VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LỆ HẰNG
NGỮ ÂM TIẾNG LỘC HÀ – HÀ TĨNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------
NGUYỄN THỊ LỆ HẰNG
NGỮ ÂM TIẾNG LỘC HÀ - HÀ TĨNH
Ngành:
Ngôn ngữ học
Mã số:
9.22.90.20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
1.3 Các hướng tiếp cận nghiên cứu phương ngữ hiện nay ......................... 30
1.4. Cơ sở nhận diện, miêu tả phương ngữ, thổ ngữ ................................... 36
1.4.1 Ngữ âm học (phonetics) ................................................................. 36
1.4.2 Âm vị học (phonology) .................................................................. 40
1.4.3 Âm tiết và các thành tố cấu tạo âm tiết tiếng Việt ......................... 41
1.5 Vài nét về vùng đất Lộc Hà .................................................................. 43
1.5.1 Đặc điểm lịch sử - xã hội vùng đất Lộc Hà ................................... 44
1.5.2 Tiếng Lộc Hà................................................................................. 44
CHƯƠNG II. ĐẶC ĐIỂM PHỤ ÂM ĐẦU TIẾNG LỘC HÀ ................. 46
2.1 Dẫn nhập ............................................................................................... 46
2.2 Mô tả đặc điểm ngữ âm các phụ âm đầu tiếng Hà Nội ......................... 51
2.3 Mô tả đặc điểm ngữ âm các phụ âm đầu tiếng Hà Tĩnh ....................... 52
2.4 Mô tả đặc điểm ngữ âm các phụ âm đầu tiếng Lộc Hà ........................ 53
CHƯƠNG III. ĐẶC ĐIỂM VẦN TIẾNG LỘC HÀ ................................. 72
1
3.1 Dẫn nhập ............................................................................................... 72
3.2 Mô tả đặc điểm ngữ âm vần Lộc Hà ..................................................... 76
3.2.1 Đặc điểm các loại vần không có âm đệm ...................................... 79
3.2.2 Đặc điểm các loại vần có âm đệm................................................ 102
CHƯƠNG IV. ĐẶC ĐIỂM THANH ĐIỆU TIẾNG LỘC HÀ .............. 108
4.1 Dẫn nhập ............................................................................................. 108
4.1.1. Nhận xét chung về thanh điệu tiếng Việt .................................... 108
4.2.1 Hệ thống thanh điệu Thịnh Lộc ................................................... 117
4.2.2 Hệ thống thanh điệu An Lộc ........................................................ 120
4.2.3 Hệ thống thanh điệu Thạch Kim .................................................. 122
4.2.4 Hệ thống thanh điệu Thạch Châu................................................. 124
4.3 Khái quát hệ thống thanh điệu các thổ ngữ Lộc Hà............................ 127
4.4 So sánh hệ thống thanh điệu tiếng Lộc Hà với tiếng Hà Tĩnh, Tiếng Nghĩa
dB
: deciBel
ĐĐT
: điểm điều tra
GTTB
: giá trị trung bình
GTTBTĐ
: giá trị trung bình tương đối
Hz
: Hert
LH
: luồng hơi
ms
: Milisecond
NNTD
tr.
: trang
3
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt
Bảng 2.2. Hệ thống phụ âm đầu tiếng Hà Nội
Bảng 2.3. Hệ thống phụ âm đầu tiếng Hà Tĩnh (vùng TTTP)
Bảng 2.4. Hệ thống phụ âm đầu tiếng Lộc Hà
Bảng 2.5. So sánh các thông số âm học của 3 loại phụ âm /d/, // và /z/
Bảng 3.1. Danh sách các vần mở tiếng Lộc Hà
Bảng 3.2. Đặc điểm ngữ âm của các vần mở tiếng Lộc Hà
Bảng 3.3. Thực trạng và các biến thể vần mở không có âm đệm tại Lộc Hà
Bảng 3.4. Thực trạng và các biến thể vần nửa mở không âm đệm của tiếng Lộc Hà
Bảng 3.5. Các vần nửa khép không có âm đệm trong tiếng Lộc Hà
Bảng 3.6. Tình hình phát âm các vần nửa khép không âm đệm tại các ĐĐT ở Lộc
Hà
Bảng 3. 7. Danh sách các vần khép không âm đệm trong tiếng Lộc Hà
Bảng 3.8. Các biến thể vần khép không âm đệm trong tiếng Lộc Hà
Bảng 3.9. Thực trạng phát âm các vần mở có âm đệm của tiếng Lộc Hà
Bảng 3.10. Thực trạng và các biến thể vần nửa mở có âm đệm của tiếng Lộc Hà
Bảng 3.11. Danh sách các vần nửa khép có âm đệm trong tiếng Lộc Hà
Bảng 3.12. Tình hình phát âm các vần nửa khép có âm đệm ở các ĐĐT huyện Lộc
Hà - Hà Tĩnh
Bảng 3.13. Các vần khép có âm đệm trong tiếng LH-HT
Bảng 3.14. Tình hình phát âm các vần khép có âm đệm ở Lộc Hà
5
DANH MỤC HÌNH
Hình 0.1. Máy ghi âm số chuyên dụng ZOOM H2N
Hình 0.2. Các thông số âm học của thanh điệu tiếng Lộc Hà bằng chương trình WIN
CECIL
Hình 0.3. Các thông số âm học của các từ (âm tiết) tiếng Thịnh Lộc được phân tích
bằng chương trình SA
Hình 0.4. Các thông số âm học của các âm tiết tiếng Thịnh Lộc được phân tích
bằng chương trình PRAAT
Hình 2.1. Dạng sóng âm giữa phụ âm /b/ và //
Hình 2.2. Phụ âm // trong âm tiết ba /a/
Hình 2.3. Dạng sóng âm, cường độ, phổ đồ và ảnh phổ phụ âm // trong âm tiết /a/
Hình 2.4. Dạng sóng âm, cường độ, phổ đồ và ảnh phổ nửa đầu âm tiết /da/
Hình 2.5. Dạng sóng âm, ảnh phổ với cấu trúc formant của 3 phụ âm /d/, // và / z /
tiếng Việt
1
3
Hình 2.6. Dạng sóng âm, ảnh phổ, cường độ của các âm tiết /a/, /a/, /sa/
Hình 2.7. Dạng sóng âm, cường độ và ảnh phổ của phụ âm /Ɂ/ trong âm tiết ăn
Hình 2.8. Dạng sóng âm, F0, cường độ, ảnh phổ của nửa đầu âm tiết /Ɂɛƞ/
Hình 3.1 Thông số âm học của vần không có âm đệm /-an/ trong âm tiết LAN /lan/
so sánh với vần có âm đệm /-wan/ trong2từ LOAN4/lwan/
Hình 3.2. Dạng sóng âm, diễn tiến formant thứ nhất (F1) và thứ 2 (F2) âm tiết BÈ
Hình 3.3. Dạng sóng âm, cường độ, diễn tiến F1 và F2 của âm tiết CỎ
Hình 3.4. Thông số âm học của từ “anh”
Hình 4.12. Đồ thị 5 thanh điệu phương ngữ Bắc Trung Bộ
Hình 4.13. Đồ thị F0 các thanh điệu tiếng Nghĩa Đàn
Hình 4.14. Đặc trưng âm học của 5 thanh tiếng Nghĩa Đàn (Nghệ An) được phân
tích theo chương trình PRAAT
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1. Hệ thống thanh điệu tiếng Hà Nội
Sơ đồ 4.2. Đồ thị F0 5 thanh điệu tiếng Hà Tĩnh (vùng trung tâm - thành phố Hà
Tĩnh)
Sơ đồ 4.3. Hệ thống thanh điệu Thịnh Lộc
MỞ ĐẦU
7
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay, tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất trên mọi miền đất nước
từ Bắc tới Nam, từ miền xuôi lên miền ngược. Đặc điểm này rõ ràng là một lợi thế,
không phải đất nước nào, ngôn ngữ nào cũng có được. Bên cạnh tính thống nhất đó
còn tồn tại những khác biệt. Sự khác biệt nằm ngay trong các phương ngữ ở mỗi vùng
miền khác nhau tạo nên tính đa dạng của tiếng Việt. Chúng ta vẫn thường nghe nói
tiếng Hà Nội, tiếng Nghệ Tĩnh, tiếng Huế, tiếng miền Nam, tiếng Nghi Lộc (Nghệ
An) hay tiếng Hội An (Đà Nẵng) ... v.v, tất cả đều nhằm biểu hiện sự khác nhau trong
cách nói, đặc trưng ngôn ngữ của mỗi vùng, miền. Đó là sự khác nhau về tiếng nói,
cách nói của mỗi vùng, mỗi địa phương mà chúng ta thường quen gọi là phương ngữ
(dialect), phương ngôn hay thổ ngữ (patois). Có thể xác định ranh giới phương ngữ
nhưng rất khó để chúng ta có thể thống kê tiếng Việt có bao nhiêu thổ ngữ và cách
phân định ranh giới của chúng.
Lộc Hà là một địa phương có giọng nói khá đặc biệt trong tương quan với
tiếng Việt toàn dân và phương ngữ Nghệ Tĩnh nói chung. Nét đặc biệt của tiếng Lộc
Với các mục đích trên, luận án đặt ra các nhiệm vụ sau:
- Tiến hành điều tra điền dã thu thập tư liệu ngữ âm một số thổ ngữ tiêu biểu
trên địa bàn huyện Lộc Hà.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu ngữ âm các thổ ngữ Lộc Hà
- Phân tích tư liệu ngữ âm tiếng Lộc Hà: a) Phân tích bằng cảm thụ thính giác
các đặc điểm ngữ âm – âm vị học các thổ ngữ Lộc Hà; b) Phân tích bằng các phần
mềm máy tính đặc điểm ngữ âm - âm vị học các thổ ngữ Lộc Hà;
- Miêu tả hệ thống ngữ âm phụ âm đầu, hệ thống vần và hệ thống thanh điệu
các đặc điểm ngữ âm - âm vị học của các thổ ngữ Lộc Hà.
- Xác định các đặc điểm giống và khác nhau giữa hệ thống phụ âm đầu, vần
các thổ ngữ Lộc Hà trong hệ thống ngôn ngữ toàn dân và PNNT.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống ngữ âm tiếng Lộc Hà - Hà Tĩnh
ở ba phần: Hệ thống phụ âm đầu, hệ thống vần và hệ thống thanh điệu.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu ngữ âm tiếng Lộc Hà - Hà Tĩnh ở một số thổ
ngữ tiêu biểu trên địa bàn huyện Lộc Hà, cụ thể ở đây là các xã: An Lộc, Thịnh Lộc,
Thạch Châu, Thạch Kim. Sở dĩ chúng tôi chọn các điểm điều tra nghiên cứu như vậy
bởi đây được cho là bốn xã có những đặc điểm ngữ âm đặc trưng đại diện cho vùng
địa lí gần biển và xa biển dựa trên cảm nhận thính giác của người dân địa phương,
9
của người nghiên cứu cũng như dựa trên các tư liệu nghiên cứu từ trước về phương
ngữ Nghệ Tĩnh.
- Địa điểm điều tra
Địa điểm điều tra (ĐĐT), gồm 4 điểm là các địa bàn: xã An Lộc, xã Thịnh
Lộc, xã Thạch Kim và xã Thạch Châu.
Hình 0.1. Máy ghi âm số chuyên dụng ZOOM H2N
Chúng tôi sử dụng máy ghi âm số chuyên dụng: ZOOM H2N của hãng ZOOM
JAPAN. Mẫu ghi âm 41.100 Hz, 16 bit. Các file ghi âm có dạng wav.
4.2 Phương pháp phân tích các đơn vị âm thanh bằng các chương trình bằng máy
tính
Tư liệu ghi âm được phân tích những đặc điểm ngữ âm bằng các chương trình
máy tính sau:
- Chương trình WIN CECIL: Chương trình do tổ chức SIL Hoa Kỳ thực hiện.
WIN CECIL có thể phân tích được các thông số âm học của các yếu tố ngôn điệu
ngôn ngữ. Chương trình này đặc biệt thích hợp để nghiên cứu thanh điệu và ngữ
điệu trong các ngôn ngữ đơn lập đơn tiết như tiếng Việt. Trong luận án này chúng
tôi sử dụng chương trình WIN CECIL để phân tích và miêu tả các thông số âm học
của hệ thống thanh điệu các thổ ngữ Lộc Hà .
Hình 0.2. Các thông số âm học của thanh điệu tiếng Lộc Hà bằng
chương trình WIN CECIL
11
1
4
2
5
3
thống phụ âm đầu, vần và thanh điệu trong tiếng Lộc Hà.
- Chương trình PRAAT phiên bản 6.0.35 (16/10/2017): Chương trình PRAAT
cho phép chúng ta phân tích, miêu tả theo định lượng các thông số âm học của các
đơn vị chiết đoạn và siêu đoạn lời nói. Dưới đây là các thông số âm học của các âm
tiết tiếng Thịnh Lộc được phân tích bằng chương trình PRAAT.
13
Hình 0.4. Các thông số âm học của các âm tiết tiếng Thịnh Lộc được phân
tích bằng chương trình PRAAT
1
2
1. Hình 1: Dạng sóng âm và các đường sọc chỉ các xung thanh môn.
2. Hình 2: Ảnh phổ , F0, Cường độ, cấu trúc formant (F1, F2, F3).
Trong luận án này chúng tôi phân tích hệ thống vần thanh điệu các thổ ngữ
Lộc Hà theo các thông số âm học (định lượng) F0 tính bằng tấn số thanh cơ bản tính
bằng Hezt (Hz), trường độ tính bằng ms (mili giây= 0,001ms), cường độ tính bằng
dB, Formant tính bằng Herzt (Hz).
4.3. Phương pháp miêu tả ngữ âm - âm vị học
Phương pháp miêu tả ngữ âm - âm vị học áp dụng các thao tác cơ bản trong
miêu tả các đặc điểm cấu âm và âm học hệ thống phụ âm đầu, vần, thanh điệu các thổ
ngữ tiếng Lộc Hà.
4.4. Phương pháp so sánh lịch sử
Trong luận án, chúng tôi áp dụng các thao tác phân tích, đối chiếu về mặt lịch
đại của phương pháp so sánh lịch sử để miêu tả hệ thống thanh điệu các thổ ngữ Lộc
Hà trong quan hệ với thanh điệu tiếng Việt toàn dân và các thổ ngữ Nghệ Tĩnh về mặt
Chương IV. Đặc điểm thanh điệu tiếng Lộc Hà, Hà Tĩnh
15
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt
Phương ngữ (PN) tiếng Việt đã được nhiều học giả, nhà nghiên cứu ngoài và
trong nước quan tâm đến từ lâu. Ngay những năm đầu thế kỉ XX đã có nhiều công
trình nghiên cứu tập trung vào PN tiếng Việt và những vấn đề liên quan đến phương
ngữ tiếng Việt (PNTV). Một trong những vấn đề nổi bật mà hầu như nhà nghiên cứu
nào cũng quan tâm đến đầu tiên khi nghiên cứu về PNTV, đó là vấn đề miêu tả đặc
điểm các phương ngữ và phân vùng các phương ngữ tiếng Việt ở Việt Nam.
1.1.1 Đối với các nghiên cứu của học giả nước ngoài
Đối với các học giả nước ngoài, chúng tôi thấy trong các công trình nghiên cứu
của họ nổi lên có ba mục tiêu tiếp cận (khuynh hướng) chủ yếu sau:
a) hướng nghiên cứu tập trung vào vấn đề phân chia các vùng phương ngữ của tiếng
Việt; b) hướng nghiên cứu PN gắn với việc tìm hiểu lịch sử và tiến trình phát triển
của tiếng Việt, và c) hướng nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu đặc điểm ngữ âm, từ
vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp của các PN, thổ ngữ tiếng Việt ở những vùng, miền khác
nhau trên lãnh thổ Việt Nam.
Với hướng nghiên cứu tập trung vào vấn đề phân vùng các PNTV có thể coi
L. Cadière (Pháp) là một trong những người đầu tiên quan tâm đến phương ngữ tiếng
Việt và vấn đề phân vùng PNTV. Trong công trình Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ
miền thượng Trung kỳ và phương ngữ miền hạ Trung kỳ, 1902), mặc nhiên ông đã
phân PNTV thành bốn (04) vùng phương ngữ: phương ngữ miền thượng Trung kỳ
được ông phân định từ phía bắc tỉnh Nghệ An đến Huế; còn phương ngữ hạ Trung kỳ
kéo dài từ đèo Hải Vân đến nam Bình Thuận. Hai vùng còn lại là phương ngữ Bắc kỳ
những hiện tượng mà người ta đã nhận thấy trong chính các phương ngữ tiếng Trung.
H. Maspero, trong Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt: các âm đầu đã sử
dụng một nguồn tư liệu hết sức đa dạng, gồm các PN tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng
Mường, tiếng Hán, tiếng Môn - Khme. Ông còn sử dụng tư liệu chữ Nôm trong từ
điển “Việt- Bồ - La” của A. de. Rhodes (1651). Sau khi phân tích, ông đã đi đến kết
luận: “Tiếng tiền Việt đã sinh ra từ sự hòa đúc của một ngôn ngữ Môn-Khme, một
phương ngữ Thái và có thể của cả một ngôn ngữ thứ 3 còn chưa biết, rồi sau đó tiếng
Việt đã mượn một số rất lớn những từ tiếng Hán. Nhưng, cái ngôn ngữ mà ảnh hưởng
quyết định đã tạo cho tiếng Việt trạng thái hiện đại của nó là chắc chắn theo ý kiến
tôi, một ngôn ngữ Thái, và tôi nghĩ rằng tiếng Việt phải được qui vào họ Thái”. Ý
kiến này đã được sự ủng hộ của W. Schmidt (1926); H.J. Pinnow (1963), v.v…
17
A.G. Haudricourt trong 2 bài báo Vị trí của Tiếng Việt trong các ngôn ngữ
Nam Á (1953), và Về nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt (1954), đã chứng minh ngược
lại ý kiến của H. Maspero, và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ xác đáng, thuyết phục về
nguồn gốc họ Nam Á của tiếng Việt. Quan điểm này, về sau được S.E. Yakhontov (1969,
1973) và M. Ferlus (1975, 1979) củng cố thêm.
Còn đối với hướng nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu đặc điểm ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp của các phương ngữ, thổ ngữ tiếng Việt ở những vùng, miền khác
nhau trên lãnh thổ Việt Nam thì nhìn chung, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung
vào ngữ âm và một vài địa hạt liên quan đến từ vựng, hầu như rất ít có công trình nào
tìm hiểu địa hạt ngữ pháp. Cụ thể:
Đối với phương ngữ Bắc, các nghiên cứu tập trung chủ yếu về ngữ âm tiếng
Việt nói chung nhưng lấy cách phát âm của Hà Nội làm đối tượng miêu tả và xem
tiếng Hà Nội là đại diện cho ngôn ngữ toàn dân. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này
là các công trình của T.T. Mkhitarian (1959) trong Ngữ âm tiếng Việt, Thompson
(1959) trong Ngữ pháp tiếng Việt; Sampson & Geoffrey (1969) trong Nghiên cứu hệ
(Nghệ An); Andre Hoa Phạm (2005) nghiên cứu thanh điệu Nghi Lộc (Nghệ An);
Honda Koichi (2006, 2008) nghiên cứu Fo và thức tạo thanh trong tiếng Nghệ Tĩnh
ở khu vực bờ sông Lam, v.v…
Đối với phương ngữ Nam, các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nước
ngoài tập trung chủ yếu vào tiếng Sài Gòn, Đà Nẵng và những thành phố lớn.
Thompson (1959) miêu tả âm vị tiếng Sài Gòn trong Saigon Phonemics. Bằng việc
khảo sát và phân tích lời nói của các cộng tác viên có trình độ Trung học phổ thông,
ông đã khái quát hệ thống âm vị tiếng Sài Gòn gồm 22 phụ âm đầu (PÂĐ); có sự khác
biệt giữa hệ thống nguyên âm (NÂ) đôi và vần so với tiếng Hà Nội. Công trình này,
tiếp tục được ông nghiên cứu và phát triển trong A Vietnamese Grammar (1965) về
cách phát âm một số từ địa phương; ranh giới các vùng PNTV, đặc điểm ngữ âm của
PN Bắc, Trung và Nam và một số đặc điểm ngữ âm của tiếng Đà Nẵng, Sài Gòn, Trà
Vinh, v.v… Còn M.V. Gordina (1965) đã chọn nghiên cứu hệ thống thanh điệu tiếng
Đà Nẵng bằng phương pháp phân tích thực nghiệm trong The System of tones of the
Danang dialect of Vietnam. Công trình này về sau (1976), được tác giả và cộng sự
I.S. Bustrov nghiên cứu khá kĩ; tiếp đó, Shimizu Masaki (2013) nghiên cứu về tiếng
Quảng Nam, trong công trình Vị trí của tiếng Quảng Nam trong quá trình biến đổi
âm cuối gốc lưỡi. Bằng việc khảo sát từ hai góc độ, cả lịch đại và đồng đại, tác giả
cho rằng, tiếng Quảng Nam được coi như là đang ở giai đoạn giữa của chính tả tiếng
Việt hiện nay và phương ngữ Nam bộ, v.v.…
Những năm gần đây, các công trình nghiên cứu PN tập trung vào hướng cộng
đồng sử dụng theo cách tiếp cận của các tác giả thuộc trường phái biến thể học như
W. Labov (1972); R. Lakoff (1974); R. Fasold (1974); P. Trudgill (1986). Hướng
19
nghiên cứu này đề cập đến mặt xã hội của PN cũng như ảnh hưởng của các nhân tố
xã hội đối với ngôn ngữ nói chung và PN nói riêng. Một mặt, cho thấy được đặc điểm
ngôn ngữ của PN; mặt khác cũng cho thấy sự ảnh hưởng của nhân tố xã hội đối với
20
- Phương ngữ Nam, gồm từ đèo Hải Vân trở vào
Ngoài ra, ở mỗi phương ngữ lại có thể có các thổ ngữ, biệt ngữ dựa trên đặc
điểm ngôn ngữ của từng vùng
b. Nghiên cứu phương ngữ gắn với việc tìm hiểu lịch sử tiếng Việt. Các tác
giả tiêu biểu: Trần Trí Dõi (1991); Võ Xuân Trang (1997); Nguyễn Văn Nguyên
(2003); Nguyễn Văn Lợi (2009),… v.v. Mục đích nghiên cứu của các tác giả và những
công trình này là thông qua việc tìm hiểu PN nhằm tìm ra các cứ liệu mang dấu vết
cổ của tiếng Việt hiện còn lưu giữ ở các PN, thổ ngữ, biệt ngữ để bổ sung chứng cứ
cho nghiên cứu lịch sử tiếng Việt. Cụ thể Trần Trí Dõi, từ nghiên cứu thanh điệu khu
vực Cửa Lò, Nghệ An đã chỉ ra có sự tương ứng giữa thanh điệu Cửa Lò và các ngôn
ngữ Việt – Mường; Nguyễn Văn Lợi dựa trên tư liệu thanh điệu ở Xứ Đoài (cụ thể
vùng Thạch Thất, Hà Nội) cho thấy quá trình tiếp xúc và mối quan hệ giữa thanh điệu
tiếng Việt và tiếng Mường…v.v. Có thể thấy, đây là những nguồn tư liệu hết sức quí
góp phần khẳng định về nguồn gốc thuộc nhóm Việt – Mường của tiếng Việt, mà
A.G. Haudricour đã đưa ra phản bác lại ý kiến của H. Maspero về xung quanh nguồn
gốc của tiếng Việt.
c. Nghiên cứu phương ngữ gắn với yêu cầu chuẩn hóa tiếng Việt. Các tác
giả tiêu biểu: Nguyễn Trí Niên và Nguyễn Phan Cảnh (1961), Hoàng Phê (1975);
Nguyễn Thiện Chí (1981); Trương Văn Sình (1981); Nguyễn Văn Ái (1981), Phạm
Văn Hảo (1981); Hồng Dân (1981); Vũ Bá Hùng (1994)…v.v. Mục đích nghiên cứu
của các tác giả theo hướng này là tìm hiểu và chỉ rõ những sự khác biệt giữa PN và
ngôn ngữ toàn dân; tư vấn, đưa ra ý kiến trong việc sử dụng đúng, chính xác các yếu
tố tích cực của PN phục vụ yêu cầu chuẩn hóa, thúc đẩy công cuộc giữ gìn sự trong
sáng của tiếng Việt; góp phần hình thành cơ sở cho việc đề ra chiến lược chung trong
chính sách giáo dục ngôn ngữ…
d. Nghiên cứu phương ngữ gắn với các vấn đề của đời sống: báo chí, văn
học, nhà trường, sân khấu, điện ảnh… Các tác giả tiêu biểu: Ngô Ngọc Bích Tiên
Đối với phương ngữ Trung: Các tác giả tiêu biểu: Phạm Văn Hảo (1991);
Võ Xuân Quế (1993); Võ Xuân Trang (1997); Hoàng Trọng Canh (2001);
Nguyễn Văn Lợi (2002); Nguyễn Văn Nguyên (2003); Trần Trí Dõi (2007),
v.v.…Các nghiên cứu theo hướng này đã chứng minh và cho thấy: phương ngữ
Trung được xem là phương ngữ còn bảo lưu nhiều dấu vết cổ của có liên quan
đến lịch sử Tiếng Việt; đồng thời đã cung cấp một bức tranh khái quát về đặc
điểm ngữ âm, từ vựng của các phương ngữ Trung từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên
Huế; phương pháp nghiên cứu đã có sự kết hợp đồng đại/lịch đại; cảm thụ thính
giác/ thực nghiệm… khá tin cậy… v.v.
Đối với phương ngữ Bắc: Các tác giả tiêu biểu: Vũ Bá Hùng (1980); Hoàng
Cao Cương (1986); Nguyễn Văn Lợi & J. Edmondson (1997); Trần Thị Thìn (1981);
22