ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TỐNG VÕ LỆ HÀ
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG – LÂM NGHIỆP VÀ
DU LỊCH HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2011
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TỐNG VÕ LỆ HÀ
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG – LÂM NGHIỆP VÀ
DU LỊCH HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.3. Nguyên tắc thành lập bản đồ cảnh quan và phương pháp đánh giá cảnh quan............................. 24
1.3.1. Nguyên tắc thành lập bản đồ cảnh quan ..................................................... 24
1.3.2. Phương pháp đánh giá cảnh quan ............................................................... 25
1.4. Những vấn đề lý luận chung về phát triển nông - lâm nghiệp và du lịch bền vững ........... 28
1.4.1. Phát triển nông - lâm nghiệp bền vững ....................................................... 28
1.4.2. Phát triển du lịch bền vững ......................................................................... 30
i
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN VÀ ĐẶC ĐIỂM CẢNH
QUAN Ở HUYỆN SÓC SƠN .....................................................................................................35
2.1. Các nhân tố thành tạo cảnh quan ........................................................................... 35
2.1.1. Vị trí địa lý ................................................................................................... 35
2.1.2. Địa chất và khoáng sản ............................................................................... 35
2.1.3. Địa hình ....................................................................................................... 36
2.1.4. Khí hậu ......................................................................................................... 38
2.1.5. Thủy văn ....................................................................................................... 39
2.1.6. Thổ nhưỡng .................................................................................................. 40
2.1.7. Sinh vật ........................................................................................................ 42
2.1.8. Dân cư và hoạt động kinh tế ........................................................................ 43
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
DANH MỤC BẢNG
STT
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
2.8
2.9
2.10
2.11
2.12
2.13
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
với cây chè huyện Sóc Sơn
Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của 16 dạng cảnh quan đối
với cây thông nhựa huyện Sóc Sơn
Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của 28 dạng cảnh quan đối
với cây keo tai tượng huyện Sóc Sơn
Kết quả đánh giá tổng hợp các loại cảnh quan cho phát triển
các loại cây trồng nông – lâm nghiệp huyện Sóc Sơn
Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan đối với ngành
du lịch của huyện Sóc Sơn
iv
Trang
44
45
51
51
52
53
53
53
54
56
57
68
69
76
78
80
80
35
2.2
Bản đồ địa mạo huyện Sóc Sơn
37
2.3
Bản đồ thổ nhưỡng huyện Sóc Sơn
40
2.4
Bản đồ thảm thực vật huyện Sóc Sơn
42
2.5
Bản đồ cảnh quan huyện Sóc Sơn
68
3.1
Bản đồ thích nghi sinh thái cây nhãn huyện Sóc Sơn
92
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Ở nước ta, cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, tài nguyên thiên
nhiên được sử dụng ngày càng đa dạng với quy mô ngày càng lớn. Một trong những
nguyên tắc để tránh làm suy thoái và cạn kiệt tài nguyên đó là việc khai thác, sử
dụng nguồn tài nguyên luôn phải đảm bảo dựa trên sự phù hợp với quy luật địa sinh
thái lãnh thổ, nếu không sẽ gây ảnh hưởng xấu tới xu thế phát triển kinh tế xã hội và
trực tiếp chi phối đến đời sống cộng đồng.
Để duy trì sự phát triển, việc sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên
hiện là một trong những yếu tố hết sức cần thiết. Nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra
từ các địa phương trong cả nước cho thấy nếu khai thác tài nguyên không hợp lý, không
chú ý tới các quy luật tự nhiên thì sẽ không những làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
mà còn gây ảnh hưởng tới môi trường và có những hậu quả xấu cho chính bản thân con
người, đi ngược lại với mục tiêu phát triển bền vững. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích,
đánh giá cảnh quan của một khu vực nhằm mục đích phát triển các ngành kinh tế là
nhiệm vụ quan trọng và có ý nghĩa to lớn.
Huyện Sóc Sơn nằm ở phía bắc thành phố Hà Nội, có diện tích 306,5 km2
gồm 1 thị trấn (Sóc Sơn - huyện lị) và 25 xã. Huyện Sóc Sơn nổi tiếng với khu di
tích đền Sóc (đền Sóc Sơn, chùa Non Nước,…) có ý nghĩa văn hóa, lịch sử to lớn.
Trong những năm qua, Huyện đã đạt một số thành tựu như kinh tế tăng trưởng với
- Phân tích, đánh giá cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu phục vụ mục đích phát
triển các ngành sản xuất đã lựa chọn.
- Đối sánh hiện trạng phát triển nông - lâm nghiệp, du lịch với các kết quả
đánh giá, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm định hướng tổ chức khai thác,
sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phục vụ phát triển bền vững ngành
nông - lâm nghiệp, du lịch tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Phạm vi không gian:
Được giới hạn trong lãnh thổ huyện Sóc Sơn (bao gồm 1 thị trấn và 25 xã),
thành phố Hà Nội.
3.2. Phạm vi khoa học
- Tập trung nghiên cứu, phân tích các đơn vị cảnh quan huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
2
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
- Các ngành nghề sản xuất: tập trung vào các ngành nghề sản xuất là nông lâm nghiệp và du lịch.
- Xác định mức độ thích hợp của các đơn vị cảnh quan với mục đích phát triển bền
vững các ngành sản xuất đã lựa chọn tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc khách quan, nguyên tắc
tổng hợp và nguyên tắc thích nghi tương đối. Trên cơ sở đó đề xuất các phương pháp sử
dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trong không gian nghiên cứu.
4. Những kết quả đạt được của đề tài
+ Hệ thống và vận dụng cơ sở lý luận phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan
thống, mỗi hệ thống đều có thể phân chia thành các cấp thấp hơn, đồng thời mỗi hệ
thống có thể là một thành phần của hệ thống cấp cao hơn”.
Quan điểm hệ thống là một quan điểm khoa học chung, một trong những
quan điểm đặc trưng của Địa lý học và là quan điểm cơ bản quyết định phương
pháp tư duy, tiếp cận mọi vấn đề.
Cơ sở của quan điểm này là các yếu tố tự nhiên trên một lãnh thổ luôn có tác
động qua lại và liên hệ chặt chẽ với nhau tạo nên một hệ thống động lực mở, tự điều
chỉnh và có trạng thái cân bằng động.
Quan điểm này được vận dụng khi nghiên cứu, đánh giá cảnh quan huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội. Khu vực huyện Sóc Sơn được coi là một hệ thống tự nhiên,
tạo thành từ nhiều yếu tố tự nhiên (địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh
vật…), bao gồm nhiều bộ phận nhỏ, chính là các đơn vị cảnh quan, đồng thời lại là bộ
phận của hệ thống lớn hơn: thành phố Hà Nội và đồng bằng sông Hồng. Ở đó có sự
tương tác giữa các hợp phần tự nhiên cũng như giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống
kinh tế - xã hội. Bởi vậy, khi nghiên cứu cần phải đặt nó trong hệ thống và mối quan
hệ qua lại mật thiết giữa các yếu tố thành tạo cảnh quan, giữa các cảnh quan với nhau
và với các lãnh thổ xung quanh. Trong nghiên cứu, đánh giá cảnh quan huyện Sóc
Sơn, việc vận dụng quan điểm này có ý nghĩa quan trọng, vì mỗi một đơn vị cảnh
quan đều có cấu trúc, chức năng hoạt động riêng, đều là một bộ phận của đơn vị cấp
lớn hơn và nó lại bao gồm nhiều đơn vị cấp thấp hơn. Quan điểm hệ thống giúp
chúng ta có cái nhìn toàn diện, xác định được vị trí của đối tượng trong tổng thể, đánh
giá đầy đủ các thành phần và các mối quan hệ của lãnh thổ nghiên cứu.
6.1.2. Quan điểm tổng hợp
4
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
mục đích cụ thể của từng vùng và trên toàn lãnh thổ.
6.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Đây là quan điểm chỉ đạo trong nghiên cứu bảo vệ môi trường. Địa lý học đã
vận dụng quan điểm này vào việc nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các nhân tố điều
kiện địa lí tự nhiên và kinh tế- xã hội.
5
Ngày nay, việc đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho mọi
hoạt động phát triển kinh tế đều phải tuân thủ theo nguyên tắc phát triển bền vững. Sử
dụng hợp lý tài nguyên không phải chỉ khai thác, tận dụng triệt để các nguồn tài
nguyên trên lãnh thổ phục vụ phát triển kinh tế mà còn phải đảm bảo sự cân bằng về
sinh thái và bền vững về môi trường. Nếu tác động con người dưới mức cho phép thì
đó là động lực tạo cơ sở cho sự phát triển của hệ địa sinh thái theo chiều hướng ổn
định trong trạng thái cân bằng và phát triển của toàn hệ thống. Nhưng nếu tác động
quá mức cho phép sẽ làm cho hệ địa sinh thái bị đảo lộn và phát triển theo chiều
hướng xấu, gây mất cân bằng sinh thái và gây ra nhiều hậu quả. Sự suy giảm diện tích
rừng gây xói mòn đất, hạ thấp mực nước ngầm, làm biến đổi khí hậu; biện pháp canh
tác không đúng kĩ thuật làm đất đai bị bạc màu, diện tích đất hoang hoá gia tăng...
Cân bằng sinh thái và phát triển bền vững là mục tiêu của việc khai thác sử
dụng hợp lí nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái. Vận dụng quan điểm
này cho phép xác định mức độ ảnh hưởng, là yếu tố cơ bản để đánh giá, phát hiện,
đề xuất các giải pháp cho việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Quan điểm này chi phối định hướng đánh giá và kiến nghị sử dụng các loại
cảnh quan trong khu vực nghiên cứu của đề tài. Phát triển bền vững được coi là tiêu
chí ưu tiên hàng đầu trong hoạt động đánh giá cảnh quan cho các mục đích cụ thể.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
+ Các bước nghiên cứu thực hiện luận văn: Từ những cơ sở lí luận và thực
tiễn trên, để hoàn thành luận văn, tác giả thực hiện theo các bước sau:
Xây dựng bản đồ, phân tích
đặc điểm cảnh quan
3. Đánh giá cảnh quan cho phát triển
nông - lâm nghiệp và DL
4. Đề xuất hướng sử dụng
Hình 1: Các bước thực hiện luận văn
+ Phương pháp thu thập, tổng hợp/phân tích tài liệu
Quá trình thực hiện đề tài, các tài liệu, số liệu liên quan đến khu vực nghiên
cứu được thu thập có chọn lọc, bao gồm các thông tin về tự nhiên (đặc điểm tự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên), thông tin kinh tế xã hội (tình hình phát triển, tốc
độ chuyển dịch kinh tế, cơ cấu và mức sống của người dân trong huyện). Phân tích
xử lí phục vụ yêu cầu đặt ra theo mục đích của đề tài sau đó đánh giá tổng hợp, rút
ra nhận xét thực trạng và tiềm năng phát triển các ngành kinh tế của lãnh thổ nghiên
cứu.
7
+ Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp truyền thống, rất quan trọng với tất cả các ngành nghiên cứu
thiên nhiên, nhất là đối với địa lí tự nhiên tổng hợp. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác
giả đến khảo sát theo tuyến và theo điểm, tìm hiểu, chụp ảnh những đối tượng và địa
điểm cần thiết. Quá trình khảo sát chủ yếu nghiên cứu các đặc điểm địa lí tự nhiên, sự
phân hoá không gian lãnh thổ. Kết hợp với các phương pháp khác, so sánh đối chiếu với
kết quả nghiên cứu trong phòng để nắm vững đặc trưng cơ bản của lãnh thổ nghiên cứu.
+ Phương pháp phỏng vấn và tham gia của người dân
Ngoài các thông tin thu thập từ những tài liệu, báo cáo của địa phương thì
mien phi
phi
thực vật, kiểu khí hậu, thuỷ văn). Những bản đồ thành phần được đưa về cùng tỉ lệ
rồi chồng xếp lên nhau, tiến hành phân tích liên hợp các thành phần để xác định
ranh giới của các đơn vị cảnh quan.
+ Phương pháp phân tích liên hiệp các yếu tố thành tạo cảnh quan
Việc phân tích, nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển nông –
lâm nghiệp và du lịch của huyện Sóc Sơn đòi hỏi phải đặt trong mối quan hệ với các
khu vực lân cận và trong cả nước. Nắm được thuận lợi, hạn chế của khu vực trong
việc kết nối với các vùng khác sẽ là cơ sở để đưa ra những kiến nghị, đề xuất phát
huy được thế mạnh của Huyện. Trong phạm vi của đề tài, huyện Sóc Sơn được xem
xét đánh giá trong mối liên hệ với thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Các hợp phần thành tạo cảnh quan của một khu vực bao gồm địa hình và các quá
trình địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật… vì vậy để đánh giá cảnh quan đòi hỏi phải
phân tích và nhận biết cụ thể cấu trúc của từng hợp phần. Phương pháp này được thực hiện
sau khi đã xử lý các thông tin thu thập về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của
huyện Sóc Sơn để từ đó xác định ranh giới và vạch ra các dạng cảnh quan hiện có trong
khu vực nghiên cứu. Trên cơ sở so sánh vai trò của các hợp phần tự nhiên, nhận biết hợp
phần trội để gộp các dạng cảnh quan có diện tích nhỏ với dạng cảnh quan liền kề.
+ Phương pháp lát cắt cảnh quan
Mục đích của phương pháp là nghiên cứu cấu trúc đứng và cấu trúc ngang
của cảnh quan dựa trên các lát cắt qua những cảnh quan điển hình trong lãnh thổ
huyện Sóc Sơn trong giai đoạn chuẩn bị, sơ thám và khảo sát chi tiết. Trong giai
đoạn chuẩn bị, trên cơ sở các tài liệu đã có và bản đồ địa hình, vạch ra tuyến lộ trình
để phục vụ cho công tác khảo sát thực địa nhằm xác định quy luật phân hóa cấu trúc
ngang và ranh giới giữa các dạng cảnh quan. Lát cắt cảnh quan thể hiện đặc điểm,
sự phân bố và mối liên hệ giữa các yếu tố thành tạo cảnh quan.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được
trình bày trong 3 chương:
địa lí và ông cho rằng chính cảnh quan là đối tượng nghiên cứu của khoa học địa lí.
Đến năm 1931, L.S. Berg công bố tác phẩm “Các đới cảnh quan địa lí Liên Xô”
(tập 1) – công trình nổi tiếng là cơ sở để hoàn thiện lí luận cảnh quan. Năm 1963,
Annhenxkaia và những tác giả khác đã trình bày rõ về cách phân chia các đơn vị
cảnh quan trong tuyển tập “Cảnh quan học”. F.N. Milkov vào năm 1967 đã đề cập
đến các tổng thể thiên nhiên trên Trái Đất với tên gọi là các “tổng thể cộng sinh” mà
sau đó D.L. Armand gọi là “địa hệ” trong công trình “Khoa học về cảnh quan”
(1975). “Khoa học về cảnh quan” là một loạt tiểu luận về các đề tài lí thuyết và
phương pháp được sắp xếp theo một trình tự lôgic rõ ràng.
Một nhà cảnh quan tiêu biểu khác của Nga là A.G. Isachenko với nhiều công
trình có giá trị. Năm 1961, ông đã hoàn thành công trình “Bản đồ cảnh quan Liên
Xô, tỉ lệ 1/4.000.000 và vấn đề phương pháp nghiên cứu cảnh quan”. Năm 1969,
ông cho ra đời tác phẩm “Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lí tự nhiên”, trong
đó ông đã trình bày những cơ sở lí thuyết và các nguyên tắc cơ bản trong phân vùng
địa lí tự nhiên. 5 năm sau (1974), ông cùng với A.A. Shliapnikov công bố công
trình “Về những nội dung của bản đồ cảnh quan địa lí”. Năm 1976, ông tiếp tục
xuất bản cuốn “Cảnh quan học ứng dụng” – công trình thể hiện tầm nhìn và khả
năng nắm bắt thực tiễn rất nhạy bén của ông khi đưa quan điểm ứng dụng vào cảnh
quan học. Những năm sau, một loạt các công trình về cảnh quan ứng dụng cũng
được hoàn thành như : “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho các sơ đồ quy hoạch
11
vùng” (E.M. Rakovskaia, I.R. Dorphman – 1980) ; “Phương pháp đánh giá cảnh
quan sinh thái nhằm mục đích phát triển tối ưu lãnh thổ” (M. Ruzichka, M. Miklas
– 1980).
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa cảnh quan học với các ngành khoa học khác
cũng có nhiều đại diện xuất sắc. Trước hết phải kể đến B.B. Polưnov – người sáng
lập môn địa hoá học cảnh quan vào những năm 40 của thế kỉ XX tại Liên Xô, mà
sau đó, công trình cùng tên “Địa hoá học cảnh quan” cũng đã được công bố bởi
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
dung các danh từ dùng để chỉ các đơn vị phân vị cơ bản trong phân vùng địa lí tự
nhiên tổng hợp tỉ lệ khác nhau” (V.G. Zavrie, Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập) ;
“Phương pháp luận và phương pháp phân vùng địa lí tổng hợp tỉ lệ trung bình” (V.G.
Zavrie, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Văn Nhưng). Đến năm 1976, Vũ Tự Lập với sự
giúp đỡ của E.M. Murzaev và V.G. Zavriev đã hoàn thành công trình “Cảnh quan địa
lí miền Bắc Việt Nam” – được xem là một công trình tổng hợp hết sức công phu có giá
trị học thuật lớn lao đối với khoa học địa lí Việt Nam hiện đại.
Ngoài ra, công tác phân vùng còn được tiến hành bởi Tổ phân vùng địa lí tự
nhiên thuộc Uỷ ban Khoa học và kĩ thuật Nhà nước, thể hiện qua tác phẩm “Phân
vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ Việt Nam” (1970). Năm 1991, Trương Quang Hải đã
tiến hành phân loại và phân vùng cảnh quan miền Nam Việt Nam. Đến năm 1998,
Nguyễn Văn Nhưng và Nguyễn Văn Vinh đã công bố cuốn “Phân vùng địa lí tự
nhiên đất liền, đảo – biển Việt Nam và lân cận”. Mặc dù có khá nhiều quan điểm
phân vùng khác nhau nhưng các tài liệu này đã cung cấp cơ sở lí luận và thực tiễn
cho việc nghiên cứu địa lí tự nhiên tổng hợp của các thế hệ sau được tiến hành
thuận lợi hơn.
Đối với hướng nghiên cứu địa hoá và sinh thái cảnh quan thì ở Việt Nam, tuy
ra đời muộn hơn các nước phương Tây nhưng cũng đã đạt được những thành tựu
đáng kể, tiêu biểu là Nguyễn Văn Vinh. Năm 1983, ông có bài viết “Những yếu tố
chính cấu thành cảnh quan địa hoá Việt Nam”. Tiếp đó, trong Hội thảo về sinh thái
cảnh quan (Hà Nội, 1992), ông cùng với Nguyễn Thành Long cũng đánh dấu sự mở
đầu của hướng nghiên cứu sinh thái trong cảnh quan học tại Việt Nam bằng bài viết
“Tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan”. Năm 1994, ông và Huỳnh Nhung
hoàn thành bài viết “Quan niệm về cảnh quan, hệ sinh thái, sự phát triển của cảnh
quan học và sinh thái học cảnh quan” – cho thấy rõ hơn mối quan hệ giữa hai
ngành cảnh quan học và sinh thái học. Cũng trong năm này, ông và Nguyễn Văn
riêng dưới tác động của con người, từ đó đưa ra các giải pháp, các hướng tiếp cận
khoa học tin cậy nhằm sử dụng hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi trường.
Ngoài ra còn có thể kể đến một số công trình khác được thực hiện ở các
vùng, miền của đất nước và đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển
chung của khoa học cảnh quan, ví dụ như: Đoàn Ngọc Nam với “Các thể tổng hợp
địa lí tự nhiên trong cấu trúc cảnh quan ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh và
hướng cải tạo chúng, phục vụ phát triển nông nghiệp” (1991); Nguyễn Thế Thôn
với “Tổng luận phân tích nghiên cứu và đánh giá cảnh quan cho việc quy hoạch và
phát triển kinh tế” (1993) và “Tổng luận phân tích những vấn đề cảnh quan sinh
thái ứng dụng trong quy hoạch và quản lí môi trường” (1995); Trần Văn Thành với
“Phân vùng địa sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười” (1993); Hà Văn Hành
14
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
với "Nghiên cứu và đánh giá tài nguyên phục vụ cho công tác phát triển kinh tế, xã
hội bền vững ở huyện vùng cao a Lưới", Luận án Tiến sĩ (2001); Phạm Thế Vĩnh
với “Nghiên cứu cảnh quan sinh thái dải ven đồng bằng sông Hồng phục vụ cho
việc sử dụng hợp lý lãnh thổ”, Luận án Tiến sỹ Địa lý (2004); Trương Quang Hải
với “Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên và phát triển bền vững vùng núi đá vôi Ninh Bình”, đề tài trọng điểm
cấp ĐHQG Hà Nội (2008),.....
Đó là chưa nói đến một loạt các bản đồ cảnh quan và đánh giá cảnh quan đã
được các nhà cảnh quan học và các nhà địa lí tổng hợp xây dựng nên trong hơn 30
huy thế mạnh của huyện, cải thiện đời sống người dân.
- Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước, Phân tích, đánh giá điều kiện tự
nhiên , địa lý môi trường góp phần định hướng phát triển không gian của Thủ đô
Hà Nội trong đầu thế kỷ 21, Chương trình KX.09.01, 2007. Báo cáo đánh giá các
yếu tố, quá trình biến đổi, đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, môi trường của
Thăng Long - Hà Nội, phân tích tiềm năng, thế mạnh, hạn chế đối với quá trình xây
dựng và bảo vệ Thủ đô, đồng thời đề xuất phương hướng, giải pháp sử dụng hợp lý
và hiệu quả các tiềm năng, lợi thế hiện có. Hướng nghiên cứu của đề tài dựa trên
quan điểm của địa lý tổng hợp, huyện Sóc Sơn thuộc phạm vi nghiên cứu tuy nhiên
không gian nghiên cứu rộng nên mức độ chi tiết đối với khu vực này chưa cao.
- Tập Atlas Thăng Long - Hà Nội, Nhà xuất bản Hà Nội, 2010 do Trương
Quang Hải là tổng chủ biên gồm các bản đồ tự nhiên và kinh tế xã hội của Hà Nội,
trong đó có lãnh thổ huyện Sóc Sơn nhưng chủ yếu ở tỷ lệ trung bình 1/150.000.
Tóm lại, có thể thấy các đề tài nghiên cứu thuộc từng lĩnh vực riêng biệt cho
các mục tiêu ứng dụng cụ thể, chưa thể hiện được các quan điểm nghiên cứu của địa
lí tổng hợp, trong khi một số đề tài nghiên cứu theo hướng địa lý tổng hợp được
thực hiện trên phạm vi không gian rộng do đó, hướng nghiên cứu cảnh quan để
phục vụ mục đích phát triển kinh tế – xã hội cụ thể trên địa bàn huyện Sóc Sơn là
khá mới mẻ.
1.2. Lý luận chung về nghiên cứu cảnh quan
1.2.1. Khái niệm cảnh quan
“Cảnh quan” là thuật ngữ bắt nguồn từ ngôn ngữ Đức – “landschaft”, với
nghĩa là nước, miền, địa phương, khu vực, đã bắt đầu được sử dụng trong các sách
vở địa lí từ năm 1805. Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX thì nền móng
16
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
S.V. Kalesnik quan niệm “Cảnh quan địa lí là một bộ phận nhỏ của bề mặt
định tính khác hẳn với các bộ phận khác được bao bọc bởi những ranh giới tự nhiên
và một sự tập hợp có quy luật và thống nhất trong bản thân nó, được biểu hiện một
cách điển hình trên một không gian rộng lớn và có quan hệ không tách rời về mọi
17
mặt với lớp vỏ địa lí”. Qua đó Kalesnik cho thấy bất kì một cảnh quan nào cũng phải
được coi như là kết quả của sự phát triển và phân dị của lớp vỏ cảnh quan.
N.A. Soltsev dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu thực địa nhiều năm đã đưa ra
định nghĩa : “Cảnh quan địa lí là một tổng thể lãnh thổ tự nhiên đồng nhất về mặt
phát sinh, có một nền địa chất đồng nhất, có một kiểu địa hình, có một khí hậu đồng
nhất, và bao gồm một tập hợp dạng địa lí chủ yếu và thứ yếu liên kết với nhau về
mặt động lực và lặp lại một cách có quy luật trong không gian, tập hợp này chỉ
thuộc riêng cho cảnh địa lí đó”. Định nghĩa này tương đối rõ ràng, cụ thể, xác định
được cấu trúc cảnh quan. Tuy nhiên định nghĩa này chưa thể hiện được mối tương
quan giữa các hợp phần thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật ; chưa nói đến quan hệ giữa
cấp cảnh với cấp lớn hơn.
Theo A.G. Isachenko, “Cảnh quan địa lí là một bộ phận được tách ra trong
quá trình phát sinh của một miền, một đới địa lí, và nói chung là của bất kì đơn vị
lãnh thổ lớn hơn, có đặc điểm đồng nhất cả về mặt địa đới và phi địa đới và có một
cấu trúc viền, một cấu tạo hình thái riêng”. Gần đây, Isachenko nhấn mạnh cảnh
quan là bậc trung tâm trong dãy các hệ địa lí. Nó là khâu kết thúc trong sự phân dị
khu vực, đồng thời là đối tượng khởi đầu để phân tích các quy luật địa lí tự nhiên
địa phương gắn liền với các hoạt động của các nhân tố địa lí trong cảnh quan. Cảnh
quan có tính đồng nhất về các mặt địa đới và phi địa đới biểu hiện trước hết ở sự
thống nhất về nền móng, kiểu địa hình và khí hậu, quy định cả sơ đồ thống nhất về cấu
trúc bên trong của nó. Mặt khác, cảnh quan là một tổng thể phức tạp của các hệ địa lí
địa phương (cảnh khu, cảnh diện) gắn kết với nhau một cách có quy luật, được hình