NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
CƠ BẢN XÂY DỰNG PHÁP
LUẬT VỀ PHÁT TRIỂN
NĂNG LƯỢNG SẠCH VÀ
NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO Ở
VIỆT NAM
- Khái niệm
Thời gian qua, trên thế giới hay ở Việt Nam đề cập nhiều
về nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng
xanh hay năng lượng bền vững. Ưu điểm của các nguồn năng
lượng là sạch, có sẵn trong thiên nhiên, không gây ô nhiễm,
không bị cạn kiệt và là giải pháp tốt nhất nhằm tiết kiệm năng
lượng và thay thế cho năng lượng hóa thạch trong tương lai.
Năng lượng sạch mang tính khoa học và được quan niệm theo
nhiều cách tiếp cận khác nhau. Các tên gọi khác như năng
lượng tái tạo, năng lượng xanh, năng lượng mới, năng lượng
bền vững đều có chung một cách hiểu như vậy. Trong công
trình này các cụm từ năng lượng sạch, năng lượng tái tạo,
năng lượng xanh đều được sử dụng và cần được hiểu là có
cùng nội hàm như nhau.
Trong cách nói thông thường, năng lượng tái tạo được
hiểu là những nguồn năng lượng hay những phương pháp khai
thác năng lượng mà nếu đo bằng các chuẩn mực của con
người thì vô hạn. Vô hạn ở đây có hai nghĩa:
Nghĩa thứ nhất: năng lượng tồn tại nhiều đến mức mà
không thể trở thành cạn kiệt vì sự sử dụng của con người (ví
dụ như năng lượng Mặt trời).
Trong khoa học pháp lý:
Khoản 1, Điều 43 Luật bảo vệ môi trường năm 2014
được hiểu: Năng lượng tái tạo là năng lượng được khai thác
từ nước, gió, ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, sóng biển, nhiên
liệu sinh học và các nguồn tài nguyên năng lượng có khả
năng tái tạo khác.
Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 3 Luật sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 được hiểu:
1. Năng lượng bao gồm nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng
thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài
nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo.
2. Tài nguyên năng lượng không tái tạo gồm than đá, khí
than, dầu mỏ, khí thiên nhiên, quặng urani và các tài nguyên
năng lượng khác không có khả năng tái tạo.
3. Tài nguyên năng lượng tái tạo gồm sức nước, sức gió,
ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học và các tài
nguyên năng lượng khác có khả năng tái tạo.
Khoản 13, Điều 2 Quyết định số 18/2008/QĐ-BTC ngày
18/07/2008 của Bộ trưởng Bộ công thương quy định về biểu
giá chi phí tránh được cho các nhà máy điện nhỏ sử dụng
năng lượng tái tạo, được hiểu: Năng lượng tái tạo là năng
lượng được sản xuất từ các nguồn thủy điện nhỏ, gió, mặt
trời, địa nhiệt, thủy triều, sinh khối, khí chôn lấp rác thải, khí
của các nhà máy sử lý rác thải và khí sinh học.
Khoản 2, Điều 3 Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày
14/01/2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ
môi trường, được hiểu: Sản xuất năng lượng sạch, năng
lượng tái tạo là việc sản xuất năng lượng từ sử dụng sức gió,
chỉnh pháp lý các khái niệm đưa rất khác nhau và chưa hoàn
toàn đầy đủ nghĩa theo nội hàm “Năng lượng sạch”. Từ việc
đưa ra khái niệm không chính xác, không bao quát nên việc
xây dựng văn bản pháp luật của Nhà nước do vậy chưa thống
nhất, có nhiều mâu thuẫn, cần phải được hệ thống lại và thống
nhất trong áp dụng để đảm bảo pháp luật đi vào thực tế có
hiệu quả.
Theo quan điểm của tác giả, dù tiếp cận bằng cách này
hay cách khác nguồn năng lượng đó không gây ô nhiễm
không khí, ô nhiễm nguồn nước, không ảnh hưởng đến môi
trường sống, bảo vệ môi trường, cảnh quan và hệ sinh thái
được coi là năng lượng sạch.
- Một số dạng năng lượng sạch và năng lượng tái tạo chủ
yếu
Cho đến ngày nay, con người đã tìm ra được rất nhiều
các nguồn năng nượng thay thế cho nguồn năng lượng hóa
thạch. Xét về lợi ích mà chúng đem lại ta có thể phân loại
năng lượng sạch và năng lượng tái tạo thành các dạng cơ bản
sau:
- Pin nhiêu liệu
Pin nhiên liệu là một thiết bị điện hoá mà trong đó biến
đổi hoá năng thành điện năng nhờ quá trình oxy hoá nhiên
liệu, mà nhiên liệu thường dùng ở đây là khí H 2 và khí O2
hoặc không khí. Quá trình biến đổi năng lượng trong pin
nhiên liệu ở đây là trực tiếp từ hoá năng sang điện năng theo
phản ứng H2 + O2 = H2O + dòng điện, nhờ có tác dụng của
thạch, giảm phát khí thải nhà kính, bảo vệ môi trường. Vì thế,
đây được coi là nguồn năng lượng quý giá, có thể thay thế
những dạng năng lượng cũ đang ngày càng cạn kiệt.
Đối với cuộc sống của loài người, năng lượng Mặt Trời
là một nguồn năng lượng tái tạo quý báu. Tuy nhiên hiện nay,
ứng dụng năng lượng mặt trời còn gặp một số khó khăn như:
Đầu tư chi phí lớn, cần nhiều không gian để đặt tấm năng
lượng mặt trời, phụ thuộc vào vị trí của mặt trời, bị ảnh hưởng
bởi sự hiện diện của các đám mây.
- Năng lượng gió
Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển
trong bầu khí quyển Trái Đất. Tài nguyên năng lượng gió là
nguồn năng lượng mới và phát triển mạnh nhất trên thế giới
trong thời đại ngày nay. Năng lượng gió được chuyển đổi
thành điện năng nhờ các tuốc bin gió và được chế tạo với tuổi
thọ cao hơn phù hợp với điều kiện khắc nghiệt. Loại năng
lượng này không tạo ra chất thải ô nhiễm môi trường, vì vậy
việc tận dụng lượi thế tại những khu vực có lưu lượng gió ổn
định để phát triển các nhà máy phong điện sẽ là lời giải cho
bài toán năng lượng và môi trường trong thời gian tới. Vì vậy,
phát triển năng lượng gió biển Việt Nam hướng tới mục tiêu
giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu, là một trong những giải
pháp được đánh giá là khả thi hiện nay. Tuy nhiên, trong quá
trình khai thác gây ra tiếng ồn, đồng thời yêu cầu chi phí khá
cao, lệ thuộc vào tự nhiên, nên nhiều nhà đầu tư vẫn còn băn
khoăn khi đầu tư vào dạng năng lượng này.
Ở nước ta, lĩnh vực điện gió còn khá mới mẻ với các nhà
đầu tư. Tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện tại cũng có một số
sơ gỗ chất thải gỗ thành thị, chất thải rắn đô thị có khả năng
phân hủy và hóa nhiệt thông qua đốt.
Hai là: Năng lượng sinh khối khí, nguồn năng lượng này
được tạo bởi sự lên men sinh học các đồ phế thải sinh hoạt.
Theo đó, người ta sẽ phân loại và đưa chúng vào những bể
chứa để cho lên men nhằm tạo ra khí sinh học (biogas). Khí
sinh học là một hỗn hợp khí, trong đó thành phần chủ yếu là
khí Mêtan (CH4), được sản sinh ra từ sự phân huỷ những chất
hữu cơ dưới tác động của vi khuẩn trong môi trường yếm khí.
Sau khi quá trình phân hủy hoàn tất, phần còn lại của các chất
hữu cơ được sử dụng để làm phân bón.
Nguyên liệu dùng để sản xuất khí sinh học được chia
làm 2 loại: Nguyên liệu có nguồn gốc thực vật: Các nguyên
liệu thực vật gồm phụ phẩm cây trồng như rơm rạ, thân lá
ngô, khoai, đậu…và loại cây xanh hoang dại như: bèo, các
cây cỏ sống ở dưới nước. Nguyên liệu có nguồn gốc từ động
vật: Các loại phân và phân gia súc, gia cầm là phổ biến. Vì đã
được xử lý trong bộ máy tiêu hoá nên phân dễ phân huỷ và
nhanh chóng cho khí sinh học.
Ở quy mô của một gia đình có thể dùng khí này để đun
nấu, ở quy môn lớn hơn có thể dùng để sản xuất hơi nước
hoặc trộn với khí tự nhiên trong mạng phân phối khí đốt của
thành phố. Phương pháp này cũng là một phương pháp xử lý
rác thải trong khu dân cư.
Ba là: Năng lượng sinh khối lỏng, là sự chuyển hóa năng
lượng sinh khối trong chất bã nông nghiệp. Gồm:
Xăng sinh học (Gasohol): Bao gồm Bio-metanol, Bioethanol, Bio-butanol... Trong số các dạng xăng sinh học này,
Bio-ethanol là loại nhiên liệu sinh học thông dụng nhất hiện
-Nguồn năng lượng từ sóng biển
Sóng biển chứa đựng nguồn năng lượng rất lớn. Gió thổi
trên mặt biển tạo ra những con sóng không ngừng. Phương
pháp tạo ra dòng điện từ sóng biển là dùng máy phát điện đặt
nổi trên mặt biển như một cái bơm đặt nằm ngang, pít-tông
nối liền với phao, tùy theo sóng biển lên xuống mà píttông
cũng chuyển động lên xuống, biến động lực của sóng biển
thành động lực của không khí bị nén. Không khí bị nén dưới
áp suất cao phụt qua miệng phun của tuabin làm cho máy phát
điện hoạt động. Khi đó, năng lượng của sóng biển đã chuyển
thành điện năng. Phát điện bằng năng lượng sóng biển không
tốn một chút năng lượng khởi động nào, lại không gây ô
nhiễm môi trường, do đó nó là một nguồn năng lượng sạch,
hy vọng sẽ giúp giải quyết nguy cơ thiếu năng lượng của toàn
thế giới.
-Nguồn năng lượng từ thủy triều
Năng lượng thủy triều của toàn thế giới theo các nhà
khoa học ước chừng khoảng 3 tỷ kw. Nguyên lý phát điện
thủy triều tương tự như nguyên lý phát điện thủy lực, tức là
lợi dụng sự chênh lệch mức nước triều lên xuống để làm quay
động cơ và máy phát điện. Ở những vùng có biên độ triều
tương đối lớn, người ta xây để ngăn nước có nhiều cửa tạo
thành một hồ chứa nước và trong đê lắp tổ máy phát điện
bánh xe nước. Khi nước triều lên cao bên ngoài một cửa nào
đó thì cửa đó mở ra, nước biển chảy vào hồ chứa, dòng nước
vào làm quay bánh xe thủy động, kéo theo làm quay máy phát
điện để phát điện. Khi nước triều rút xuống thì cửa nói trên
thủy điện… thì năng lượng biển có mức đầu tư ít hơn, tính an
toàn cao, không cần một bộ máy điều hành lớn và phức tạp.
Năng lượng thủy năng
Thủy năng hay năng lượng nước là năng lượng nói
chung nhận được từ lực hoặc năng lượng từ dòng nước, dùng
để sử dụng vào những mục đích có lợi. Trước khi được mở
rộng ra thương mại hóa điện năng, thủy năng đã được sử dụng
cho mục đích thủy lợi, và cung cấp năng lượng cho nhiều máy
móc khác nhau, như cối xay nước, máy dệt, máy cưa, cẩu trục
ở âu tàu, và thang máy dùng trong nhà... Thủy điện là một
trong nhiều ngành khai thác từ sức nước. Đa số năng lượng
thủy điện có được từ thế năng của nước được tích tại các đập
nước. Khi nước được rơi tự do từ độ cao sẽ tạo một khối năng
lượng nhất định tương ứng với khối lượng của nước làm quay
một tuốcbin nước và máy phát điện tạo ra điện năng để sử
dụng.
Phát triển nguồn năng lượng này có nhiều lợi ích như: ít
bảo trì, không tạo ra chất thải hủy hoại môi trường, có khả
năng tái tạo. Điện năng sinh ra từ mô hình này luôn ổn định
và có khả năng tăng, giảm lượng điện tức thì nên được ứng
dụng rộng cũng như chiếm một phần quan trọng nhất trong hệ
thống điện của Việt nam hiện nay.
Nguồn năng lượng này cũng đòi hỏi phải đầu tư khá lớn.
Đồng thời việc việc đắp đập ngăn nước làm thay đổi môi
trường sinh thái vùng thượng nguồn và hạ lưu. Nó có một số
tác dụng khác như điều tiết nước và chống lũ nhưng chính bản
thân nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi do và ảnh hưởng xấu đến điều
tiết nước và gây lũ lụt vùng hạ lưu nếu không được quy hoạch
vận chuyển (dưới dạng các xe chạy điện dùng hydrogen) cũng
như sưởi ấm nhà ở và phát điện. Thực tiễn cho thấy, hiện nay
nhiều nước đã thành công trong việc khuyến khích, ứng dụng
nguồn năng lượng trên vào tiến trình phát triển kinh tế, xã
hội. Tuy nhiên, chi phí đầu tư lớn đang là bài toán khó nên
việc ứng dụng dạng năng lượng Hydro còn chưa được phổ
biến.
-Khí Mêtan Hydrate
Khí Mêtan hydrate được coi là nguồn năng lượng tiềm
ẩn nằm sâu dưới lòng đất, có màu trắng dạng như nước đá và
được người ta gọi là “băng cháy”. Mêtan hydrate là một chất
kết tinh bao gồm phân tử nước và mêtan, nó ổn định ở điều
kiện nhiệt độ thấp và áp suất cao, phần lớn được tìm thấy bên
dưới lớp băng vĩnh cửu và những tầng địa chất sâu bên dưới
lòng đại dương và là nguồn nguyên liệu thay thế cho dầu lửa
và than đá rất tốt. Mới đây, Nhật Bản đã trở thành quốc gia
đầu tiên trên thế giới thành công trong việc chiết xuất khí gas
từ băng cháy, đem đến hy vọng mới cho việc tìm nguồn năng
lượng thay thế nhiên liệu hóa thạch [119].
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có trữ lượng băng
cháy khá lớn. Từ năm 2007, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
tổ chức hội nghị khoa học về băng cháy. Chính phủ cũng đã
ban hành nhiều quyết định, chương trình nghiên cứu, đánh giá
tài nguyên băng cháy. Ngày 03/6/2010, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 796/2010/QĐ-TTg phê
duyệt Chương trình nghiên cứu, điều tra cơ bản về tiềm năng
khí hydrate ở các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Theo
minh. Hầu hết các chính sách năng lượng tái tạo được ban
hành hoặc sửa đổi trong năm 2013. Sự kết hợp các chính sách
điều tiết, ưu đãi tài chính và cơ chế tài chính công tiếp tục
được thông qua. Chính sách biểu giá hỗ trợ và các tiêu chuẩn
năng lượng tái tạo vẫn là cơ chế hỗ trợ được sử dụng phổ biến
nhất, mặc dù tốc độ thông qua vẫn chậm. Đấu thầu cạnh tranh
công khai cũng trở nên nổi bật hơn, số lượng các quốc gia
chuyển sang đấu giá công khai tăng từ 9 trong 2009 lên 55
tính đến đầu năm 2014 [124].
Tính đến đầu năm 2014, ít nhất 24 quốc gia đã thông qua
những mục tiêu về sưởi ấm và làm lạnh bằng năng lượng tái
tạo. Hệ thống làm lạnh và sưởi ấm bằng năng lượng tái tạo
cũng được hỗ trợ thông qua những ưu đãi tài chính, cũng như
các tiêu chuẩn xây dựng và các biện pháp khác ở cấp quốc gia
và địa phương tại một số nước. Đến năm 2014, có ít nhất 63
quốc gia đã sử dụng các chính sách quản lý để thúc đẩy sản
xuất hoặc tiêu thụ nhiên liệu sinh học cho giao thông vận tải;
Một số nhiệm vụ kết hợp được tăng cường, những ưu đãi về
tài chính và tài chính công được mở rộng. Tuy nhiên, tại một
số nước, việc hỗ trợ cho nhiên liệu sinh học thế hệ đầu tiên
giảm do những mối quan tâm về bền vững môi trường và xã
hội. Mặc dù, hầu hết các chính sách liên quan đến giao thông
vận tải tập trung vào các nhiên liệu sinh học, nhưng nhiều
chính phủ vẫn tiếp tục tìm kiếm những lựa chọn khác như
tăng số lượng phương tiện sử dụng mêtan sinh học và điện từ
các nguồn tái tạo.
Các thành phố trên thế giới có các chính sách, kế hoạch
và mục tiêu để thúc đẩy năng lượng tái tạo, thường bỏ xa
[104].
Tại Nhật Bản, một trong những nước nhập khẩu dầu
hàng đầu thế giới, các nhà sản xuất ôtô đang đầu tư mạnh vào
pin nhiên liệu hydro dành cho các loại xe thế hệ mới. Mặc dù
vậy, chi phí giá thành vẫn ngoài tầm với của những người có
thu nhập trung bình. Trong khi đó, Thủ tướng Ấn Độ vừa qua
kêu gọi các quan chức và giới khoa học tăng cường nghiên
cứu và phát triển các nguồn năng lượng tái tạo cho quốc gia
tiêu thụ dầu lớn thứ ba châu Á này. Để giảm lượng dầu mỏ
tiêu thụ, Ấn Độ bắt đầu pha trộn xăng với ethanol cũng như
tiến hành thử nghiệm một số loại phương tiện giao thông sử
dụng hỗn hợp diesel sinh học chiết xuất từ thực vật và diesel
dầu mỏ. Theo dự tính của Bộ Tài nguyên Năng lượng phi
truyền thống của Ấn Độ, nước này có tiềm năng sản xuất
80.000 MW điện từ các nguồn tái tạo. Tuy nhiên, hiện nay
năng lượng tái tạo ở Ấn Độ mới đạt 5.000 MW, 50% trong số
này có nguồn gốc từ năng lượng gió.
Kể từ đầu những năm 1980, Malaixia cũng đã bắt đầu áp
dụng chính sách nhằm đa dạng hóa các nguồn năng lượng.