Vận dụng hình thức nêu gơng để giáo dục đạo đức cho
học sinh
Mở đầu
1.Lý do chọn đề tài
1.1 Về mặt lý luận
Chúng ta đều biết rằng nhân loại đã bớc vào thập niên đầu của thế kỷ XXI- thế
kỷ mà tri thức và kỹ năng của con ngời đợc coi là yếu tố quyết định sự phát triển
xã hội. Ngời ta nói nền văn minh của thế kỷ XXI là nền văn minh trí tuệ .
Để có nền văn minh trí tuệ thì nền giáo dục phải đào tạo đợc những con ngời
thông minh, trí tuệ phát triển, sáng tạo và giàu tính nhân văn cho xã hội. Giáo dục
đạo đức, t tởng chính trị là một bộ phận cấu thành quan trọng của quá trình giáo
dục, rèn luyện nhân cách học sinh. Đạo đức đợc coi là nền tảng trong phẩm chất,
nhân cách con ngời, là cái gốc của con ngời việt Nam.
Bác Hồ- ngời thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, ngời cha già của dân tộc đã
dạy: Vì lợi ích mời năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng ngời.
Ngời còn căn dặn: Cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ
trẻ để đào tạo trở thành những ngời kế thừa và xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa
hồng vừa chuyên .
Vâng theo lời dạy của Bác kính yêu, trong nhiều thập kỷ qua Đảng và nhà nớc
ta luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Đặc biệt Nghị quyết Trung ong 2
khoá VIII đã khảng định: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Dới sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam, sự nghiệp giáo dục của Việt Nam đã có
nhiều chuyển biến căn bản cả về số lợng và chất lợng.Tuy nhiên vẫn còn nhiều
bức xúc cần phải đợc quan tâm , chú ý trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo
dục của chúng ta. Một trong những vấn đề đặc biệt cần quan tâm đó là vấn đề đạo
đức của học sinh .Trong một bài phát biểu của phó Chủ tịch nớc Trơng Mỹ Hoa
cũng đã chỉ rõ: Mặc dù đã có những cố gắng và chuyển biến trong công tác
giáo dục chính trị- đạo đức và t tởng Hồ Chí Minh cho học sinh. Tôi đặc biệt
nhấn mạnh điểm này, vì một mặt đậy là vấn đề đông đảo nhân dân ta đang có
nhiều quan tâm, lo lắng trớc những biểu hiện sa sút về đạo đức, về lối sống, về
ý chí rèn luyện phấn đấu vơn lên trong học sinh, sinh viên hiện nay .Các
mới có thể giáo dục trực tiếp cho học sinh những tri thức theo một hệ thống xác
định, toàn diện về thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiến bộ; mới có thể
giúp học sinh hiểu đợc những biểu hiện cụ thể của những chuẩn mực đạo đức,
những kiến thức pháp luật cơ bản, phổ thông, từ đó giúp học sinh có nhận thức
đúng đắn, hành động đúng đắn. Các môn học khác, các hình thức giáo dục khác
không thể thay thế đợc môn GDCD trong việc hoàn thành nhiệm vụ quan trọng
này.
1.2 Về mặt thực tiễn
Giáo dục công dân là một môn học phục vụ công tác giáo dục t tởng, chính trị,
phẩm chất đạo đức, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiến bộ cho học
sinh. Trớc đây môn học này đợc thay thế bằng môn học Đạo đức, Tài liệu giáo
dục công dân .Nó có phần coi nhẹ về những tri thức khoa học của bộ môn. Sự
thiên lệch này đã có ảnh hởng không tốt đến chất lợng giáo dục.
Một thực tế nữa là môn giáo dục công dân trong nhà trờng hầu hết học sinh
quan niệm đây là một môn phụ nên học cũng đợc và không học cũng đợc. Bởi
vậy cũng ảnh hởng rất nhiều đến chất lợng giáo dục đạo đức cho học sinh. Từ
cách nhìn không đúng đắn về vai trò của bộ môn một số học sinh đã có những
suy nghĩ lệch lạc và có những thái độ, hành động không đúng đắn.
Mặt khác việc quan tâm chỉ đạo của một số cán bộ quản lý các trờng là cha
triệt để , cha thấy hết vai trò to lớn của bộ môn giáo dục công dân trong việc hình
thành nhân cách , nâng tầm t tởng, cho các em. Điều đó dẫn đến việc bố trí giáo
viên môn khác dạy sang, giao khoán cho giáo viên bộ môn dạy và kiểm tra, cho
điểm trung bình môn tuỳ ý; có nơi tổ chức cho học sinh học lệch, coi nhẹ , ít đầu
t cả về vật chất lẫn tinh thần. Việc đầu t đồ dùng dạy học, sách tham khảo phục
vụ cho bộ môn ở hầu hết các trờng là rất kém
Đặc biệt trong bối cảnh mới của thời đại, trong cơ chế thị trờng, cùng với sự
bùng nổ thông tin, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thì tri thức của các em
cao hơn, , tiếp thu nhanh nhạy những cái mới của những thói xấu, mắc tệ nạn xã
hội nhanh hơn, nhiều hơn. Những hiện tợng thiếu lễ phép, thiếu tôn trọng thầy cô
giáo, vô ý thức trong quan hệ với ngời khác, thiếu ý chí, dễ bị lôi cuốn, cám dỗ,
* Đối tợng nghiên cứu: Do mục tiêu giáo dục của môn học, việc giảng dạy bộ
môn GDCD cho học sinh THCS có đặc điểm riêng của nó. Bởi vậy đối tợng
nghiên cứu của đề tài này là: Vận dụng hình thức nêu gơng trong bộ môn GDCD
để nâng cao chất lợng giáo dục đạo đức cho học sinh THCS.
*Giới hạn của đề tài: Căn cứ vào những vấn đề lý luận và thực tiễn, căn cứ vào
đối tợng nghiên cứu, đề tài này chỉ đi sâu vào những tri thức cần thiết của các
chuẩn mực đạo đức, pháp luật, văn hoá- xã hội trong giao tiếp và trong hoạt động
( học tập, lao động, hoạt động tập thể, vui chơi giải trí ) nhằm h ớng vào mục
tiêu giáo dục cho HS các chuẩn mực của ngời công dân ở mức độ phù hợp với lứa
tuổi.
4. phơng pháp nghiên cứu
Do đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội , khoa học giáo dục cho nên đã quán
triệt sâu sắc và đầy đủ quan điểm duy vật và biện chứng với các phơng pháp cụ
thể sau:
- Phơng pháp quan sát, phỏng vấn.
- Phơng pháp điều tra thống kê xã hội học
- Nghiên cứu các sản phẩm: Tài liệu, báo cáo, giáo án, vở ghi của học sinh
Hoàng Thị Tiêng Trờng THCS Cao Minh
- 3 -
Vận dụng hình thức nêu gơng để giáo dục đạo đức cho
học sinh
- Phân tích, tổng hợp
Tất cả các phơng pháp đó đợc vận dụng cùng với việc quán triệt sâu sắc quan
điểm duy vật biện chứng chủ nghĩa Mác- lênin và t tởng Hồ Chí Minh.
5. Cấu trúc của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, kết luận , phụ lục đề tài gồm 3 chơng
sau:
Chơng 1 Những vấn đề lí luận về dạy-học môn GDCD ở trờng THCS
Chơng 2 Thực trạng việc giáo dục đạo đức HS ở các trờng THCS
chuẩn mực đã học
Về thái độ
- Có thái độ đúng đắn, rõ ràng trớc các hiện tợng, sự kiện đạo đức, pháp luật,
văn hoá trong đời sống hàng ngày; có tình cảm trong sáng, lành mạnh đối
với mọi ngời, đối với gia đình, nhà trờng, quê hơng đất nớc.
- Có niềm tin vào tính đúng đắn của các chuẩn mực đã học và hớng tới
những giá trị xã hội tốt đẹp.
- Có trách nhiệm đối với hành động của bản thân; có nhu cầu tự điều chỉnh,
tự hoàn thiện để trở thành một chủ thể xã hội tích cực, năng động.
2/ Yêu cầu chung của chơng trình môn giáo dục công dân THCS
Một trong những yêu cầu của môn GDCD ở trờng THCS là thông qua ch-
ơng trình, nội dung, cách dạy, hình thành ở học sinh tình cảm, niềm tin đạo
đức và pháp luật. Trên cơ sở nhận thức cảm tính mà giúp HS chuyển sang
nhận thức lí tính; Từ t duy cảm xúc( nhận biết bằng trực quan) chuyển dần
sang nhận thức bằng t duy duy lí( có phân tích cơ sở khoa học của các sự kiện,
hiện tợng). Có nh vậy mới hình thành ở học sinh động cơ bên trong, tạo ra
niềm tin, giúp các em tự hoàn thiện, tự điều chỉnh mình để vơn tới cái chân,
thiện, mĩ trong cuộc sống. Tức là các em phải có ý thức tự giác, chủ động th-
ờng xuyên rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức.Từ đó có nhu cầu chia sẻ,
giúp đỡ ngời khác, đặc biệt là bạn bè trong lớp, trong trờng, ở công cộng cùng
thực hiện các chuẩn mực đó một cách tự nguyện. Đồng thời học sinh phải tự lí
giải đợc cho bản thân và giải thích cho ngời khác hiểu đợc ý nghĩa của các
Hoàng Thị Tiêng Trờng THCS Cao Minh
- 5 -
Vận dụng hình thức nêu gơng để giáo dục đạo đức cho
học sinh
chuẩn mực đạo đức, quy phạm pháp luật và có những hành vi phù hợp ; có ý
chí, nghị lực vợt khó để thực hiện theo các yêu cầu của xã hội, của cộng đồng,
của nhà trờng và những mong muốn chính đáng của bản thân đặt ra. Đây là
các phơng pháp truyền thống( diễn giảng, đàm thoại, trực quan, kể
chuyện ) và vận dụng linh hoạt các ph ơng pháp có khả năng phát huy
tính tích cực hoạt động của học sinh nh: Thảo luận nhóm, đóng vai, tổ chức
chơi trò chơi, giải quyết vấn đề, thiết kế đề án, xác định giá trị cần sử
dụng hợp lý hình thức học cá nhân, theo nhóm, theo lớp dạy trong lớp,
ngoài trờng
Đặc biệt kết hợp hệ thống phơng pháp giáo dục đạo đức với phơng
pháp dạy học.Có rất nhiều phơng pháp dạy học, mỗi phơng pháp mang những
u thế riêng trong việc phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy-
Hoàng Thị Tiêng Trờng THCS Cao Minh
- 6 -
Vận dụng hình thức nêu gơng để giáo dục đạo đức cho
học sinh
học môn GDCD. Do vậy trong quá trình giảng dạy ngời giáo viên sử dụng một
hệ thống các phơng pháp dạy học bộ môn bao gồm:
a/ Phơng pháp kích thích t duy
- Kích thích t duy là một kĩ thuật dạy học của giáo viên, dựa vào những hiểu
biết sẵn có của HS, đặt ra một hệ thống câu hỏi gợi mở kích thích để học
sinh liên tởng giữa điều đã biết với thực tiễn, hình thành ở các em ý tởng
mới,đề xuất cách giải quyết những mâu thuẫn để HS hiểu các vấn đề đạo
đức, pháp luật.
b/ Phơng pháp thảo luận nhóm
- Phơng pháp thảo luận nhóm là một cách thức tổ chức dạy học, trong đó
giáo viên chia học sinh thành các nhóm thảo luận những vấn đề GV đặt ra.
- Đây là một phơng pháp đợc sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho HS tham gia
một cách chủ động vào quá trình học tập, học sinh có thể chia sẻ kinh
nghiệm , ý kiến hay để giải quyết một vấn đề, một tình huống đạo đức,
pháp luật nào đó
c/ Phơng pháp đóng vai
Vận dụng hình thức nêu gơng để giáo dục đạo đức cho
học sinh
tối u nhất, nghĩa là nó mang tính tổng thể, khái quát nhất, bao quát nhất của
môn học về tri thức và tâm lý lứa tuổi, phải căn cứ vào thực tiễn nhằm đạt đợc
hiệu quả giáo dục cao nhất. Điều đó còn phụ thuộc vào bàn tay lành nghề của
mỗi giáo viên . Bởi lẽ, đối với môn GDCD từ tri thức đến niềm tin và từ niềm
tin đến hành động thực tế là một quá trình. Nó phải trải qua một cuộc đấu
tranh giữa các ý muốn khác nhau và chỉ khi nào cuộc đấu tranh đủ mạnh thì
ngời hành động không làm trái với những tri thức đợc giáo dục.Cho nên việc
giảng dạy GDCD không chỉ dừng lại ở việc trang bị tri thức mà còn phải kích
thích học sinh tìm tòi, khám phá, đấu tranh vì đạo đức, vì niềm tin, kích thích
học sinh vận dụng tri thức đã học vào hành động thực tiễn .Chỉ có qua hành
động , qua vận dụng thì tri thức mới trở nên bền vững, mới sâu sắc và phát
triển, niềm tin mới đợc củng cố. Chính vì thế trong mỗi giờ công dân ngời
giáo viên cần biết vận dụng nêu các tấm gơng đạo đức mẫu mực để góp phần
điều chỉnh hành vi, đạo đức cho các em.
Chơng 2
Thực trạng việc giáo dục đạo đức học sinh
ở trờng THCS
1/ Thực trạng đạo đức học sinh THCS
Chúng ta đều nhận thấy cơ chế thị trờng và sự không ổn định của xã hội,
những yếu tố khách quan đã tác động tiêu cực đến quá trình rèn luyện đạo đức
của một số học sinh. Trong những năm gần đây số học sinh chậm tiến, cá biệt,
hay nói một cách khác là học sinh cha ngoan trong rèn luyện đạo đức có phần
gia tăng.
Số học sinh này thờng xuyên vi phạm các nội quy của lớp, của trờng nh :
đến trờng không đúng trang phục quy định, không chịu làm bài tập, học bài
cũ, đi học muộn, vô lễ với các thầy cô giáo. Có những hành vi xấc xợc, chọc
tức với bạn bè, ngời đi đờng và ngay cả đối với thầy cô giáo.
- Có những trò tinh quái, trêu chọc bạn bè, có phản ứng quyết liệt khi chúng