Luận văn thạc sỹ - Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh Thủ Đô - Pdf 53

MỤC LỤC
2.1.3.1. Tình hình huy động vốn...............................................................................................................37
2.1.3.2. Tình hình hoạt động cho vay.......................................................................................................41
2.1.3.3. Tình hình hoạt động dịch vụ........................................................................................................42
2.1.3.4. Kết quả kinh doanh......................................................................................................................43


DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
2.1.3.1. Tình hình huy động vốn...............................................................................................................37
2.1.3.2. Tình hình hoạt động cho vay.......................................................................................................41
2.1.3.3. Tình hình hoạt động dịch vụ........................................................................................................42
2.1.3.4. Kết quả kinh doanh......................................................................................................................43


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và
chủ yếu trong nền kinh tế. Theo đó, loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan
trọng, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động nguồn
lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo... Theo Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam, đến 31/12/2015, cả nước có khoảng trên 500.000 DNNVV,
chiếm hơn 97% số lượng doanh nghiệp, về lao động hàng năm tạo thêm trên nửa triệu
lao động mới, sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP, 30% tổng
thu ngân sách nhà nước, 25% kim ngạch xuất khẩu,...
Quyết định số 1231/QĐ-TTg ngày 7/9//2012 của Chính phủ phê duyệt Kế
hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ lần thứ hai xác định mục tiêu tổng quát
nhằm: “đẩy nhanh tốc độ phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
nhỏ và vừa, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh để các doanh

trọng dư nợ cho vay đối với DNNVV còn thấp, trong khi tỷ lệ nợ quá hạn đang có xu
hướng gia tăng; quy trình thủ tục cho vay còn rườm rà, phức tạp; hình thức cho vay
còn đơn điệu, việc tiếp cận phát triển cho vay DNNVV còn bi động;…
Xuất phát từ những lý do trên và thực tiễn hoạt động cho vay đối với DNNVV
tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thủ Đô, đề tài “Chất
lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn - Chi nhánh Thủ Đô” được Học viên lựa chọn làm đề tài luận
văn thạc sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có nhiều nghiên cứu về tín dụng ngân hàng đối với DNNVV trên nhiều khía
cạnh khác nhau về các sản phẩm tín dụng, loại hình tín dụng, hiệu quả của tín dụng
ngân hàng, mức độ phụ thuộc của DNNVV vào tín dụng ngân hàng,… trong các điều
kiện kinh tế khác nhau. Các đề tài nghiên cứu việc phát triển tín dụng đối với DNNVV
luôn được quan tâm và đến nay vẫn mang tính thời sự cấp bách, cần tiếp tục hoàn thiện
các luận cứ khoa học và thực tiễn. Hiện nay, rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về chủ đề
này tại các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng khác nhau. Một số công trình nghiên cứu
có đề cập trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại đối
với DNNVV:


3
- Luận án tiến sỹ của tác giả Võ Đức Toàn (2012), Tín dụng đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh”, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài đã nghiên cứu và hệ thông
hóa lý thuyêt về DNNVV, phân tích tổng quan về DNNVV tại Việt Nam cũng như
thành phố Hồ Chí Minh qua các số liệu thống kê và chính sách của Nhà nước với các
DNNVV. Từ đó, tác giả cũng đưa ra được những khuyến nghị, giải pháp nhằm khắc
phục những hạn chế và phát huy tối đa những ưu điểm, góp phần mở rộng và nâng cao
chất lượng tín dụng tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Phương “Nâng cao chất lượng cho vay đối

và những vướng mắc trong việc huy động vốn, điều hành và hoạt động của quỹ.
- Bài viết “Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận hiệu quả nguồn vốn tín
dụng ngân hàng” của tác giả Nguyễn Thị Hiên, tạp chí Tài chính số kỳ 1, tháng
11/2017. Tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm giúp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng của ngân hàng một cách hiệu quả.
- Bài viết “Một số vấn đề về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại” của tác
giá Nguyễn Thị Kim Nhung và cộng sự, tạp chí Tài chính kỳ 1, tháng 12/2017.
Bài viết đề cập đến vấn đề rủi ro của hoạt động tín dụng của ngân hàng, đây là
hoạt động cơ bản và đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng thương mại, tuy nhiên
vấn đề mà các ngân hàng thương mại đang phải đối mặt là rủi ro tín dụng đó là tổn thất
tài chính và giảm giá trị thị trường của vốn ngân hàng, thậm chí thua lỗ. Tác giả đã đề
xuất một số giải pháp nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng trong đó có hoạt động cho vay.
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề cho vay, rủi ro tín dụng,
chất lượng cho vạy của các ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên,
chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị, đặc biệt đối với Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - chi nhánh Thủ Đô.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu:
Nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - chi nhánh Thủ Đô.
3.2. Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng và chất
lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại trong nền
kinh tế thị trường.


5
- Phân tích thực trạng chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh Thủ Đô.
- Đề xuất giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cho vay đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh Thủ Đô
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh
Thủ Đô.


7

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Một số vấn đề về cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân
hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Mỗi nền kinh tế đều có sự tham gia hoạt động của nhiều doanh nghiệp với
nhiều loại hình, quy mô và lĩnh vực khác nhau. Nếu xét theo quy mô doanh nghiệp,
chúng ta sẽ phân biệt thanh doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các quốc gia,
các nền kinh tế khác nhau, hoặc trong từng giai đoạn của nền kinh tế, việc định nghĩa
DNNVV thường không có tính chất cố định. Các tiêu chuẩn phân biệt mang tính định
tính như trình độ quản lý, trình độ chuyên môn hóa, máy móc công nghệ, sức cạnh
tranh trên thị trường,…có ưu điểm là phản ánh đúng thực trạng của doanh nghiệp
nhưng lại mang tính chất chủ quan, khó xác định chính xác. Chính vì thế người ta
thường sử dụng các tiêu chí định lượng: vốn điều lệ, số lao động làm thuê và doanh


5

Đài Loan

6

Nam Phi
Chi Lê và
Colombia

7

Quan niệm về DNNVV
- Doanh nghiệp sản xuất: Dưới 100 lao động
- Doanh nghiệp phi sản xuất: Dưới 20 lao động
- Doanh nghiệp sản xuất: Dưới 300 lao động hoặc vốn góp dưới
100 triệu JPY
- Doanh nghiệp bán lẻ - dịch vụ: Dưới 50 lao động hoặc vốn
góp dưới 10 triệu JPY
- Doanh nghiệp nhỏ: Dưới 100 lao động
- Doanh nghiệp vừa: Từ 101 – 499 lao động
Dưới 500 lao động
- Ngành công nghiệp, xây dựng: Vốn góp dưới 40 triệu NT$ và
dưới 300 lao động.
- Ngành khai khoáng: Vốn góp dưới 40 triệu NT$ và dưới 500
lao động.
- Ngành thương mại, vận tải và các dịch vụ khác: Vốn góp dưới
40 triệu NT$ và dưới 50 lao động.
Dưới 500 lao động

Tổng
nguồn vốn
Từ 20 tỷ

Số lao động

Tổng nguồn vốn

từ trên 10 người

Từ trên 20 tỷ

đồng trở

đến dưới

vốn

động

Dưới 3 tỷ

10 người

đồng

trở xuống

Dưới 3 tỷ


Khu vực
I. Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
II. Công
nghiệp và xây
dựng

Doanh nghiệp vừa

xuống

Số lao
động
Không

đồng đến không quá 200

100 người
quá 100 tỷ đồng
từ trên 10 người Từ trên 20 tỷ

người
Không

đến dưới

đồng đến không quá 200

100 người



10
1.1.1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ nhất, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Mục đích chính của các doanh nghiệp là lợi ích kinh tế mà họ thu được. Tuy
nhiên, sự ra đời của các doanh nghiệp sẽ giải quyết vấn đề việc làm cho không ít người
lao động. Với nhu cầu về việc làm lớn đặc biệt đối với các quốc gia đông dân chỉ các
doanh nghiệp lớn thôi chưa thể tạo đủ việc làm cho lực lượng này. Các DNNVV ra đời
đã phần nào giảm bớt gánh nặng thất nghiệp cho xã hội. Vì hoạt động trong nhiều lĩnh
vực nên các doanh nghiệp này có thể sử dụng lao động ở mọi trình độ, vì vậy những
người có trình độ chuyên môn không cao vẫn có thể tìm được việc làm thích hợp với
khả năng của mình.
Thứ hai, góp phân tăng trưởng kinh tế và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Từ khi ra đời, các DNNVV đã khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
kinh tế trong dân cư, hoạt động của các DNNVV thực sự đã góp một phần không nhỏ
vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh đó, các DNNVV còn giữ
một vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển những làng nghề truyền thống
nhằm giữ được những nét văn hóa truyền thống trong tiến trình hội nhập vào nền kinh
tế thế giới.
Đóng thuế là trách nhiệm của mọi công dân, tổ chức và doanh nghiệp, thuế là
nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, là nguồn để chi trả lợi ích chung của xã
hội. Do đó, sản xuất kinh doanh phát triển tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Thứ ba, tạo môi trường cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Với đặc trưng về nguồn vốn và quy mô lao động, các DNNVV có khả năng
chuyển đổi nhanh chóng mặt hàng kinh doanh, chuyển hướng sản xuất và đổi mới
công nghệ cho phù hợp với sự biến động của môi trường kinh doanh. Như vậy, các
DNNVV đã làm cho nền kinh tế trở nên năng động hơn. Thực tế cho thấy, tốc độ gia
tăng các DNNVV lớn hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp lớn và đương nhiên khi
càng có nhiều doanh nghiệp ra đời thì tính cạnh tranh của thị trường càng được tăng

xuyên là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, làm
nhiệm vụ chiết khấu và là trung gian thanh toán của nền kinh tế. Hoạt động cho vay ra
đời sớm nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của NHTM và quen thuộc
nhất với những người sử dụng vốn vay từ ngân hàng. Hoạt động cho vay là hoạt động
sinh lời nhất của ngân hàng nhưng đồng thời cũng là hoạt động đem lại nhiều rủi ro
nhất. NHTM khi cho khách hàng vay vốn sẽ thu được một khoản lợi nhuận từ lãi tiền


12
vay mà khách hàng trả. Tuy nhiên, ngân hàng cũng phải đối mặt với những rủi ro về
lãi suất, về thanh khoản, về kỳ hạn,… mà nếu không có những biện pháp quản lý phù
hợp, ngân hàng sẽ bị thiệt hại thậm chí phá sản.
Hoạt động cho vay đã xuất hiện từ lâu. Tín dụng cho vay là một phạm trù kinh
tế gắn với kinh tế hàng hóa. Thực chất tín dụng cho vay là hoạt động vay mượn tiền tệ
có hoàn trả cả vốn vài lãi theo kỳ hạn. Nghiên cứu nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ
nghĩa, Các Mác cho rằng: Tín dụng cho vay là bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức
tiền tệ mà người sở hữu nó (nhà tư bản cho vay) nhường cho người khác (nhà tư bản đi
vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, nhằm thu thêm một khoản tiền lời nhất
định gọi là lợi tức.
Theo khoản 16, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: “Cho vay
là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản
tiền để sử dụng với mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có
hoàn trả cả gốc và lãi”.
Như vậy, có thể hiểu cho vay của NHTM đối với DNNVV là một hình thức tín
dụng, theo đó NHTM giao cho DNNVV một khoản tiền trong một thời hạn nhất định
để sử dụng vào một mục đích nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc
và lãi.
1.1.2.2. Đặc điểm cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa
Thứ nhất, cho vay của NHTM đối với DNNVV đa dạng về hình thức tổ chức,

nghiệp lớn có cùng dư nợ.
Thứ ba, các khoản vay phục vụ cho đổi mới công nghệ tại DNNVV chiếm tỷ
trọng lớn.
Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm có
chất lượng với chi phí thấp. Để đạt được thành công trong thị trường đầy cạnh tranh,
doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng phải thường xuyên ứng dụng các khoa
học công nghệ hiện đại. Đa số DNNVV chưa tham gia được nhiều vào chuỗi giá trị
toàn cầu, trình độ khoa học công nghệ và năng lực đổi mới trong DNNVV của Việt Nam
còn thấp. Rất nhiều DNNVV ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại đều gặp khó khăn về
mặt chi phí, nhận thức, nguồn nhân lực. Trên thực tế, năng lực tài chính của DNNVV còn
hạn chế nên chi phí để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến gặp
nhiều khó khăn. Hơn thế, các nhà quản lý của DNNVV cũng không chú trọng đến việc


14
đào tạo kiến thức và kỹ năng cho người lao động tiếp cận với công nghệ hiện đại nên hiệu
quả sản xuất chưa cao. Một điểm yếu nữa của DNNVV là các nhà quản lý doanh nghiệp
vẫn chưa đủ kinh nghiệm nên vẫn thường gặp trường hợp mua phải dây chuyền công
nghệ đã lỗi thời. Vấn đề trên có tác động lớn đến hiệu quả hoạt động của DNNVV từ đó
ảnh hưởng đến khả năng thu hồi các khoản vốn cho vay của NHTM cũng như tính rủi ro
có thể gặp phải xuất phát từ nhu cầu và thực tế đổi mới công nghệ của DNNVV.
Thứ tư, năng lực tiếp cận chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế của chủ
DNNVV còn hạn chế.
Vấn đề này phần nào phản ánh độ rủi ro và an toàn của vốn cho vay của NHTM
đối với DNNVV. Các DNNVV còn chưa tiếp cận được hiệu quả trong quá trình hội
nhập quốc tế. Để từng bước phù hợp với các cam kết của Việt Nam, Nhà nước đã ban
hành một loạt các chính sách pháp luật, có thể nói hệ thống chính sách pháp luật ngày
càng hoàn thiện. Tuy nhiên, năng lực tiếp cận với các văn bản này của DNNVV còn
nhiều hạn chế. Việc tiếp cận hạn chế này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả chủ quan
và khách quan, về khách quan do nội tại nền kinh tế như cải cách thủ tục hành chính

thiết bị. Nguồn vốn cho vay của NHTM là một kênh cung cấp vốn quan trọng cho các
doanh nghiệp nói chung và cho DNNVV nói riêng. Hoạt động cho vay của NHTM
giúp DNNVV huy động được vốn để tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, nâng
cao khả năng cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nhờ vào việc dùng
nguồn vốn vay đầu tư vào máy móc thiết bị, cơ sở vật chất, hoạt động của DNNVV sẽ
hiệu quả hơn.
Thứ nhất, nguồn vốn vay của NHTM là một kênh cung cấp vốn quan trọng cho
các DNNVV.
Trong các nguồn huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các
DNNVV thì nguồn vốn ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất. Phần lớn DNNVV là
thiếu vốn, trình độ sản xuất công nghệ thường yếu kém,… nên nhu cầu đối với nguồn
vốn vay ngân hàng để đầu tư sản xuất theo chiều sâu hay mở rộng quy mô hoạt động
sản xuất kinh doanh càng bức thiết. Muốn đầu tư vào chiều sâu, doanh nghiệp dựa trên
nguồn vốn tích lũy nội bộ cần một thời gian dài, trong khi đây là yêu cầu bức thiết đặt
ra cho mỗi doanh nghiệp. Ngoài ra, nhu cầu vay vốn để DNNVV mở rộng hoạt động
sản xuất kinh doanh như: mua mới trang thiết bị, mở rộng nhà xưởng, tăng số lượng
lao động,… là rất lớn so với khả năng tài chính của doanh nghiệp. Và nhu cầu này có
thể được đáp ứng băng cách sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng. Chính nhờ vào đặc


16
tính linh hoạt của các khoản vay mà đây là kênh huy động vốn hữu hiệu cho các
DNNVV với thời hạn: ngắn hạn trung hạn, dài hạn có thể đáp ứng được mọi nhu cầu
vay vốn của khách hàng DNNVV. Bên cạnh đó, phạm vi cho vay của các NHTM còn
được mở rộng với mọi ngành, mọi lĩnh vực. Do khối lượng tín dụng lớn nên lãi suất
cho vay của NHTM thường cạnh tranh hơn các nguồn vốn khác mà DNNVV có thể
huy động được. Trên đây là các cơ sở để khối DNNVV coi vốn vay từ NHTM là
nguồn cung cấp vốn quan trọng cho doanh nghiệp của mình.
Thứ hai, hoạt động cho vay của NHTM thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nâng cao
hiệu quả của DNNVV.

doanh nghiệp cung cấp ra thị trường. Với nguồn vốn vay từ NHTM, các DNNVV có thể sử
dụng một cách linh hoạt để thực hiện các dự án đầu tư vào máy móc công nghệ, đào tạo
nâng cao tay nghề công nhân,… để từ đó tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm,
tạo sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Hàng hóa được thị trường, người tiêu dùng chấp
nhận tạo cho DNNVV chỗ đứng và khẳng định uy tín trên thị trường.
Uy tín của DNNVV còn thể hiện thông qua mối quan hệ với ngân hàng. Các
NHTM thường muốn có các khách hàng trung thành, và ngược lại các DNNVV cũng
muốn là khách hàng lâu dài, thường xuyên của ngân hàng. Điều này không những giúp
DNNVV được hưởng những chính sách ưu đãi khi vay vốn cũng như sử dụng các dịch
vụ khác của NHTM mà còn giúp nâng cao uy tín của doanh nghiệp trong mắt của ngân
hàng, các tổ chức tín dụng, các khách hàng làm ăn của doanh nghiệp đó. Uy tín của
DNNVV sẽ bị giảm sút nếu như không hoàn trả, hoàn trả không đầy đủ, trả chậm các
khoản vay vốn.
1.2. Lý luận về chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của
ngân hàng thương mại
1.2.1. Quan niệm chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của
ngân hàng thương mại
Chất lượng cho vay đối với DNNVV của NHTM được hiểu là ngân hàng đáp
ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu vay vốn hợp lý của các DNNVV, phù hợp với khả năng
của ngân hàng và đảm bảo cho ngân hàng thu hồi vốn và lãi theo đúng kỳ hạn.
Khách hàng đưa vào quá trình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ,… tạo ra số tiền
lớn hơn hoàn trả được ngân hàng cả gốc lẫn lãi đúng hạn, đồng thời khách hàng vay có
thể trang trải đủ chi phí và có lợi nhuận, khối lượng sản phẩm hàng hóa hữu ích cung
cấp cho xã hội tăng. Kết quả là vốn vay ngân hàng tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội.
Tóm lại chất lượng cho vay chính là hiệu quả mà việc cho vay đem lại, là khả năng thu


18
hồi lại đầy đủ cả gốc và lãi vay đúng hạn. Chất lượng cho vay được nhìn nhận dưới
các góc độ kinh tế khác nhau: từ phía khách hàng, từ phía ngân hàng và từ phía nền

19
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ở nước ta, một khoản cho vay có chất lượng cao phải
đáp ứng yêu cầu lành mạnh hóa, phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển
theo định hướng của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ góp phần khai thác có hiệu
quả các nguồn lực quốc gia. Sự tăng trưởng cho vay phải phù hợp với tốc độ phát triển
kinh tế, giữ vững ổn định vĩ mô.
Qua việc đánh giá chất lượng cho vay từ các góc độ khác nhau ta thấy, chất
lượng cho vay là một chỉ tiêu tổng hợp, vừa mang tính trừu tượng vừa mang tính cụ
thể. Vì nó không chỉ thể hiện qua các chỉ tiêu định tính như kết quả cho vay, doanh số
cho vay, tỷ lệ nợ xấu,… mà còn thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, mức độ
thỏa mãn, tác động tới nền kinh tế,… Hiểu đúng bản chất, phân tích, đánh giá đúng
thực trạng về chất lượng cho vay giúp cho các ngân hàng đưa ra được các giải pháp
quản lý thích hợp, làm cho hệ thống ngân hàng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ
mô, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.
Một cách khái quát nhất, chất lượng cho vay chính là sự đáp ứng nhu cầu khách
hàng một cách hợp lý, hướng tới sự an toàn và phát triển của ngân hàng và toàn bộ nền
kinh tế. Đối với các DNNVV, chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại cũng bao
gồm vào các yếu tố cấu thành trên.
1.2.2. Các yếu tố cấu thành chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa của ngân hàng thương mại
1.2.2.1. Khả năng NHTM đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa
Nguồn vốn thể hiện sức mạnh tài chính của mỗi ngân hàng. Quy mô vốn
NHTM lớn, cơ cấu ổn định sẽ cho phép các NHTM có thể theo đuổi một cơ cấu cho
vay hợp lý và có khả năng phát triển hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, trong
đó có mở rộng cho vay với các thành phần kinh tế về cả quy mô, khối lượng cho vay
và chủ động thời hạn vay cũng như lãi suất cho vay. ```Để đáp ưng nhu cầu vay vốn
của các khách hàng nói chung và các DNNVV nói riêng, các NHTM phải có kế hoạch
huy động vốn để cho vay, NHTM có thể huy động vốn từ các nguồn sau:
Vốn chủ sở hữu, vốn chủ sở hữu của NHTM là vốn tự có thuộc sở hữu riêng của

vay. Do đó, nguồn vốn huy động được dồi dào và bền vững thì mới đảm bảo hoạt động
cho vay được tiến hành thuận lợi và an toàn, hoạt động cho vay nhờ đó cũng được mở
rộng. Ngược lại, nếu khả năng cung cấp nguồn vốn vay của NHTM hạn chế, không
đáp ứng được nhu cầu vay vốn của DNNVV, hoạt động cho vay của NHTM sẽ diễn ra


21
không thuận lợi, thậm chí sẽ không diễn ra. Có thể thấy, quy mô nguồn vốn quyết định
lớn đến hoạt động của NHTM, trong đó có hoạt động cho vay đối với DNNVV.
Do đó, NHTM cần chú trọng đến công tác huy động vốn để đảm bảo khả năng
cung cấp nguồn vốn vay, đáp ứng nhu cầu của các DNNVV. Một mặt giúp DNNVV
sản xuất kinh doanh, một mặt giúp NHTM tăng doanh thu, mở rộng và nâng cao chất
lượng hoạt động cho vay.
1..2.2.2. Quy trình thủ tục cho vay của ngân hàng thương mại
Thứ nhất, trên cơ sở pháp lý, hoạt động cho vay có chất lượng phải chấp hành
pháp luật của Nhà nước, cao nhất là luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, các
văn bản chỉ đạo của Chính phủ và của ngân hàng nhà nước và các văn bản pháp luật có
liên quan.
Thứ hai, trên cơ sở quy chế cho vay của ngân hàng thương mại, hoạt động cho
vay có chất lượng luôn phải tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ cho vay. Từ
những đặc điểm riêng có của mình, hầu hết các ngân hàng đều nghiên cứu và đưa ra
các quy chế cho vay phù hợp nhất. Cụ thể là các ngân hàng đưa ra các khái niệm, quy
định và các quy trình và các hướng dẫn cụ thể dành cho cán bộ ngân hàng. Các quy
định trong quy trình cho vay được áp dụng cụ thể cho từng trường hợp xin vay ở mỗi
ngân hàng thương mại là nhằm thực hiện việc cho vay có chất lượng. Do vậy, việc
tuân thủ những quy trình là tiền đề của chất lượng cho vay.
Thứ ba, trên cơ sở hợp đồng cho vay, khi tiến hành hoạt động cho vay, ngân
hàng và khách hàng sẽ lập nên một hợp đồng tín dụng. Trong hợp đồng tín dụng, sẽ
quy định chi tiết về các yếu tố quan trọng như thời hạn vay, mục đích sử dụng, số tiền
vay, phương thức trả nợ, trả lãi,… và được thể hiện ở những cam kết. Một khoản vay

hàng trong quá trình thẩm định, đánh giá về năng lực tài chính thực sự của khách hàng.
Năng lực tài chính của DNNVV là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định
đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả thì tình
hình tài chính sẽ vững mạnh từ đó mới có thể đáp ứng được yêu cầu và có thể tiếp cận
được nguồn vốn của NHTM. Bên cạnh đó, các DNNVV muốn vay vốn NHTM thì
phải đảm bảo là có một phần vốn tự có nhất định tham gia vào dự án, phương án sản xuất
kinh doanh. Chính vì vậy, nếu năng lực tài chính không mạnh, vốn sở hữu thấp nhưng nhu
cầu đầu tư lớn khiến DNNVV khó có thể tiếp cận được nguồn vốn vay của NHTM khiến
hoạt động cho vay của NHTM khó có thể mở rộng và nâng cao chất lượng.
- Các ngành nghề hoạt động của DNNVV mà ngân hàng cho vay: DNNVV tồn


23
tại dưới nhiều ngành nghề, lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch
vụ,… Xem xét trên từng thời kỳ khác nhau, ngân hàng có thể xem xét ra quyết định có
nên phát triển cho vay với các lĩnh vực hoạt động nào của DNNVV.
- Các loại hình DNNVV mà ngân hàng cho vay: DNNVV tồn tại dưới các loại
hình như công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã,
doanh nghiệp tư nhân,… Ngân hàng có thể mở rộng hoạt động cho vay đến mọi loại
hình doanh nghiệp chứ không nên tập trung vào một lại doanh nghiệp nào đó. Điều
này cũng là một trong những giải pháp phân tán rủi ro, đảm bảo an toàn vốn cho vay.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.3.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho các DNNVV
- Số lượng DNNVV được cho vay: Đây là yếu tố đầu tiên cho thấy NHTM đang
thực hiện mở rộng cho vay đối với khách hàng. Sự tăng trưởng của số lượng khách
hàng có quan hệ vay tại NHTM đó cho thấy chính sách mở rộng khách hàng đồng thời
cho thấy hiệu quả thu hút khách hàng. Cụ thể, chỉ tiêu này thể hiện qua:
+ Mức tăng (giảm) số lượng khách hàng (Các DNNVV được cho vay):
Mức tăng (giảm)



Số lượng DNNVV được cho vay

X 100%
(DNNVV)
Tổng số KH có quan hệ tín dụng với NH
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh khách hàng là các DNNVV chiếm bao nhiêu

phần trăm trong tổng số khách hàng có quan hệ vay vốn tại ngân hàng. Nếu tỷ trọng
này tăng tức ngân hàng đang mở rộng cho vay đối với DNNVV. Nếu tỷ trọng này giảm
thì ngân hàng đã hạn chế cho vay đối với DNNVV; hoặc mức mở rộng cho vay với



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status