Nhiễm HIV liên quan đến sức khỏe sinh sản - Pdf 53

Nhiễm HIV liên quan đến sức khỏe sinh sản
NHIỄM HIV LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHOẺ SINH SẢN
Mục tiêu học tập
1. Trình bày 4 đặc điểm khác biệt cơ bản của phụ nữ so với nam giới trong nhiễm HIV.
2. Nêu những điểm khác biệt trong sử dụng thuốc ARV và thuốc phòng nhiễm trùng cơ
hội ở phụ nữ.
3. Trình bày các biện pháp phòng bệnh cho thai nhi khi mẹ bị nhiễm HIV.
Do lây qua đường quan hệ tình dục và từ mẹ sang con, virut HIV ảnh hưởng lớn đến
nhiều mặt của quá trình sinh sản. Phòng nhiễm HIV cho phụ nữ, chăm sóc, theo dõi sức khoẻ
những phụ nữ có thai nhiễm HIV, phòng lây nhiễm cho thai nhi là những biện pháp tích cực để
hạn chế những tác hại của virut HIV lên quá trình sức khoẻ sinh sản.
1. PHỤ NỮ DỄ NHIỄM HIV HƠN NAM GIỚI
Ngoài đường truyền máu và qua các đường tiêm chích tĩnh mạch, không có gì khác biệt
so với nam giới, phụ nữ thường có nguy cơ nhiễm HIV hơn nam giới trong quan hệ tình dục.
Nguy cơ phụ nữ nhiễm HIV từ người bạn tình HIV(+) cao hơn nam giới lây nhiễm từ bạn
tình nữ HIV (+) vì những lý do sau:
1.1 Về giải phẫu và sinh lý
- Cấu trúc giải phẫu và mô học của âm đạo: Virut HIV thường không xuyên qua da
bình thường, nhưng có thể xuyên qua niêm mạc, nhất là những niêm mạc có cấu trúc
lỏng lẻo. Để thích nghi với quá trình sinh sản, cấu trúc âm đạo người phụ nữ có
những tính chất đặc biệt như: có tính đàn hồi rất lớn, cầu nối giữa các tế bào âm đạo
rất rộng. Các tính chất nầy, giúp cho âm đạo có thể dãn kích thước và tiết dịch bôi
trơn, thuận lợi cho quá trình giao hợp và sinh nở, nhưng cũng làm cho các virut, nhất
là HIV dễ xuyên qua niêm mạc âm đạo, vào bên trong cơ thể.
- Trong quá trình giao hợp khác phái, người phụ nữ tiếp xúc với dịch sinh dục của bạn
tình nam với diện rộng: toàn bộ niêm mạc âm đạo (trong khi bộ phận sinh dục nam
chỉ có 1/3 là niêm mạc). Thời gian tiếp xúc cũng dài hơn. Với nam giới, chỉ trong thời
gian quan hệ tình dục; thì với nữ giới, quá trình tiếp nhận dịch sinh dục kéo dài đến
sau quá trình quan hệ do sự lưu giữ tinh dịch. Các biện pháp súc rửa âm đạo sau giao
hợp, không hạn chế được sự lây nhiễm mà ngược lại, có thể làm tăng thêm nguy cơ
lây nhiễm vì làm dễ tổn thương bề mặt âm đạo và HIV dễ xuyên vào trong cơ thể

xã hội khi người phụ nữ nhiễm HIV ít hơn so với nam giới.
Mô hình bệnh nhiễm trùng cơ hội và các biến chứng khác của HIV giữa nam và nữ giới
cũng rất ít khác nhau. Nhiễm nấm Candida thực quản, nhiễm CMV, nhiễm virut Herpes
simplex thường hay gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới. Ngược lại, U Kaposi da rất ít gặp ở nữ
giới, và nếu có, thường là Kaposi nội tạng, hạch bạch huyết, và do đó thường được chẩn đoán
muộn hơn.
3. BỆNH PHỤ KHOA Ở PHỤ NỮ HIV (+)
Loạn sản và ung thư cổ tử cung xâm nhập hay gặp hơn ở phụ nữ HIV(+) so với phụ nữ
(-). Hiện nay, bệnh nầy được xếp như một nhiễm trùng cơ hội của HIV, bản chất do virut
papilloma người (HPVs), trong đó các type 16, 18, 31, 45 chiếm hơn 80% trường hợp.
Nhiễm nấm Candida âm đạo có thể xuất hiện trước Candida miệng, và là một triệu chứng
chỉ điểm của nhiễm HIV nếu dai dẳng, không tự hồi phục, khó điều trị hay tái phát dễ dàng khi
ngưng điều trị.
Từ năm 1993, ung thư cổ tử cung xâm lấn được CDC xếp vào giai đoạn AIDS, trong khi
các bệnh nấm Candida âm đạo, loạn sản cổ tử cung, ung thư cổ tử cung tại chỗ, và các bệnh
nhiễm trùng vùng chậu phụ nữ được xếp vào nhóm B.
4. HIV VÀ THAI NGHÉN
Thật sự thai nghén không đẩy nhanh quá trình tiến triển tự nhiên của HIV, ít nhất là đối
với những thai phụ chưa tiến vào giai đoạn AIDS. Tuy nhiên, nhiễm HIV làm cho nguy cơ
nhiễm trùng trong suốt thai kỳ và trong thời gian chu sinh của thai phụ tăng lên so với người
không nhiễm HIV. Theo dõi và chăm sóc kỹ suốt thai kỳ và trong thời gian chu sinh của thai
phụ nhiễm HIV sẽ khiến quá trình sinh sản diễn ra suôn sẽ như người bình thường, tất nhiên
không kể đến tai biến truyền HIV cho thai nhi.
5. VÁN ĐỀ LÂY TRUYỀN HIV CHO THAI NHI
Người mẹ HIV(+) có thể truyền cho thai nhi qua nhiều thời kỳ khác nhau:
- Suốt trong thời gian thai kỳ.
- Trong thời gian chu sinh
- Sau sinh, trong suốt thời gian cho con bú.
Tỷ lệ truyền HIV cho con khi không có thuốc kháng HIV thay đổi tuỳ theo quốc gia, từ
14-40%. Nguy cơ càng cao khi tình trạng miễn dịch của mẹ càng thấp T CD4(+) thấp, tải lượng

- Cần lưu ý, ở phụ nữ sinh nở nhiều lần, có thể cho phản ứng dương tính giả với các xét
nghiệm ELISA và kết quả không xác định được với xét nghiệm WESTERN-BLOT.
Trong trường hợp nầy cần dựa vào 3 chiến lược tầm soát HIV để xác định. Nếu có
điều kiện, thực hiện xét nghiệm Western Blot với HIV 1 và HIV 2. Xét nghiệm nhiều
lần với kit của nhiều hãng khác nhau, hoặc xử dụng các xét nghiệm tìm trực tiếp HIV
và đếm tế bào T CD4(+) để chẩn đoán.
- Xử dụng thuốc kháng virut HIV: cho đến nay chưa có gì khác biệt so với nam giới.
Theo một số báo cáo thì một số phụ nữ mập phì dùng Zidovudine kéo dài có thể gây
hậu quả hoại tử gan (do nhiễm mỡ) tối cấp. Các thuốc kháng protease thường làm
thay đổi nồng độ thuốc ngừa thai đường uống. Đã có một số báo cáo về tình trạng
nhiễm axít lactic và tử vong tại Hoa kỳ liên quan đến việc sử dụng dd4 và ddi (ức chế
phiên mã ngược nocleosid) trong thời kỳ mang thai. Một số thuốc khác trong nhóm
này (như AZT, 3TC) được cho biết có tác dụng tốt và an toàn. Có mối lo ngại về tình
trạng nhiễm độc gan liên quan đến việc sử dụng neviripine ở những phụ nữ có lượng
CD4 >250, phụ nữ có tiền sử kết quả xét nghiệm chức năng gan cao hơn mức bình
thường, phụ nữ viêm gan B, C. Các ban do Nevirapine gây ra thường gặp nhiều ở phụ
nữ.
- Về các bệnh cơ hội: Phụ nữ nhiễm HIV thường nhiễm Candida thực quản nhiều hơn
nam giới chúng tôi đã lý giải ở trênNhiễm nấm âm đạo có thể đi trước nhiễm nấm
miệng. Cần theo dõi tình trạng cổ tử cung bằng phiến đồ Papanicolaou mỗi 6 tháng.
Nhiễm HIV liên quan đến sức khỏe sinh sản
Nếu âm tính, có thể theo dõi hàng năm. Khi nghi ngờ có thể soi cổ tử cung và sinh
thiết.
- Vấn đề mang thai: Nói chung, phụ nữ nhiễm HIV không nên mang thai, ngay cả khi
đưa thắng tinh trùng vào âm đạo không qua giao hợp (tránh lây cho chồng). Lý do
chính là thai nhi không thể chắc chắn không nhiễm HIV dù có được theo dõi và dùng
thuốc đúng cách. Đến nay, các phương pháp dự phòng cho thai nhi nhiễm HIV khi
mẹ HIV(+) đều không có hiệu quả 100%. Trong những trường hợp rất đặc biệt do tập
quán, văn hóa, tập tục gia đình, người phụ nữ vẫn muốn có con, cần giải thích rất kỹ
về những tai biến và nguy hiểm cho cả mẹ lẫn con. Nếu người phụ nữ chấp nhận thì

số trường hợp, lợi ích của thuốc mang lại cao hơn tai biến do nó đem lại, và cũng có
thể chấp nhận được.
- Lọai X: Tai biến rõ rệt và không nên dùng.
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA THUỐC KHÁNG HIV VÀ THAI NGHÉN
XÁC NHẬN CỦA FD
A
THUỐC KHÁNG HIV DỰ
PHÒNG
DÙNG
CHO
TRẺ
CHO
TRẺ
XẾ
P
QUA
NHA
U
DẠN
G
THU
Nhiễm HIV liên quan đến sức khỏe sinh sản
CHO
THAI

SINH
LỚN LỌ
AI
THAI ỐC
NƯỚ

+
+
+
+
+
+
+
Nhóm ức chế non-nucleoside
Delaviridine (Recriptor)
Nevirapine ( Viramune)
0
0*
0
0
0
0
C
C
?
+
0
+
Ức chế protease
Indinavir (Crixivan)
Nelfinavir (Viracept)
Ritonavir (Norvir)
Saquinavir (Invirase)
0
0
0

- Kể từ tuần thứ 14 trở đi của thai kỳ: dùng Zidovudine (AZT) 100mg x 5 lần/ ngày
(uống) hay 200mg x 3 lần/ ngày hoặc 300 mg x 2 lần/ngày.
- Trong thời gian chu sinh: AZT 2mg/kg tiêm TM, sau đó truyền AZT 1mg/kg/giờ trong
thời gian sinh cho đến khi cặp rốn.. Nếu mổ lấy thai, thuốc được đưa vào 4 giờ trước khi mỗ.
- Với trẻ sơ sinh: Zidovudine elixir, 2mg/kg uống, 4 lần/ ngày. bắt đầu 6 n giờ sau sinh và
tiếp tục đến 6 tuần.
Nhiễm HIV ở phụ nữ thường có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe sinh sản hơn nam giới. Nếu
đã lỡ mang thai, cần lưu ý khi xử dụng các thuốc kháng HIV và các thuốc phòng và điều trị
nhiễm trùng cơ hội. Cần cân nhắc giữa ích lợi và bất lợi cho cả mẹ lẫn con khi quyết định dùng
thuốc. Sử dụng thuốc ARV theo chiến lược của từng quốc gia cho mẹ trong thai kỳ và cho cháu
ngay sau khi sinh đã làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV cho trẻ rất đáng kể, nhưng không triệt tiêu hẳn
nguy cơ này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status