ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÒ MAI HẠNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG
PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO TRẺ EM
MẪU GIÁO Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 8 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Phí Thị Hiếu
2. TS. Lê Tùng
THÁI NGUYÊN - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm.
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2018
Tác giả luận văn
Lò Mai Hạnh
i
2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu................................................................. 3
4. Giới hạn nghiên cứu ........................................................................................ 3
5. Giả thuyết khoa học ......................................................................................... 4
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 4
7. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 4
8. Cấu trúc luận văn ............................................................................................. 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ
NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở
TRƯỜNG MẦM NON .......................................................................... 7
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................... 7
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài ................................................................ 7
1.2. Một số khái niệm cơ bản ............................................................................ 15
1.2.1 Xâm hại, xâm hại tình dục, xâm hại tình dục trẻ em................................ 15
1.2.2. Kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục .......................... 17
1.3. Một số vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình
dục cho trẻ em mẫu giáo.......................................................................... 21
1.3.1. Một số đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo..................... 21
1.3.2. Mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ
em lứa tuổi mẫu giáo ............................................................................... 24
iii
1.3.3. Nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ
em lứa tuổi mẫu giáo ............................................................................... 24
1.3.4. Phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại
tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo ..................................................... 26
1.3.5. Đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục
2.2.3. Thực trạng phương pháp và hình thức giáo dục KNPCXHTD cho
trẻ mẫu giáo tại trường mầm non ............................................................ 45
2.2.4. Thực trạng đánh giá KNPCXHTD của trẻ mẫu giáo .............................. 47
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại
tình dục cho trẻ mẫu giáo trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên....
48
2.3.1. Thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại
tình dục cho trẻ mẫu giáo trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên....
48
2.3.2. Thực trạng quản lý nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm
hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo trên địa bàn huyện Nậm
Pồ, tỉnh
Điện Biên ................................................................................................. 50
2.3.3. Thực trạng quản lý phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng
phòng, chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo trên
địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên ................................................... 53
2.3.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng phòng,
chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo trên địa bàn
huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên................................................................ 55
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục KNPCXHTD cho
trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên...........
57
2.5 Đánh giá chung về quản lý hoạt động giáo dục KNPCXHTD cho trẻ
mẫu giáo ở các trường mầm non huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên .......... 59
2.5.1 Những ưu điểm ......................................................................................... 59
2.5.2. Mặt hạn chế.............................................................................................. 59
2.5.3. Nguyên nhân ............................................................................................ 60
Kết luận chương 2.............................................................................................. 62
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG
PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO TRẺ MẪU GIÁO TRÊN
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................................. 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 87
PHỤ LỤC .............................................................................................................
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL
: Cán bộ quản lý
GD
: Giáo dục
GDKNPCXHTD
: Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục
GDKNS
: Giáo dục kỹ năng sống
GV
: Giáo viên
KN
Các hoạt động mà nhà trường đánh giá KNPCXHTD của trẻ
mẫu giáo ........................................................................................ 47
Bảng 2.5.
Đánh giá việc quản lý mục tiêu giáo dục KNPCXHTD cho
trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non............................................ 48
Bảng 2.6.
Thực trạng quản lý nội dung giáo dục KNPCXHTD cho trẻ
mẫu giáo tại các trường mầm non ................................................. 51
Bảng 2.7.
Thực trạng quản lý phương pháp giáo dục KNPCXHTD cho trẻ
mẫu giáo tại các trường mầm non (theo đánh giá của CBQL,
GV) ................................................................................... 53
Bảng 2.8.
Thực trạng quản lý hình thức giáo dục KNPCXHTD cho trẻ mẫu
giáo tại các trường mầm non (theo ý kiến đánh giá của CBQL,
GV) ................................................................................... 54
Bảng 2.9.
Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục
KNPCXHTD cho trẻ mẫu giáo trên địa bàn huyện Nậm Pồ ........ 56
Lứa tuổi Mẫu giáo có vị trí đặc biệt quan trọng, là thời kỳ vàng trong sự
phát triển nhân cách của trẻ em. Ở lứa tuổi này, trẻ cần được tiếp nhận, giáo
dục các giá trị, hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, tạo cơ sở cho sự
phát triển nhân cách ở những lứa tuổi tiếp theo. Những tổn thương về thể chất
và tinh thần mà lứa tuổi này gặp phải có thể để lại hậu quả và trở thành nỗi ám
ảnh đối với các em trong suốt cuộc đời.
Hiện nay, xâm hại tình dục trẻ em đang là vấn đề nhức nhối trên toàn thế
giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Xâm hại tình dục để lại hậu quả nặng
nề cả về thể chất lẫn tinh thần cho nạn nhân. Thực tế cho thấy, hầu hết trẻ sau
khi bị xâm hại đều có những rối loạn về tâm lý, hành vi; trẻ trở nên sợ hãi và
mất niềm tin vào các mối quan hệ với mọi người xung quanh…Thứ trưởng Bộ
Lao động - thương binh và xã hội Đào Hồng Lan cho biết theo thống kê, năm
2014 có gần 1.600 trẻ em, năm 2015 có hơn 1.300 trẻ em và năm 2016 là hơn
1.200 trẻ em bị xâm hại tình dục (theo tuoitre.vn). Đánh giá chung của nhiều cơ
quan tham gia điều trần do Ủy ban Tư pháp và Ủy ban Văn hóa, giáo dục,
thanh niên, thiếu niên và nhi đồng Quốc hội tổ chức ngày 27.3.2017 (Bộ Giáo
dục - đào tạo, Hội Liên hiệp phụ nữ VN, Trung ương Đoàn, Viện KSND tối
cao, TAND tối cao...) cho thấy thực trạng đã rất nhức nhối, nhưng công tác
2
phòng chống lại chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Đáng lưu ý, nhiều nạn
nhân của các vụ ấu dâm là trẻ mầm non. Tổng cục Cảnh sát Phòng chống tội
phạm Bộ Công an cũng cho biết, mỗi năm trung bình có tư 1.600 - 1.800 vụ
xâm hại trẻ em nghiêm trọng được phát hiện (kể cả xâm hại tình dục) (theo
vietbao.vn).
Trong 5 tháng đầu năm 2018, toàn quốc phát hiện 682 vụ xâm hại, 735
em bị xâm hại, trong đó xâm hại tình dục hơn 500 vụ và 562 em bị xâm hại.
Đáng nói, đối tượng xâm hại trẻ em bởi người thân trong gia đình chiếm đến
các trường mầm non huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên” đề tài nghiên cứu luận
văn Thạc sỹ.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục
kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ Mẫu giáo ở các trường mầm non
Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động
GDKNPCXHTD cho các em, tư đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giáo
dục của các nhà trường mầm non.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở trường
mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình
dục cho trẻ Mẫu giáo của hiệu trưởng các trường mầm non huyện Nậm Pồ, tỉnh
Điện Biên.
4. Giới hạn nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục KNPCXHTD cho trẻ mẫu giáo bao gồm
nhiều nội dung. Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu biện pháp quản lý
hoạt động giáo dục KNPCXHTD cho trẻ em mẫu giáo của Hiệu trưởng các
trường mầm non, bao gồm: quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình
thức giáo dục, quản lý kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục KNPCXHTD cho
trẻ mẫu giáo.
4
Đề tài được triển khai, nghiên cứu tại 5 trường mầm non trên địa bàn
huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên bao gồm các trường: Mầm non Si Pa Phìn, Mầm
non Chà Nưa, Mầm non Nà Hỳ, Mầm non Nà Khoa và Mầm non Chà Cang tư
năm học 2016-2017 đến hết năm học 2017-2018.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Đối tượng phỏng vấn là CBQLGD, giáo viên và nhân viên của các
trường mầm non trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Chủ đề phỏng
vấn là công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình
dục cho trẻ tại trường mình công tác.
7.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu sản phẩm: Kế hoạch chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học
của Hiệu trưởng và Kế hoạch thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ em
của giáo viên tại 5 trường mầm non được khảo sát.
7.3. Phương pháp chuyên gia
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khảo nghiệm tính cần thiết và
khả thi của các biện pháp đề xuất.
7. 4. Phương pháp sử dụng toán thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thống kê trong toán học để xử lý và phân tích các
số liệu tư các bảng hỏi thu thập được.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục; luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng
chống xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo.
6
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống
xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo ở các trường mầm non trên địa
bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống
xâm hại tình dục cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh
Điện Biên.
Kiel (Kiel là thủ phủ bang Schleswig-Holstein của Đức) đã công bố những phát
hiện mới nhất về bộ não của những người mắc chứng ấu dâm với kỹ thuật cộng
8
hưởng tư (MRT). Theo bác sĩ tâm lý trị liệu Jorge Ponseti, những nhà khoa học
Pháp, Canada và các nước Bắc Âu từng nghiên cứu về chứng rối loạn tình dục
này. Thế nhưng, những công trình nghiên cứu các chức năng của não bộ còn
quá ít. Các nhà khoa học Đức đã có những nỗ lực theo hướng này nhằm giải mã
bí mật của chứng ấu dâm. Bác sĩ Ponseti nhận xét: “Với MRT, các nhà khoa
học có điều kiện tối ưu để tìm hiểu sâu hoạt động và kết cấu của bộ não những
người mắc chứng ấu dâm. Điều kỳ diệu nhất là MRT cho phép chúng ta biết
vùng não nào hoạt động mạnh và vùng nào hoạt động kém”.
Y học xếp ấu dâm là một chứng rối loạn về tình dục đối với trẻ vị thành
niên. Theo hệ thống xếp hạng mới của khoa bệnh học tâm thần Mỹ, chỉ những
người có ham muốn tình dục lâu dài và liên tục đối với trẻ em mới được coi là
người mắc bệnh ấu dâm. Trái lại, theo bác sĩ Ponseti, nếu có ham muốn tình
dục lệch lạc đó nhưng không thực hiện hành vi ấu dâm thì gọi là thiên hướng
tình dục. “Kỹ thuật MRT cho phép chúng ta biết ai mắc chứng ấu dâm nhưng
thật không may, nó không thể giải thích tại sao con người mắc bệnh đó” - bác
sĩ Ponseti kết luận.[6]
- Quan điểm của thuyết hành vi về xâm hại tình dục
Lý thuyết hành vi giải thích rằng hành vi tình dục lệch chuẩn là kết quả
của một quá trình học hỏi. Lý thuyết về hệ thống môi trường cho thấy hành vi
con người chịu tác động tư sự tương tác với các hệ thống và môi trường xã hội.
Để được xã hội chấp nhận như một thành viên, cá nhân phải hành xử theo
mong đợi của xã hội khi cá nhân tuân thủ các chuẩn mực của xã hội đề ra. Tiến
trình xã hội hóa là tiến trình cá nhân học hỏi những chuẩn mực được xã hội quy
định, và những khuôn mẫu hành vi đúng, và những hành vi không đúng. Lý
thuyết tình cảm gắn bó thì cho rằng, con người có thiên hướng hình thành các
chúng bằng chính những trải nghiệm thực tế. [6]
- Mô hình lý thuyết về xâm hại tình dục của David Finkelhor
David Finkelhor là một trong những nhà lý luận nổi tiếng về xâm hại
tình dục trẻ em. Ông đã đưa ra một mô hình về những điều kiện quan trọng đối
với xâm hại tình dục trẻ em. Mô hình này là sự kết hợp tư nhiều lý thuyết để
10
tìm hiểu về việc tại sao con người bắt đầu tham gia vào hành vi lệch chuẩn về
tình dục. Mô hình này giải thích sự phức tạp về đối tượng xâm hại tình dục trẻ
em, tư động cơ cho tới việc họ tiếp tục hành vi này như thế nào. Mô hình này
bao gồm 4 yếu tố: cảm xúc, khoái cảm tình dục, sự cản trở và việc mất đi phản
xạ có điều kiện. Yếu tố cảm xúc ở đây là mối liên hệ giữa nhu cầu tình cảm của
người xâm hại tình dục trẻ em với tính cách của đứa trẻ. Ví dụ, một người xem
mình giống như một đứa trẻ hoặc có nhu cầu tình cảm như đứa trẻ nên anh ta
muốn xây dựng mối quan hệ với một đứa trẻ. Và nếu anh ta không có đầy đủ
các kỹ năng sống để phát triển các mối quan hệ bình thường, anh ta có thể cảm
thấy thoải mái hơn nếu anh ta có mối quan hệ với trẻ em do có cảm giác về
quyền lực và kiểm soát. Yếu tố khoái cảm tình dục đánh giá nguyên nhân tại
sao trẻ em lại gợi khoái cảm tình dục ở một người lớn (trích lại tư Tony Ward
và Richard J.Seigert, 2002).
Finkelhor sử dụng thuyết học hỏi xã hội để giải thích hiện tượng này.
Theo đó, ông giải thích rằng người có hành vi xâm hại tình dục trẻ em đã từng
bị lạm dụng khi còn là một đứa trẻ và khi lớn lên người đó lại tìm đến trẻ em để
có quan hệ tình dục. Yếu tố cản trở ở đây muốn nói đến khả năng của người
xâm hại tình dục trẻ em cảm thấy nhu cầu tình cảm và tình dục không được
thỏa mãn trong mối quan hệ với người lớn. Ông sử dụng lý thuyết phân tích
tâm lý và lý thuyết tình cảm gắn bó để giải thích về yếu tố này. Lý thuyết phân
tích tâm lý mô tả những kẻ gạ gẫm trẻ em là những người bất hòa sâu sắc với
một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình giáo dục
những giá trị sống với 12 giá trị cơ bản cần được giáo dục cho thế hệ trẻ.
Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất
được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục
các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Phần lớn các công trình nghiên cứu về
KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các
kỹ năng xã hội. Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các
nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu
cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên.
12
Mặc dù, giáo dục KNS cho trẻ đã được nhiều nước quan tâm và cùng
xuất phát tư quan niệm chung về KNS của Tổ chức y tế thế giới hoặc của
UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống
nhau. Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS được mở rộng, trong khi một
số nước khác xác định nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng
tâm lí, xã hội.
Tư năm 1997 tại Lào, KNS được thể hiện trong các ngữ cảnh cụ thể, liên
quan đến giáo dục phòng tránh HIV/AIDS, được lồng ghép vào chương trình
giáo dục chính quy, không chính quy và các trường sư phạm đào tạo giáo viên.
Tại Campuchia có quan niệm KNS là năng lực mà con người cần phải có để
nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia.
Trong chương trình giáo dục của Malaysia những năm gần đây, KNS
được coi như là một môn học, mục tiêu của môn học này là cung cấp cho trẻ
những kỹ năng thực tế cơ bản để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ và có xu
hướng kinh doanh.
Tháng 12 năm 2003 tại Bali - Indonesia đã diễn ra hội thảo về giáo dục
KNS trong giáo dục với sự tham gia của 15 nước. Qua báo cáo của các nước
số 463/BGDĐT-GDTX về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục KNS
tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên.
Theo văn bản hướng dẫn này, thì giáo dục KNS cho trẻ tại các trường mầm non
là: “Tiếp tục rèn luyện những kỹ năng đã được học ở mầm non, tập trung hình
thành cho trẻ kỹ năng giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bạn bè; kỹ năng xây dựng
tình bạn đẹp; kỹ năng kiên trì trong học tập; kỹ năng đúng giờ và làm việc theo
yêu cầu, kỹ năng đồng cảm... tạo tiền đề cho sự phát triển hài hòa về thể chất
và tinh thần, phẩm chất, học vấn và năng lực của học sinh” [3].
Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ
thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình.
Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo
trình, tài liệu tham khảo [Nguyễn Thanh Bình (2007), ”Giáo dục kỹ năng
sống”, Giáo trình dành cho sinh viên Cao đẳng sư phạm, Nxb Đại Học Sư
Phạm, Hà Nội; Nguyễn Thanh Bình (2009), Chuyên đề giáo dục kỹ năng
sống, Nxb Đại
14
Học Sư Phạm, Hà Nội], tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể vào
việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam.
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính,
Vũ Phương Liên (2013), trong cuốn sách “Phương pháp giáo dục giá trị và
KNS cho trẻ trung học phổ thông”, các tác giả đã tập trung nghiên cứu, luận
giải vấn đề lồng ghép giữa giáo dục giá trị sống và KNS, trong đó giáo dục giá
trị sống được coi là nền tảng, còn KNS là công cụ và phương tiện để tiếp nhận
và thể hiện. Nghiên cứu của các tác giả đã giúp cho giáo viên trung học phổ
thông định hướng tổ chức thực hiện giáo dục KNS trong nhà trường, theo đó,
giáo viên có thể tổ chức các giờ dạy hay hoạt động giáo dục KNS một cách
riêng biệt hoặc lồng ghép việc giáo dục KNS vào trong dạy học các môn học
mà giáo viên đó đang đảm nhận [8].
phạm đến khiến cho bị tổn hại”.
Xâm hại là bất cứ hành động (hoặc không nhất thiết là hành động) có chủ
ý làm tổn thương hoặc gây nguy hại cho người khác. Tùy thuộc vào mức độ
của nó, hành vi này có thể gây ra những tổn thương nghiêm trọng cả về thể chất
và tinh thần đối với người bị hại. Những hậu quả mà xâm hại gây ra sẽ đeo bám
nạn nhân suốt cả cuộc đời, đồng thời cũng ảnh hưởng trực tiếp tới gia đình,
cộng đồng và xã hội
* Xâm hại tình dục
Cụm tư “xâm hại tình dục” có thể được hiểu là hành vi tình dục không tự
nguyện, trong một số trường hợp còn dùng đến vũ lực. Xâm hại tình dục có thể
bao gồm việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên, loạn luân, cưỡng hiếp và bóc
lột tình dục bởi những người được xem là đáng tin cậy, chẳng hạn như bác sĩ,
giáo viên hoặc giới tăng lữ. Các nạn nhân bị quấy rối tình dục, dù qua lời nói
hay về thể chất thường bị đe dọa, hãm hại nếu nói ra sự việc [19]
Theo tác giả Đinh Thị Vân Anh: “Xâm hại tình dục là sự lôi kéo, cưỡng
bức người khác vào các hoạt động nhằm thỏa mãn dục vọng của mình” [2].
Tư khái niệm “xâm hại” và khái niệm xâm hại tình dục trên, theo chúng
tôi: “Xâm hại tình dục là tất cả những hành vi tình dục không tự nguyện gây ra
tổn thương nghiêm trọng cả về thể chất lẫn tinh thần cho nạn nhân”.
16