách xã hội giúp
thân chủ được đảm bảo những quyền của họ.
- Đối tượng trợ giúp của CTXHCN: là những cá nhân, gia đình trong hoàn
cảnh khó khăn như: NKT, nghèo đói, người cao tuổi, trẻ em có HCĐBKK, đối
tượng bạo hành…
- CTXHCN được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc của CTXH như: Chấp nhận
thân chủ; Thái độ không kết án; Tôn trọng quyền tự quyết của bản thân; Khuyến
khích thân chủ tham gia giải quyết vấn đề; Cá nhân hóa; Giữ bí mật cho thân chủ và
Sự can dự có kiểm soát.
- CTXHCN được diễn ra theo một tiến trình các bước bao gồm: Tiếp cận và
xác định vấn đề ban đầu; Thu thập thông tin; chuẩn đoán; lập kế hoạch trị liệu và
thực hiện và giám sát việc thực hiện kế hoạch.
1.2.3. Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khuyết tật vận động
1.2.3.1. Khái quát về công tác xã hội cá nhân với trẻ em khuyết tật vận động
Trên cơ sở lý luận về CTXHCN được đề cập ở trên, xin đưa ra khái niệm về
CTXHCN với TEKTVĐ như sau:
CTXHCN với TEKTVĐ là hoạt động trợ giúp mà ở đó nhân viên công tác xã
hội áp dụng hệ thống giá trị đạo đức nghề CTXH, các kiến thức, kỹ năng của
CTXHCN vào trợ giúp TEKTVĐ và gia đình trẻ giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu
của TEKTVĐ đồng thời thúc đẩy chính sách trợ giúp TEKTVĐ.

11


Mục đích của CTXHCN với TEKTVĐ: Là nhằm hỗ trợ bản thân TEKTVĐ
được chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, hòa nhập cộng đồng, được tiếp cận với các


định do các dạng tật gây ra. Đây cũng là nguyên tắc vô cùng quan trọng với
NVCTXH trong việc trợ giúp TEKTVĐ.
1.2.3.2. Một số hoạt động cụ thể trong công tác xã hội cá nhân với trẻ em
khuyết tật vận động
Trong rất nhiều các hoạt động của CTXHCN với TEKTVĐ như hoạt động
tham vấn, hoạt động Quản lí trường hợp, hoạt động phục hồi chức năng, hoạt động
phát triển và can thiệp sớm, hoạt động xử lý khủng hoảng, hoạt động biện hộ, hoạt
động tiếp cận nguồn lực… thì tác giả luận văn tập trung đi sâu vào CTXHCN với
TEKTVĐ ở các hoạt động sau:
- Hoạt động tham vấn trẻ và gia đình trẻ KTVĐ
Khái niệm: Tham vấn cho TEKTVĐ và gia đình trẻ là một quá trình trợ giúp
tâm lý, trong đó NVCTXH thực hiện tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng để thiết
lập mối quan hệ tương tác tích cực với trẻ nhằm giúp đỡ trẻ nhận thức được bản
thân, vấn đề và nguồn lực, qua đó xác định giải pháp để giải quyết vấn đề một cách
có hiệu quả
Mục đích tham vấn cho trẻ em và gia đình trẻ KTVĐ: Giúp trẻ đối phó với
những cảm xúc tiêu cực mà trẻ đang phải đối mặt trong tình huống có vấn đề. Giúp
trẻ thay đổi cảm xúc, hành vi, suy nghĩ tiêu cực; Giúp trẻ tạo sự cân bằng giữa tình
cảm, lý trí và tư duy; Giúp trẻ có nhận thức tích cực về bản thân, nhận thức về hoàn
cảnh và môi trường xung quanh; Giúp trẻ có khả năng đưa ra Quyết định hợp lý và
thực hiện các Quyết định đó; Giúp trẻ tăng cường khả năng thích nghi và phát triển
nhân cách tích cực.
Các hình th c tham vấn: Tham vấn cá nhân bản thân TEKTVĐ: Hình thức
tham vấn này diễn ra trong mối quan hệ tương tác 1-1 giữa nhân viên công tác xã
hội với trẻ và Tham vấn gia đình của trẻ em KTVĐ: diễn ra qua các buổi làm việc
giữa các thành viên trong gia đình của trẻ với sự điều phối của nhân viên công tác
xã hội, các thành viên trong gia đình trẻ và cá nhân trẻ cùng thảo luận tìm kiếm
những giải pháp để giải quyết những vấn đề liên quan tới trẻ.


Dịch vụ liên tục: Nhấn mạnh đến việc không gián đoạn trong kế hoạch đáp
ứng nhu cầu cho TKT.

14


Đảm bảo công bằng: Mỗi TEKTVĐ đều có các quyền như nhau khi tiếp cận
các dịch vụ.
Dịch vụ chất lượng: Nhấn mạnh sự cam kết của nhân viên quản lý ca đối với
việc tôn trọng quyền của thân chủ và trách nhiệm của họ khi cung cấp dịch vụ.
Trao quyền: Là việc tôn trọng sự khác biệt của mỗi TKT, dành quyền tự
quyết cho TKT, xây dựng kế hoạch dựa trên tiềm năng và lợi ích của đối tượng, tạo
cơ hội tham gia và khả năng tự đáp ứng của TKT.
Quy trình quản lý trường hợp: Giai đoạn 1: Tiếp nhận và đánh giá; Giai đoạn
2: Xây dựng kế hoạch can thiệp; Giai đoạn 3: Triển khai kế hoạch can thiệp; Giai
đoạn 4: Giám sát và rà soát và Giai đoạn 5: Lượng giá và kết thúc.
- Hoạt động biện hộ cho TEKTVĐ và gia đình trẻ
Khái niệm: Là hoạt động thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, đặc biệt đối
với những người yếu thế nhằm thúc đẩy công bằng xã hội cho tất cả mọi người.
Mục đích của hoạt động biện hộ cho TEKTVĐ và gia đình trẻ: Đại diện bảo
vệ quyền lợi cho TEKTVĐ và gia đình trẻ.
Các hình th c biện hộ: Biện hộ cá nhân và biện hộ nhóm; Tự biện hộ và
Biện hộ đồng cảnh.
- Hoạt động tiếp cận nguồn lực cho trẻ và gia đình trẻ
Khái niệm: Là hoạt động trợ giúp cho TEKTVĐ và gia đình trẻ được tiếp cận
với các chính sách hỗ trợ của nhà nước đồng thời kết nối với các nguồn lực để giúp
cho trẻ và gia đình trẻ có cơ hội được tham gia học nghề, hỗ trợ việc làm, phục hồi
chức năng, giáo dục hòa nhập, chế độ bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khỏe, trợ giúp
pháp lý.
Mục đích hoạt động tiếp cận nguồn lực

hành nghề hay đào tạo về CTXH chuyên sâu ví dụ như CTXH lâm sàng.
1.2.4.2. Yếu tố định kiến xã hội
Những định kiến về TEKTVĐ vẫn đang còn tồn tại trong xã hội. Sự kỳ thị và
phân biệt đối xử với TEKTVĐ thể hiện rất đa dạng trong cuộc sống. Mọi người
thường có suy nghĩ, áp đặt chủ quan rằng tất cả TEKTVĐ đều là những đứa trẻ “tàn
phế” không thể có cuộc sống “bình thường” như những đứa trẻ khác như không có
khả năng học tập, không có khả năng vui chơi, không có nghị sống chỉ sống bám
vào người khác hay nhiều người còn duy tâm cho rằng TEKTVĐ phải trả giá cho
việc làm xấu xa của kiếp trước… Từ những nhận thức mang tính áp đặt chủ quan đó

16


nên nhiều người trong xã hội luôn có thái độ kinh thường và thiếu tôn trọng trẻ, xa
lánh, từ chối, ngược đãi, có thành kiến và hạn chế rất nhiều quyền của TEKTVĐ.
Sự định kiến của xã hội ảnh hưởng rất lớn đến cơ hội sống, cơ hội vui chơi,
cơ hội học tập, cơ hội hòa nhập cộng đồng, cơ hội chăm sóc sức khỏe... của
TEKTVĐ.
1.2.4.3. Yếu tố bản thân trẻ em khuyết tật vận động và gia đình trẻ
TEKTVĐ thường mặc cảm, tự tin về bản thân, dễ bị tổn thương khi người
khác có hành vi và thái độ không tôn trọng. Đối với TEKTVĐ từ 6-16 tuổi thì bên
cạnh yếu tố đặc điểm tâm lí đó TEKTVĐ thì giai đoạn này TEKTVĐ có nhiều thay
đổi về tâm sinh lí, nhận thức. Nếu TEKTVĐ không đi học thì luôn có tâm trạng
buồn chán, ngại giao tiếp với mọi người xung quanh. Nếu trẻ đang đi học thì trẻ gặp
khó khăn trong hòa nhập với bạn bè, thầy cô, dễ có tâm trạng chán nản khi bạn bè,
thầy cô đối xử không công bằng nhiều TEKTVĐ rơi vào trạng thái rụt rè, sợ sệt,
bẽn lẽn, nhiều trẻ thu mình lại, cảm thấy cô độc.
Bên cạnh đó nhiều gia đình có TEKTVĐ thường mặc cảm, xấu hổ với cộng
đồng vì đã sinh ra đứa con tật nguyền nên không cho trẻ ra ngoài tiếp xúc với bạn
bè, hàng xóm. Hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ở vùng xâu vùng xa cũng là một trong

Hoạt động chăm sóc trợ giúp TEKTVĐ đòi hỏi có sự tham gia của nhiều lĩnh
vực chuyên môn, sự phối hợp của các cơ quan chức năng như y tế, giáo dục, lao
động – xã hội và nhiều cơ quan tổ chức khác.
Trong công tác phục hồi chức năng cho TEKTVĐ, không thể không tính tới
vai trò của y bác sỹ, của nhà vật lý trị liệu. Họ là người giúp cho trẻ có được khám
chữa chuyên khoa y tế. Các nhà giáo dục lại tham gia vào giúp trẻ được học văn
hóa, đảm bảo cho sự phát triển về trí tuệ, nhận thức như những trẻ khác. NVCTXH
là người điều phối két nối chuyển gửi tới các dịch vụ trong cộng đồng. Tại Việt
Nam, vai trò của các tổ chức đoàn thể chính trị cũng rất được nhấn mạnh. Những tổ
chức như hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội chữ thập đỏ, tham gia với cương vị
truyền thông, vận động, tổ chức các hoạt động văn hóa, xã hội và hòa nhập trẻ cộng
đồng…
Vì vậy việc phối kết hợp hay sự không hợp tác của các cơ quan tổ chức, các
nhà chuyên môn sẽ đem lại kết quả can thiệp hiệu quả hay không hiệu quả đối với
hoạt động can thiệp CTXHCN đối với TEKTVĐ.

18


1.3. Cơ sở pháp lý về công tác xă hội đối với trẻ em khuyết tật vận động
1.3.1. Những văn bản Quốc tế liên quan đến người khuyết tật và trẻ em
khuyết tật vận động bao gồm:
Một số các luật pháp quốc tế cũng như những văn bản quốc tế có vai trò trong
thúc đẩy luật pháp, chính sách, chương trình dịch vụ quốc gia liên quan tới NKT
trong đó có TEKTVĐ như Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật ngày 09 tháng 12
năm 1975 (The Declaration on the Rights of Disabled Persons) [47]; Chương trình
hành động thế giới về NKT 1982 (The World programme of Action for Disabled
Persons) [1]; Quy tắc tiêu chuẩn của Liên hợp quốc về bình đẳng hoá cơ hội cho
NKT ngày 26 tháng 12 năm 1993 (The United Nations Standard Rules on the
Equalization of Opportunities for Persons with disabilities) [21]; Tuyên bố

trường hợp với NKT[39]; Nghị định 26/2016/NĐ-CP ngày 6/4/2016 quy định chế
độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức và người lao động tại các cơ sở
quản lí người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội
[15]; Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH ngày 2/12/2017 quy định về tiêu chuẩn
đạo đức nghề nghiệp đối với người làm CTXH[40];Luật Người khuyết tật số
51/2010/QH12 ngày 17/6/2010[23]; Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT; Nghị định
136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối
tượng bảo trợ xã hội;Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm
2008 [8] và Luật giáo dục ban hành ngày 27 tháng 6 năm 2005[22];
Bên cạnh đó còn rất nhiều hệ thống các chính sách trợ giúp NKT như về dạy
nghề, việc làm, công trình công cộng dành cho NKT, trợ giúp pháp lí, vui chơi giải
trí…
Ngày 05/4/2016, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XIII, kỳ họp thứ 11 đã chính thức thông qua Luật Trẻ em (có hiệu lực từ ngày
01/6/2016). Nhiều quan điểm mới được đề cập trong Luật trẻ em (2016) mà từ trước
tới nay chưa được đề cập đến [24]
Như vậy, về cơ sở pháp lý của CTXHCN với TEKTVĐ hiện nay đã được thể
hiện thông qua Luật Trẻ em, hệ thống các văn bản quy định trợ giúp cho TEKTVĐ
ở nhiều lĩnh vực, hoạt động khác nhau và trách nhiệm phối hợp của hệ thống dịch
vụ bảo vệ trẻ em. Về lĩnh vực CTXH thì ngoài các Nghị định, thông tư đã được ban
hành, Bộ LĐ-TBXH đang tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy trình để trình Ủy

20


ban thường vụ Quốc Hội, Quốc hội về Luật công tác xã hội. Hi vọng trong thời gian
tới Luật NCTXH được Quốc Hội ban hành sẽ là khung pháp lí quan trọng để trợ
giúp cho các đối tượng yếu thế trong xã hội nói chung và TEKTVĐ nói riêng vươn
lên hòa nhập với cộng đồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status