ĐẶC ĐIỂM TRƢỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA CHỈ TRANG PHỤC (TRÊN TƢ LIỆU TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH) - Pdf 54

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ OANH

ĐẶC ĐIỂM TRƢỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA CHỈ TRANG PHỤC
(TRÊN TƢ LIỆU TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH)

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 9 22 02 41

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM TẤT THẮNG
TS. ĐỖ THỊ HIÊN

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
được sử dụng trong luận án này hoàn toàn trung thực. Những kết luận trong
luận án chưa được công bố ở bất kì công trình khoa học khác.
Tác giả luận án

Bùi Thị Oanh


LỜI CẢM ƠN
Luận án được nghiên cứu sinh (NCS) thực hiện tại Khoa Ngôn ngữ học, Học
viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn

5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 5
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án ............................................................ 7
7. Những đóng góp mới của luận án..................................................................... 7
8. Bố cục của luận án ........................................................................................... 8
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ
THUYẾT............................................................................................................... 9
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu ............................................................... 9
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ trang phục trên thế giới .................... 9
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ trang phục ở Việt Nam ................... 11
1.2. Một số vấn đề về lí thuyết liên quan đến đề tài............................................. 15
1.2.1. Khái quát về trường từ vựng - ngữ nghĩa .............................................. 15
1.2.2. Khái quát về trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ trang phục .................. 20
1.2.3. Khái quát về định danh ......................................................................... 22
1.2.4. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa ................................................ 27
1.2.5. Khái quát về văn hoá trang phục .......................................................... 29
1.2.6. Lí thuyết về nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ .................................... 31
1.3. Tiểu kết chương 1 ..................................................................................... 34
Chƣơng 2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO, NGUỒN GỐC VÀ PHƢƠNG THỨC
ĐỊNH DANH CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ TRANG PHỤC TRONG TIẾNG
VIỆT VÀ TIẾNG ANH ...................................................................................... 35
2.1. Đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh...35
2.1.1. Đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt .......... 35
2.1.2. Đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Anh .... 37
2.1.3. So sánh đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ trang phục trong hai
ngôn ngữ ....................................................................................................... 38
2.2. Đặc điểm nguồn gốc của các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng
Anh ................................................................................................................... 40
2.2.1. Đặc điểm nguồn gốc của các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt ..... 40



3.2. Đặc điểm văn hoá - dân tộc qua tư duy liên tưởng trong định danh từ ngữ chỉ
trang phục của người Việt và người Anh.......................................................... 110


3.2.1. Đặc điểm văn hoá - dân tộc qua tư duy liên tưởng trong định danh từ ngữ
chỉ trang phục của người Việt ...................................................................... 110
3.2.2. Đặc điểm văn hoá - dân tọc qua tư duy liên tưởng trong định danh từ ngữ
chỉ trang phục của người Anh ...................................................................... 113
3.2.3. So sánh các đặc điểm văn hoá - dân tộc qua tư duy liên tưởng trong
định danh từ ngữ chỉ trang phục của người Việt và người Anh ................ 118
3.3. Đặc điểm văn hoá - dân tộc qua nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ
có từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh ................................ 121
3.3.1. Hướng nghĩa biểu trưng cho giá trị đạo đức xã hội ........................ 123
3.3.2. Hướng nghĩa biểu trưng cho cho đẳng cấp xã hội .......................... 136
3.3.3. Hướng nghĩa biểu trưng cho giới tính ............................................. 141
3.4. Tiểu kết chương 3 ................................................................................... 146
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 151
PHỤ LỤC ......................................................................................................... 160


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số lượng các tiểu trường chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh ......22
Bảng 2.1: So sánh đặc điểm cấu tạo của các tiểu trường chỉ trang phục trong tiếng
Việt và tiếng Anh ...........................................................................................................39
Bảng 2.2: So sánh độ phân bố các tên gọi trang phục xét theo nguồn gốc ..................44
trong tiếng Việt và tiếng Anh ........................................................................................44
Bảng 2.3: Tương quan của các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh chỉnh thể
trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh ......................................................................48
Bảng 2.4: Tương quan của các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh trang phục

Biểu đồ 2.6: So sánh các đặc trưng định danh từ ngữ chỉ đồ trang sức trong tiếng Việt
và tiếng Anh...................................................................................................................90


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiến trình phát triển của lịch sử và văn minh nhân loại đã chứng minh trang phục
là một tri thức văn hóa, một loại hình nghệ thuật giúp thể hiện rõ nét bản sắc văn hóa, đặc
điểm vùng miền, môi trường sống, chế độ chính trị, diện mạo kinh tế của xã hội. Trang
phục đã trở thành biểu tượng văn hóa và mang trong mình những đặc trưng văn hóa dân
tộc của các quốc gia với nhiều mặt tích cực.
Các từ ngữ chỉ trang phục thuộc hạt nhân của hệ thống từ vựng trong mọi ngôn
ngữ và được con người nhận thức khá sớm so với các lớp từ khác. Chúng có số lượng
lớn, phản ánh rõ nét các đặc trưng văn hóa dân tộc và có sự biến đổi nghĩa phong phú.
Nghiên cứu hệ thống tên gọi về trang phục của mỗi quốc gia là một việc làm không chỉ
có giá trị về mặt ngôn ngữ học mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc tìm hiểu bản sắc văn
hóa dân tộc thông qua các kí hiệu ngôn ngữ.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu trang phục và tên gọi trang phục từ góc độ ngôn ngữ
chưa thực sự được giới chuyên môn quan tâm chú ‎ý. Phần lớn các công trình nghiên cứu
về trường trang phục hiện nay mới chỉ được xét trên một bình diện ngữ nghĩa như tìm
hiểu ý nghĩa biểu trưng trang phục trong thơ ca, quan hệ cấp loại hay đặc điểm định danh
các từ ngữ chỉ trang phục. Việc khảo sát một cách có hệ thống, chuyên sâu và toàn diện
trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ trang phục trong tiếng Việt trong sự so sánh đối chiếu với
tiếng Anh là một khoảng trống nghiên cứu còn bỏ ngỏ khi có sự khác biệt khá lớn trên
nhiều phương diện giữa hai dân tộc như đặc điểm loại hình ngôn ngữ, các điều kiện kinh
tế, chính trị, lịch sử, văn hóa, xã hội...
Với những lí do trên, chúng tôi đã chọn: "Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa
chỉ trang phục (trên tư liệu tiếng Việt và tiếng Anh) làm đề tài nghiên cứu của luận án.
Hy vọng rằng các kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm cứ liệu minh chứng cho
mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá dân tộc, trở thành nguồn tham khảo hữu ích cho

Phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm: đặc điểm nguồn gốc, cấu tạo, các phương
thức định danh và đặc điểm văn hóa-dân tộc của các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt
và tiếng Anh.
Các đối tượng nghiên cứu trên được luận án thống kê, khảo sát từ rất nhiều nguồn
như sách, giáo trình, luận văn, luận án, từ điển đơn ngữ, từ điển song ngữ cũng như các trang
mạng thời trang có uy tín.

2


4. Ngữ liệu nghiên cứu
Các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh được thu thập và thống kê từ
các nguồn ngữ liệu cụ thể sau:
Tiếng Việt:
* Từ điển:
- Từ điển tiếng Việt (2010), Hoàng Phê (chủ biên), Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa.
- Từ điển Anh-Việt, English-Vietnamese dictionary (2001), Viện ngôn ngữ học, Nhà
xuất bản thành phố Hồ Chí Minh.
- Từ điển dệt may Anh -Việt (1996), Tô Đăng Hải, Lê Mạnh Chiến và Phạm Hồng,
Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật.
- Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (1997), Chaevalier và Gheerbrant, Nhà xuất
bản Đà Nẵng.
- Hán-Việt tự điển (2015), Thiều Chửu, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Từ điển Hán-Việt từ nguyên (1999), Bửu Kế, Nhà xuất bản Thuận Hóa.
- Từ điển từ nguyên giải nghĩa (2003), Vũ Ngọc Khánh và Nguyễn Thị Huế, Nhà
xuất bản Văn hóa Thông tin.
- Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (2000), Vũ Dung, Vũ Thúy Anh và Vũ
Quang Hào, Nhà xuất bản Văn hóa.
- Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (2011), Nguyễn Lân, Nhà xuất bản Văn

- A Book of Proverbs (2012), Josef S.Vershese, Satyam Enterprise, New Delhi, India.
- The Concise Oxford Dictionary of English Etymology (2003), T.F Hoad, Oxford
University Press.
- The Oxford Dictionary of Proverbs (2009), John Simpson and Jennifer Speake,
Oxford University Press.
- Dictionary of Word Origins (2011), John Ayto, Arcade Publishing, an imprint of
Skyhouse Publishing, Inc.
Các trang mạng:
- http: www.cambridgedictionary.com (retrieved on August 15th, 2015)
- http: www.etymonline.com (retrieved on January 20th, 2016)
- http: www.macmillandictionary.com (retrieved on March 3rd 2016)

4


- http: www.elle.harper‟s (retrieved on April 25th 2016)
- http: www.bazaarvietnam.vn (retrieved on September 10th 2016)
- http: www.elle.vn (retrieved on February 13th 2017)
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận án đã sử
dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp miêu tả
Đây là phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt để giải quyết các
nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra. Dựa vào nguồn ngữ liệu thu thập được, luận án tiến hành
phân tích miêu tả đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc và các phương thức định danh của từ ngữ
chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh.
5.2. Phương pháp phân tích thành tố nghĩa
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu về mặt nội dung của các đơn vị có
nghĩa nhằm phân giải ý nghĩa ra thành các đặc trưng ngữ nghĩa.
Thứ nhất, tiến hành tập hợp, sắp xếp các từ ngữ chỉ trang phục theo nguyên tắc

3) Chỉ ra những đặc điểm tương đồng và khác biệt của các từ ngữ chỉ trang phục
trong tiếng Việt và tiếng Anh; từ đó lí giải các đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ
và tư duy đằng sau các lớp từ chỉ trang phục.
Sở dĩ từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt trong luận án được so sánh đối chiếu
với tiếng Anh bởi lẽ chúng tôi mong muốn hiểu sâu sắc hơn, đầy đủ hơn những nét đặc
trưng mang tính ngôn ngữ - văn hoá của tiếng Việt cũng như những nét phổ quát mà
tiếng Việt chia sẻ với tiếng Anh - ngôn ngữ quốc tế. Hiểu biết đó chính là hành trang vô
cùng quí giá và không thể thiếu trong quá trình hội nhập quốc tế sao cho vẫn giữ được
bản sắc văn hoá và linh hồn của dân tộc.
5.4. Thủ pháp thống kê
Các hiện tượng ngôn ngữ không chỉ có những đặc trưng về chất mà còn có cả
những đặc trưng về lượng. Đôi khi, những sự khác biệt về lượng lại giúp lý giải cho sự
khác biệt về chất của các cấu trúc ngôn ngữ. Rõ ràng là những số liệu cụ thể và chính xác
có được từ thủ pháp thống kê sẽ làm tăng hàm lượng khoa học cũng như tính thuyết phục
của các luận điểm được trình bày trong các nghiên cứu. Vì lẽ đó, các tư liệu có được của

6


luận án chủ yếu là nhờ quá trình thống kê và phân loại các từ ngữ chỉ trang phục từ nhiều
nguồn như sách báo, giáo trình, từ điển và các trang mạng đáng tin cậy.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của một số công trình từ nguyên học theo phương
pháp so sánh - lịch sử cũng được sử dụng để tìm ra những quy luật, khuynh hướng đặc
trưng và tiêu biểu của hai ngôn ngữ Việt - Anh.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa lí luận, các kết quả của đề tài sẽ góp phần củng cố lí thuyết về trường
từ vựng - ngữ nghĩa, làm rõ thêm một số vấn đề trong quan hệ bộ ba ngôn ngữ, văn hóa
và tư duy thể hiện qua trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ trang phục trong tiếng Việt và
tiếng Anh. Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn cung cấp thêm nguồn ngữ liệu về bản sắc
văn hóa của hai dân tộc Việt - Anh.

Việt và tiếng Anh.

8


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ trang phục
trên thế giới và ở Việt Nam cũng như điểm luận một số vấn đề lí thuyết liên quan trực
tiếp đến đề tài như các lí thuyết về so sánh đối chiếu, trường từ vựng - ngữ nghĩa, định
danh và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá.
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ trang phục trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu trang phục chủ yếu được tiếp cận từ góc độ văn
hóa và lịch sử. Hầu như chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống
về trường nghĩa chỉ trang phục từ bình diện ngôn ngữ học mà phần lớn mới tiếp cận
chúng từ một xu hướng nghiên cứu như: phương thức cấu tạo từ và từ nguyên học, tiêu
chí phân loại và đặc trưng ngôn ngữ dân tộc.
Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu phương thức cấu tạo từ và từ nguyên học liên
quan đến từ đồng nghĩa trong tiếng Anh của người Anh và tiếng Anh của người Mỹ phải
kể đến công trình của David Kozisek (2011) với một số phát hiện sau:
Có một số từ đồng nghĩa chỉ quần áo và phụ kiện được sử dụng trong cả tiếng
Anh - Anh và Anh - Mỹ nhưng chúng lại biểu thị những khái niệm khác nhau và điều
này đôi khi dẫn đến những hiểu lầm, nhầm lẫn đáng tiếc trong hai ngôn ngữ. Chẳng hạn
như từ “pants” và “vest” đều dùng để chỉ đồ lót trong tiếng Anh - Anh; từ “purse” trong
tiếng Anh - Mỹ đã được chuyển từ ý nghĩa ban đầu (túi nhỏ để mang đồng xu, nghĩa này
vẫn được sử dụng trong tiếng Anh - Anh) và được sử dụng như từ đồng nghĩa với từ
“handbag” chỉ túi xách của nữ; từ “mackintosh” và “welling boots” trong tiếng Anh Anh (có nguồn gốc từ tên gọi của nhà phát minh) mang ý nghĩa giống từ “raincoat” (áo
mưa) và “rubber boots” (ủng/bốt cao su) trong tiếng Anh - Mỹ song người Mỹ lại hoàn
toàn không biết đến những từ này;

+ Cách thức cắt may (draped clothes, sewed clothes...).
Dựa trên dữ liệu phân tích, hai tác giả đã rút ra các kết luận dưới đây:
Nhóm từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Anh là một hệ thống mở và vẫn không
ngừng phát triển và để phân loại chúng cần phải dựa vào những đặc điểm tri nhận khác
nhau của từng dân tộc cũng như kinh nghiệm cá nhân. Những đặc điểm đó mang bản sắc
văn hóa và không giống nhau giữa các vùng miền;

10


Các tên gọi mới chỉ trang phục chủ yếu được hình thành dựa trên những tên gọi
có sẵn trong tiếng Anh. Điều đó có nghĩa là định danh phái sinh diễn ra thường xuyên
hơn định danh trực tiếp (52% các từ chỉ tên gọi trang phục được cấu tạo bằng hình thức
phái sinh hình thái học chủ yếu từ động từ, tính từ và danh từ). [94, tr.1189-1201].
Qua đây, chúng tôi thấy rằng tiêu chí phân loại này chủ yếu áp dụng với trường
biểu vật. Việc tìm hiểu từ ngữ chỉ trang phục qua trường liên tưởng trên cơ sở so sánh
đối chiếu với các ngôn ngữ khác còn bỏ ngỏ.
Xu hướng thứ ba: Nghiên cứu về đặc trưng ngôn ngữ của các từ ngữ chỉ trang
phục. Đại diện cho xu hướng này là tác phẩm của Zulfiya G.Khanoval (2017) với đề tài:
“Linguistic features of clothing terminology in Tatar language”.
Bằng việc sử dụng phương pháp phân tích ngữ nghĩa định lượng và phương pháp
miêu tả, tác giả đã chia 220 đơn vị từ vựng chỉ trang phục thu thập được từ các cuốn từ
điển tiếng Tatar và từ điển nguyên học thành các tiểu trường như: tên gọi quần áo (gồm
110 đơn vị), tên gọi phụ trang đội đầu như mũ nón (gồm 50 đơn vị), tên gọi giày dép và
các bộ phận của chúng (gồm 50 đơn vị), tên gọi phụ kiện mang trên tay (gồm 10 đơn vị).
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Ngoài các từ có nguồn gốc từ tiếng Tatar, các từ ngữ chỉ
trang phục trong tiếng Tatar còn có nguồn gốc từ tiếng Ả rập – Ba Tư như “chalbar,
ihram”...và ngôn ngữ Châu Âu như “scarf, beret, vest, camisole, mantle, coat, skirt,
tights, pants”...; Tên gọi trang phục tiếng Tatar chủ yếu được cấu tạo bằng phương thức
ghép. [97, tr.1550-1554].

khái niệm trang phục và hệ thống các chủng loại trang phục được trình bày một cách khá
chi tiết và đầy đủ trong “Giáo trình Mỹ thuật Trang phục” của Trần Thủy Bình (2002).
Đặc biệt là một lược khảo về trang phục phương Tây qua các thời đại cũng được thể hiện
trong khảo cứu.
Nghiên cứu về họa tiết “ốc rồng” và họa tiết “bàn chân” trong thổ cẩm người
H‟Mông có đề tài về hoa văn trang trí vải của Nguyễn Thị Bích Hạnh (2016). Qua ngữ
liệu nghiên cứu có thể thấy những dạng họa tiết mang tính biểu tượng đa nghĩa trong
nghệ thuật tạo hình trên vải của dân tộc này đã bước đầu lý giải sự xuất hiện của chúng
trên nền yếu tố tâm thức văn hóa bản địa và lịch sử phát triển tộc người.
Trong ngôn ngữ học, việc nghiên cứu các từ ngữ chỉ trang phục chưa được chú
trọng nhiều, chủ yếu theo ba xu hướng sau:

12


Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu từ ngữ chỉ trang phục từ góc độ ngữ nghĩa hoặc
quan hệ về nghĩa. Đại diện tiêu biểu cho xu hướng này là tác giả Lê Thị Hà (1998) với
công trình: “Mô hình các từ ghép và ngữ định danh chỉ y phục của tiếng Việt xét về mặt
cấu tạo và ngữ nghĩa”. Có lẽ, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về từ ngữ chỉ trang
phục đi sâu vào nghiên cứu quan hệ cấp loại và quan hệ toàn bộ - bộ phận trong các từ
ghép chính phụ phân nghĩa chỉ y phục.
Lê Thị Hà (2014) đã tiến hành phân chia các từ trong trường trang phục theo
quan hệ cấp loại và đưa ra nhận định như sau: “Hai quan hệ phân loại loại - loại và phân
loại chính thể - bộ phận luôn đan chéo vào nhau và không một loại quan hệ nào đi suốt
quá trình phân chia cấp loại từ bậc một cho đến bậc tận cùng. Một từ ghép hay ngữ định
danh chỉ bộ phận của trang phục lại có thể là một đơn vị chỉ chỉnh thể trên cấp bao gồm
các bộ phận phân chia theo quan hệ chỉnh thể - bộ phận”. [14, tr.21-26].
Xu hướng thứ hai: Nghiên cứu về đặc điểm định danh của các từ ngữ chỉ trang
phục như các công trình của Lý Toàn Thắng (2009), Phạm Thị Hồng (2007) và Hoàng
Thị Huệ (2017).

làm cơ sở định danh thời trang. [25, tr.103-109].
Có thể thấy, đối tượng nghiên cứu của Hoàng Thị Huệ có một số nét tương đồng
với đối tượng nghiên cứu của chúng tôi vì đều lựa chọn nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo
và phương thức định danh của các từ ngữ chỉ trang phục song chúng tôi tập trung nhiều
hơn đến bình diện ngôn ngữ và văn hoá thay vì chỉ tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ đơn
thuần.
Xu hướng thứ ba: Nghiên cứu từ ngữ chỉ trang phục từ góc độ nghĩa biểu trưng
có các tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa (2007) và Trần Thị Hồng Hạnh (2017).
Tìm hiểu về mối quan hệ giữa hệ biểu tượng trang phục và các hệ biểu tượng văn
hoá khác, Nguyễn Thị Ngân Hoa (2007) cho rằng: “ Đặc điểm bản thể của hệ biểu tượng
trang phục là cơ sở định hướng cho các kiểu quan hệ kết hợp nhất định: trang phục - loã
thể, trang phục - màu sắc, trang phục - thiên nhiên. Đây là những kiểu quan hệ cơ bản
nhất, hoàn toàn không mang tính ngẫu nhiên mà được hình thành từ những thuộc tính tất
yếu của trang phục trong vai trò là yếu tố trung gian giữa con người và tự nhiên, con
người và môi trường xã hội, con người và vũ trụ, con người và những giá trị đạo đức, tín
ngưỡng mà nó hướng tới, con người và sự khám phá, điều chỉnh những sức mạnh thuộc
về bản năng, vô thức trong chính nó”.

14


Coi nghĩa biểu trưng của những câu thành ngữ tiếng Việt có chứa từ liên quan
đến “lúa gạo” làm đối tượng nghiên cứu, Trần Thị Hồng Hạnh (2017) nhận định: “Câu
thành ngữ: Áo vải cơm rau biểu trưng cho cuộc sống thanh bạch, giản dị trong khi câu:
Giá áo túi cơm lại biểu trưng cho người không có năng lực hoặc vô dụng”. [20, tr.90-91].
Xét một cách tổng thể, các công trình nghiên cứu về từ ngữ chỉ trang phục ở trong
và ngoài nước chưa nhiều song cũng cho thấy sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học
dành cho lớp từ này. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu
đặc điểm của các từ ngữ chỉ trang phục theo từng tiểu trường một cách toàn diện và
chuyên sâu, đặc biệt trên cơ sở đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh. Vì lí do đó, chúng tôi

ngôn ngữ Ấn Âu có hình thái giống chung và hoạt động ngữ pháp giống nhau. Đây được coi
là trường từ vựng ngữ pháp hay nhóm từ vựng ngữ pháp. [dẫn theo 12, tr.40].
Có thể thấy việc sử dụng nền tảng cấu trúc luận khi tiếp cận trường từ vựng của Trier
một mặt được các nhà nghiên cứu tiếp nhận rộng rãi nhưng một mặt lại vấp phải những lời chỉ
trích về việc phân biệt quá rạch ròi các đơn vị trong trường cũng như việc đồng nhất các khái
niệm trường từ vựng (lexical field), trường nghĩa (semantic field) và trường từ (word field)
Sau này Lyons (1977) đã phân biệt trường từ vựng (lexical field) - một tập hợp các
đơn vị từ vựng bao phủ lên một trường khái niệm cụ thể với trường khái niệm (conceptual
field) - một cấu trúc khái niệm ở cấp độ ngữ nghĩa, tức một vùng khái niệm đã được cấu trúc
hóa. Cái gọi là ô trống từ vựng xuất hiện khi trường từ vựng không phủ kín được trường khái
niệm. Chẳng hạn như từ horse (ngựa) phủ kín cả từ stallion (ngựa đực) và mare (ngựa cái)
song điều này lại không xảy ra với từ bull (bò đực) và từ cow (bò cái). [dẫn theo 6, tr.253]
Lyons (1977) còn phân biệt giữa trường từ vựng (lexical field) và trường nghĩa
(semantic field). Nếu một trường bao gồm tập hợp các biểu thức phủ lên trường khái niệm như
các thành ngữ bên cạnh các đơn vị từ khác trong trường thì trường này nên được gọi là trường
nghĩa hơn là trường từ vựng. Ví dụ như trường nói về “sự tức giận”, ngoài các đơn vị từ vựng
như rage (giận dữ), fume (nổi đóa), seethe (sôi sùng sục) còn có các biểu thức ngôn ngữ như
boil over (sôi lên, trào ra), look daggers (nhìn trừng trừng) thì nên được gọi là trường nghĩa hơn
là trường từ vựng. [dẫn theo 6, tr.268]
Theo Laurel (2000), trường nghĩa là tập hợp các từ có quan hệ với nhau về nghĩa. Các
từ trong một trường có chung đặc điểm ngữ nghĩa nhất định. Phần lớn các trường nghĩa được
định nghĩa theo chủ đề như bộ phận cơ thể, bệnh tật, màu sắc, thức ăn, quan hệ thân tộc... .

16


Đỗ Việt Hùng (2011) nhận định: “Từ vựng là tập hợp các từ và đơn vị tương đương
với từ của một ngôn ngữ. Song, từ vựng không phải là một tập hợp ngẫu nhiên các đơn vị này.
Từ vựng là một hệ thống. Do đó, giữa các đơn vị của hệ thống từ vựng tồn tại những mối quan
hệ nhất định. Một trong những mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị từ vựng là quan hệ đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status