TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----- -----
KHƯƠNG HỒNG NƯƠNG
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG
CỦA TẬP ĐOÀN FLC
HÀ NỘI – 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
2
----- -----
KHƯƠNG HỒNG NƯƠNG
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG
CỦA TẬP ĐOÀN FLC
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ KINH TẾ
MÃ SỐ: 8310102
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN KHÁNH HƯNG
HÀ NỘI – 2018
2
dựng cùng với sự phát triển của du lịch.
Trong xu hướng toàn cầu hóa, tiến trình hội nhâp quốc tế sâu, rộng như hiện
nay thì du lịch đang trở thành nhịp cầu kết nối, giải quyết những bất đồng về ngôn
ngữ, văn hóa và tôn giáo của các dân tộc trên toàn thế giới. Qua các thời kỳ khác
nhau, du lịch dần thay đổi về hình thức và ngày càng trở nên đa dạng, nhiều loại
hình du lịch đã xuất hiện đáp ứng cho mọi nhu cầu xã hội như: Du lịch sinh thái,
du lịch mạo hiểm, du lịch khám phá, teambuilding, du lịch tâm linh, du lịch lịch
sử, du lịch Golf, du lịch nghỉ dưỡng... Du lịch đã và đang thu hút được sự quan tâm
của rất nhiều người trên thế giới, nhiều quốc gia, các công ty đã tổ chức hoạt động
kinh doanh và nhiều hình thức khác nhau đáp ứng nhu cầu du lịch của con người
trong những điều kiện tốt nhất.
Với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, xu hướng tự động
hóa trong sản xuất kinh doanh đã và đang thay thế con người trong nhiều lĩnh
vực, sức lao động được giải phóng, tài chính tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi
cho du lịch trở thành một hoạt động phổ biến với ý nghĩa là sự giải trí, thư giãn
và đặc biệt với du lịch nghỉ dưỡng hơn hết là một phương thuốc công hiệu giúp
con người tránh khỏi được những căng thẳng của cuộc sống hiện đại nhằm tái
tạo sức lao động.
Tại Việt Nam, ngành du lịch đã được Đảng và Chính phủ xác định là ngành
kinh tế mũi nhọn, du lịch đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xã hội trong
5
6
nhiều năm qua. Ngày 22/01/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 201/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030 và theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017
của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp tỷ
trọng lớn trong GDP, tạo tiền đề cho các ngành khác cùng phát triển, đưa kinh tế
đất nước đi lên.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục đích của luận văn:
Đánh giá thực trạng về du lịch nghỉ dưỡng của Tập đoàn FLC và đề xuất
các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chiến lược phát triển du lịch nghỉ dưỡng
tại Tập đoàn FLC.
2.2. Nhiêm vụ nghiên cứu:
− Thu thập và tổng hợp tài liệu về du lịch nghỉ dưỡng.
− Đánh giá thực trạng phát triển du lịch nói chung, du lịch nghỉ dưỡng
nói riêng tại Tập đoàn FLC.
− Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch nghỉ dưỡng tại Tập đoàn FLC.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu:
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch nghỉ dưỡng tại FLC.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
− Khái quát tình hình phát triển du lịch nghỉ dưỡng ở trong nước trong thời gian gần
đây.
− Đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh loại hình du lịch nghỉ dưỡng của Tập
đoàn FLC trong thời gian qua. Xét về mọi mặt hoạt động của Tập đoàn, tính khả
thi của Tập đoàn khi kinh doanh loại hình nghỉ dưỡng này trong thời gian gần và
tương lại.
− Đưa ra các giải pháp kinh doanh hiệu quả loại hình nghỉ dưỡng cho Tập đoàn trong
thời gian tới các.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các dữ liệu thứ cấp được lấy từ Tập đoàn FLC, Tổng cục Du lịch, Các công
ty lữ hành, Sách, tạp chí tham khảo, Internet và các nguồn tài liệu đáng tín cậy. Sử
dụng các tài liệu sơ cấp và thứ cấp, phân tích và phân loại theo yêu cầu của từng
hạng mục trong đề tài theo hướng tư duy logic. Sử dụng bản đồ và các công cụ
có tính thời vụ và thời gian lưu trú của du khách dài nên đòi hỏi phải có cơ sở phục
vụ tốt.
1.1.3.2. Căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm du lịch
a. Du lịch nghỉ dưỡng biển
Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với biển, thuận lợi cho việc tổ chức
các hoạt động tắm biển, thể thao biển (bóng chuyền bãi biển, lướt ván,…). Loại
hình du lịch này có tính mùa rất rõ nên nó thường được tổ chức vào mùa hè với
nhiệt độ nước biển và không khí trên 20 độ. Nếu bờ biển ít dốc, môi trường sạch
đẹp thì khả năng thu hút khách càng lớn. Ví dụ: du lịch Nha Trang, Vũng Tàu,
Phan Thiết, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Hải Phòng…
b. Du lịch nghỉ dưỡng núi
Du lịch núi là loại hình du lịch gắn liền với cảnh quan hùng vĩ và khí hậu
trong lành của núi rừng. Đây là loại hình du lịch có thể phát triển quanh năm,
thuận lời để tổ chức nghỉ mát vào mùa hè ở các nước xứ nóng và nghỉ đông ở các
nước xứ lạnh với các hoạt động thể thao mùa đông (trượt tuyết, trượt băng). Ví dụ:
du lịch Đà Lạt, Bà Nà, Tam Đảo, Yên Bái, Hà Giang, Sapa,…
c. Du lịch thôn quê
Du lịch thôn quê là loại hình du lịch gắn với những đồng quê có cảnh
quan yên bình, không gian thoáng đãng và có môi trường trong lành. Vì vậy, sự
hấp dẫn của nó đối với người dân ở đô thị, nhất là các đô thị lớn ngày càng
tăng. Về với thôn quê, du khách sẽ cảm nhận được những tình cảm chân thành,
mến khách, được thư giãn, được tìm thấy cội nguồn của mình, được thưởng
thức các món ăn dân dã đầy hương vị. Ví dụ: Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng,
Tây Nguyên…
1.1.4. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh du lịch nghỉ dưỡng
11
12
Hiện nay xu thế khách đi du lịch nghỉ dưỡng thay đổi thay vì đi tham
13
doanh đa dạng cho phù hợp với các đối tượng khác nhau.
Hình thức tổ chức kinh doanh: các khu du lịch nghỉ dưỡng với nhiều hình
thức sở hữu của các cá nhân trong nước, theo hình thức cổ phẩn, liên doanh nước
ngoài hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Việc chính sách của Nhà nước tập
trung phát triển ngành du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, mở cửa hội nhập, giao
lưu, học hỏi chia sẻ kinh nghiệm tạo điều kiện cho những tập đoàn chuyên kinh
doanh du lịch nghỉ dưỡng đem tới kinh nghiệm tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp,
sáng tạo, đổi mới có thể áp dụng tại Việt Nam.
Cơ sở vật chất kỹ thuật: do các khu du lịch nghỉ dưỡng được xây dựng ở
các vùng biển hoặc các nơi có tài nguyên du lịch nên kiến trúc của các khu resort
thường là các khu nhà thấp tầng, mang tính gần gũi với môi trường, gần gũi với
thiên nhiên nhưng vẫn đảm bảo tới sự sang trọng, tiện nghi. Diện tích các du lịch
nghỉ dưỡng thường từ 1 hécta tới 40 hécta và diện tích ngày càng được mở rộng vì
đặc trưng của khu resort thường là các khu vực có không gian rộng rãi trong đó
diện tích xây dựng thường chiếm tỷ lệ nhỏ.
Cách thức tổ chức quản lý: thường áp dụng theo tiêu chuẩn của các tập
đoàn nước ngoài, trong đó một số khu du lịch nghỉ dưỡng đã áp dụng bộ phận
chuyên trách quản lý công tác môi trường.
Chất lượng lao động: hầu hết các khu du lịch nghỉ dưỡng là cơ sở hạng cao
sao nên chất lượng tuyển chọn người lao động được chú trọng nhằm đảm bảo chất
lượng dịch vụ của cơ sở.
Tuỳ vào đặc trưng của địa điểm kinh doanh, các khu du lịch nghỉ dưỡng sẽ
được thiết kế theo những điểm đặc thù để tạo nên điểm cuốn hút riêng biệt, không
trùng lặp. Đó là một trong những đặc điểm nổi trội của các khu du lịch nghỉ dưỡng
ở Việt Nam. Với sự đa dạng bản sắc dân tộc, những nét văn hoá đặc trưng vô cùng
phong phú của mỗi vùng miền, là điều kiện lý tưởng để các chủ đầu tư khai thác,
xây dựng ý tưởng cho du lịch nghỉ dưỡng của mình.
nhà nước về du lịch sớm hoàn chỉnh bộ tiêu chuẩn xếp hạng đối với resort.
1.2. Phát triển hoạt động kinh doanh du lịch nghỉ duỡng
1.2.1. Khái niệm
Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự
vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời
của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về
14
15
lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi
chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn.
Phát triển du lịch bền vững được định nghĩa tại Khoản 14 Điều 3 Luật Du
lịch 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Theo đó:
Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các
yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể
tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du
lịch trong tương lai. Hay nói một cách đơn giản nhất, du lịch được coi là phát triển
bền vững khi nền du lịch đó tốt cho đất nước lúc này và còn bền vững dài lâu mai
sau. Tiêu chí căn bản để đánh giá sự phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn
định; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống. Quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững được khẳng định tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững,
tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường”. Quan điểm này được tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng: “Phát triển nhanh đi đôi với nâng cao tính bền
vững, hai mặt tác động lẫn nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm
ngắn hạn và dài hạn. Tăng trưởng về số lượng phải đi đôi với nâng cao chất lượng,
Hiện có khoảng trên dưới 200 khu và một nửa trong số đó tập trung tại Phan
Thiết, Khánh Hòa còn lại rải rác ở Đà Lạt, Vũng Tàu, Phú Quốc, Côn Đảo. Miền
Bắc chủ yếu tập trung ở những nơi nhiều danh thắng như Sapa, Tam Đảo, Hạ
Long, Cát Bà, Thanh Hóa. Miền Trung nhiều nhất ở Đà Nẵng, Hội An, một ít ở
Quảng Bình, Thừa Thiên – Huế, Bình Định.
Do ngày ngày phải đối mặt với những nguy cơ đến từ cuộc sống như môi
16
17
trường ô nhiễm, thiếu năng lượng, stress công việc nên nhu cầu về một kỳ nghỉ
tại những khu nghỉ dưỡng cao cấp, đầy đủ tiện nghi đang dần là tất yếu trong đời
sống ngày càng cao và là nhu cầu không thể thiếu của cuộc sống hiện đại ngày
nay. Một phần cũng bởi các khu nghỉ dưỡng không chỉ đẹp về cảnh quan, ấn
tượng bởi hệ thống dịch vụ hoàn hảo, đem lại cho khách sự dễ chịu vì không gian
nghỉ ngơi thoáng đãng, ấm cúng, riêng tư và yên bình. Do đó, trong những năm
tới Việt Nam sẽ là một đất nước thu hút một lượng lớn khách du lịch đến tham
quan và nghỉ dưỡng.
Để phát triển hoạt động kinh doanh du lịch nghỉ dưỡng cần tập trung vào
các vấn đề chính như sau:
-
Mở rộng cơ sở vật chất để gia tăng số lượng khách với việc đầu tư xây dựng thêm
cơ sở nghỉ dưỡng mới và nâng cấp các cơ sở vật chất hiện có để có thể cung cấp
các dịch vụ đi kèm (ăn uống, làm đẹp, bể bơi, sân thể thao, khu vui chơi của trẻ
-
em,…).
như spa, massage, tắm bùn, suối nước nóng,…
b. Nguồn nhân lực
Với du lịch nghỉ dưỡng chất lượng cao cấp thì nhân viên phục vụ cũng phải
chuyên nghiệp có kỹ năng tốt, ngoại ngữ giỏi. Nhiều nhân viên dù được đào tạo
dài hạn ở các trường đại học, cao đẳng... nhưng khi được tuyển dụng làm việc tại
các doanh nghiệp du lịch đều phải mất thời gian và chi phí để đào tạo lại hoặc đào
tạo bổ sung kỹ năng, ngoại ngữ. Ở nước ngoài, thời lượng giữa học lý thuyết và
thực hành là 50-50, tương đương với 24 tháng thực tập trong môi trường thực tiễn.
Trong khi ở Việt Nam chỉ có 2 kỳ thực tập trong vòng 4 tháng nên học viên thiếu
hẳn kỹ năng tác nghiệp. Đó là chưa kể nhiều trường đào tạo không có tên tuổi,
không thể liên kết với những khách sạn có sao, có hạng nên chỉ gửi sinh viên đến
thực tập tại những nơi không đạt chuẩn. Vì thế, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
du lịch không nhất quán, không đạt chuẩn. Có thể nói gần như 90% sinh viên
ngành khách sạn ra trường đều không có kỹ năng chuyên nghiệp. Trong khi đó,
ngành du lịch là nơi mà quan hệ giữa con người với con người chủ yếu qua giao
tiếp thì ngoại ngữ là yếu tố then chốt hàng đầu. Trình độ ngoại ngữ yếu, kỹ năng
nghiệp vụ còn thiếu đã hạn chế các đơn vị du lịch khai thác hết được nguồn lợi du
lịch từ khách nước ngoài. Mặt khác, nếu không giỏi ngoại ngữ, những nhân viên
trong ngành du lịch cũng khó hoàn thành tốt nhiệm vụ và phát triển nghề nghiệp
chuyên môn, không thể giúp khách du lịch hiểu tường tận về văn hóa Việt và
quảng bá hình ảnh đất nước ra bên ngoài. Du lịch không chỉ là một ngành khoa học
mà còn mang đầy tính nghệ thuật, rất cần những con người có khả năng giao tiếp
nhằm kết nối những trái tim với trái tim, mới có thể kéo khách quay lại một lần
18
19
nữa.
Khó khăn nhất của ngành du lịch hiện nay là thiếu nguồn nhân lực đáp ứng
đủ yêu cầu về ngoại ngữ: có tới 30%-45% hướng dẫn viên du lịch, điều hành tour
20
Việt Nam mới được hình thành nhưng tiềm lực còn yếu và vì vậy chưa ổn định và
chưa phát huy được vai trò điều tiết. Các dòng đầu tư FDI trong du lịch chiếm tỷ
trọng lớn tuy vậy chỉ tập trung vào lĩnh vực bất động sản du lịch; nhiều dự án có
tình trạng treo do thiếu điều kiện liên quan như cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực bậc
cao của Việt Nam còn rất hạn chế và phụ thuộc vào phía đối tác liên doanh liên kết
bên ngoài. Vì vậy cần có những cơ chế, chính sách ưu đãi để thu hút trực tiếp từ
nước ngoài FDI, bên cạnh đó cũng thu hút vốn đầu tư từ cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài. Coi đây không chỉ là kênh huy động nguồn vốn đầu tư nhưng
cũng là kênh tiếp thu chuyển giao công nghệ và kỹ thuật tiên tiến và là thị trường
gửi khách du lịch.
Việc thu hút vốn đầu tư trong nước cũng đặc biệt quan trọng, những chính
sách ưu đãi, khuyến mại cũng phải thực sự hợp lý thì mới thu hút được nguồn vốn
lớn cho ngành du lịch nghỉ dưỡng.
1.3.2. Các yếu tố thuộc về khách hàng
Thông thường, khách hay chọn hành trình ngắn ngày, di chuyển ít, kết hợp
công tác đi theo đoàn của gia đình hoặc doanh nghiệp. Các khu nghỉ dưỡng dọc bờ
biển, từ Bắc vào Nam, nhất là khu vực miền Trung chạy dài từ Quảng Bình đến
Phan Thiết, Phú Quốc,… rất được du khách ưa chuộng để tắm biển kết hợp thăm
quan nhẹ nhàng. Các khu nghỉ dưỡng luôn ưu ái nguồn khách nội địa vì phần lớn
đều là những người có điều kiện. Hơn nữa, lịch đón khách nội địa đến các khu
nghỉ dưỡng so với khách quốc tế rất khớp, ít bị hiện tượng trống phòng vào các
mùa thấp điểm, bởi khách nước ngoài thường đến Việt Nam tránh mùa đông (tháng
10 đến tháng 3 năm sau), còn khách Việt thì đa phần đi nghỉ mát. Hiện nhiều khu
nghỉ dưỡng còn thích phục vụ du khách nội hơn cả khách quốc tế, bởi người Việt
đi nghỉ dưỡng thường có thu nhập cao, có học thức, chi tiêu đôi khi mạnh tay hơn
người nước ngoài. Họ sẵn sàng bỏ ra vài nghìn đô la cho một kỳ nghỉ ngơi, bởi
riêng giá phòng ở resort thấp nhất cũng là 60USD/đêm, cao nhất lên đến hơn 2.000
USD/đêm chưa kể đi lại, ăn uống và chi tiêu cho các dịch vụ khác.
1.3.3. Các yếu tố khác
người dân góp phần tạo tâm lý cho khách du lịch yên tâm hơn khi tới điểm đến.
− Môi trường công nghệ: Sự phát triển của công nghệ thông tin yêu cầu các nhà cung
cấp dịch vụ phải bắt kịp với công nghệ áp dụng vào các dịch vụ của hệ thống nghỉ
dưỡng như hệ thống đặt dịch vụ, lưu trú, ăn uống, vận chuyển, vui chơi giải trí.
1.3.3.2. Môi trường vi mô
a. Địa hình
21
22
Việt Nam có rất nhiều tiềm năng lớn để phát triển ngành du lịch, đặc biệt là
các tiềm năng để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Việt Nam có lợi thế là nằm cạnh
biển Đông với đường bờ biển kéo dài hơn 3000km nên có thể dễ dàng xây những
khu nghỉ dưỡng bên cạnh biển. Nhiều bãi biển đẹp của Việt Nam như Nha Trang,
Sầm Sơn, Đồ Sơn, Vũng Tàu… đã từ lâu trở thành những khu nghỉ dưỡng lý tưởng
cho khách du lịch trong nước và quốc tế thư giãn, tái tạo sức khỏe sau những ngày
lao động mệt nhọc.
Bên cạnh đó với cảnh quan đặc sắc của vùng đồi núi như các thác nước
chảy quanh co, uốn lượn, như những ruộng bậc thang, những cánh đồng hoa rực rỡ
sắc màu những cánh rừng thông xanh bạt ngàn kết hợp với không khí trong lành,
khí hậu ôn hòa ở vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên cũng là những điều kiện tốt để
xây dựng và phát triển du lich nghỉ dưỡng ở nước ta.
Hơn thế nữa Việt Nam có những vùng đặc thù là nơi chữa bệnh tuyệt hảo
như các khu tắm suối nước nóng, tắm bùn khoáng ở Bình Châu (Bà Rịa – Vũng
Tàu), Tháp Bà (Nha Trang), Thanh Tân (Thừa Thiên Huế)… và nhiều nơi khác ở
khu vực phía Bắc.
b. Khí hậu
Khí hậu là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng nhất trong việc xây
dựng các khu nghỉ dưỡng. Ở Việt Nam các khu vực có điều kiện khí hậu ôn hòa,
mát mẻ như Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Bà Nà
− Vốn điều lệ: 3.148.938.820.000 đồng
− Vốn đầu tư của chủ sở hữu: 3.148.938.820.000 đồng
− Địa chỉ: Tầng 5 Tòa nhà FLC Landmark Tower, đường Lê Đức Thọ, phường Mỹ
−
−
−
−
Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Số điện thoại: 024. 3771 1111
Số Fax: 04.3795 2888
Website: www.flc.vn
Mã cổ phiếu: FLC
Ngành nghề kinh doanh
− Kinh doanh bất động sản:
+ Bất động sản nhà ở;
+ Bất động sản nghỉ dưỡng;
+ Trung tâm thương mại, văn ph.ng cho thuê;
+ Bất động sản khu công nghiệp.
− Ngành nghề kinh doanh bổ sung cho ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
+ Kinh doanh dịch vụ khách sạn, nghỉ dưỡng;
+ Kinh doanh các cơ sở thể thao, đặc biệt trong lĩnh vực sân golf;
+ Hoạt động thiết kế, xây dựng công tr.nh;
+ Kinh doanh vận tải thủy bằng du thuyền;
+ Kinh doanh khai thác và chế tác đá, vật liệu xây dựng;
+ Kinh doanh nước uống tinh khiết;
+ Xuất khẩu lao động;
24