BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
GIAI ĐOẠN II
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ QUẢN LÍ VÀ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
VỀ GIÁO DỤC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC THIỂU SỐ
(Sử dụng nội bộ)
HÀ NỘI, 2014
Cơ quan tổ chức biên soạn và chịu trách nhiệm nội dung:
Trung tâm Giáo dục môi trường và các vấn đề xã hội.
Tham gia biên soạn:
Bùi Quang Thanh (đồng chủ biên)
Phan Thị Lạc
(đồng chủ biên)
Vũ Thị Ngọc Anh
Bùi Ngọc Diệp
Nguyễn Thị Thanh Mai
Vũ Nho
Nguyễn Thị Minh Phương
1
Danh mục các kí tự viết tắt
Bộ GD&ĐT
Văn hóa dân tộc
Văn hóa phi vật thể
2
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Lời nói đầu
CHUYÊN ĐỀ 1: VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM VÀ QUAN
ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ TỔ CHỨC QUỐC TẾ VỀ BẢO
TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
I. Văn hóa
1. Khái niệm văn hóa
2. Đinh nghĩa văn hóa
3. Những đặc trưng và chức năng cơ bản của văn hoá
II. Bản sắc văn hóa
1. Khái niệm bản sắc văn hóa
2. Những biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc
III. Vùng văn hóa
1. Khái niệm vùng văn hóa
2. Phân vùng văn hóa ở Việt Nam
3. Vùng văn hóa các dân tộc thiểu số và các bản sắc văn hóa chủ yếu
IV. Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam và tổ chức quốc tế về vấn
đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số
1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc
2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề bảo tồn và phát
huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số.
3. Quan điểm của Tổ chức Giáo dục – Khoa học và Văn hóa của Liên hợp
20
31
45
51
51
60
65
73
73
3
II. Phương hướng, mục tiêu, nội dung, phương pháp và các hình thức giáo
dục bảo tồn và phát huy BSVHDTTS ở trường THPT
1. Định hướng chung
2. Mục tiêu
3. Nội dung cơ bản
4. Các phương pháp dạy học
5. Các hình thức giáo dục
III. Tích hợp giáo dục bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS qua các môn
học và các hoạt động ở trường THPT
1. Giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT qua môn Ngữ văn
2. Giáo dục bảo tồn và phát huy BSVHDT qua môn Lịch sử
môn học
1. Mục đích, yêu cầu
2. Căn cứ xây dựng
3. Các bước xây dựng kế hoạch
PHỤ LỤC
1. Một số định nghĩa về văn hóa
2. Luật Di sản văn hóa
3. Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO
TÀI LIỆU THAM KHẢO
76
86
146
148
148
152
167
169
169
170
176
221
4
tại địa phương.
Chuyên đề 5: Xây dựng kế hoạch thực hiện giáo dục bảo tồn và phát huy BSVH các
dân tộc thiểu số trong trường THPT.
Tài liệu được dùng trong khóa tập huấn về giáo dục bảo tồn BSVH dân tộc thiểu
số, đồng thời cho đông đảo cán bộ quản lí và giáo viên THPT tham khảo, sử dụng
trong quá trình dạy học ở các trường có học sinh DTTS.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song tài liệu chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Chúng
tôi mong quý vị góp ý để chỉnh sửa hoàn thiện hơn.
Dự án Phát triển Giáo dục Trung học phổ thông giai đoạn II
5
CHUYÊN ĐỀ 1
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM VÀ QUAN ĐIỂM
CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ TỔ CHỨC QUỐC TẾ VỀ BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Mục tiêu: Học xong chuyên đề này, học viên cần đạt:
- Có đủ kiến thức cơ bản về các khái niệm văn hóa và BSVHDT cùng những
biểu hiện của BSVHDT được thể hiện trong các lĩnh vực hoạt động của con
người qua quá trình ứng xử với tự nhiên, xã hội và giữa con người với nhau;
- Nhận diện được các vùng văn hóa các DTTS và những BSVH chủ yếu của các
vùng;
- Hiểu rõ và đồng tình ủng hộ các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước
về công tác bảo tồn và phát huy BSVH các dân tộc thiểu số ở Việt Nam;
- Hiểu được những nội dung cơ bản quan điểm của Tổ chức quốc tế về Giáo dục,
Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) về nhiệm vụ bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa trên thế giới.
- Tôn trọng BSVH các DTTS. Có ý thức bảo tồn và giáo dục học sinh giữ gìn và
phát huy BSVH các DTTS.
trong tác phẩm Les Tuscullanes của mình đã viết rằng: “Một cánh đồng dù màu mỡ
đến đâu đi chăng nữa mà không có sự trồng trọt (cultura) thì cũng chắng sản sinh ra
được cái gì. Một tâm hồn con người (animi) mà không được giáo dục thì cũng vậy”,
và: “Sự trồng trọt tinh thần (cultura animi) nó nhổ bỏ, trừ tận gốc những thói xấu,
làm cho tâm hồn con người sẵn sàng tiếp nhận những hạt giống…” 1. Và dần dần,
khái niệm ngữ nghĩa của từ culture đã được mở rộng, hàm nghĩa giáo dục, rèn luyện,
bồi dưỡng năng lực và phẩm chất cho con người. Một xã hội với những thành viên
được chăm sóc, giáo dục, bồi dưỡng chu đáo sẽ có khả năng tạo dựng một cuộc sống
vật chất và cuộc sống tinh thần có chất lượng cao. Đó có lẽ cũng là hàm nghĩa khởi
nguyên của khái niệm văn hóa ứng dụng vào môi trường sinh hoạt và quan hệ xã
hội. Con người ngoài di truyền sinh học còn di truyền xã hội và sự nhập thân văn
hóa ngay từ khi còn trong bào thai 2.
Hai chữ văn - hóa hiện đang được người Việt sử dụng thực ra là được chuyển
nghĩa Hán tự do người Nhật cung cấp, chuyển dịch từ thuật ngữ Latin (cultura) và
phương Tây (culture) ra tiếng Hán. Trong phong trào “Minh Trị duy tân” khởi
xướng vào năm 1868, Nhật Bản đã dịch rất nhiều sách của phương Tây thuộc đủ mọi
chuyên ngành khoa học khác nhau. Trong quá trình dịch thuật, khi gặp từ cultura và
culture, người Nhật đã dùng hai chữ Hán là văn hóa để chuyển dịch cho ngữ nghĩa
tương ứng và phù hợp3.
Như vậy, cùng với thời gian, khái niệm văn hóa với những hàm nghĩa của nó
không ngừng được mở rộng, ngày càng phong phú, đa dạng và phức tạp. Sự đa dạng
và phức tạp đó thể hiện ở nội dung cho câu trả lời “Văn hóa là gì?” của nhân loại
hàng nghìn năm qua, in dấu ở hàng nghìn công trình nghiên cứu với các quan niệm,
định nghĩa khác nhau, theo những phạm vi, mức độ nhìn nhận khác nhau.
2. Định nghĩa về văn hóa
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách
nhìn nhận và đánh giá khác nhau, tùy theo quan điểm, nhận thức của người tiếp cận
đối tượng nghiên cứu là văn hóa.
Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber (1876 - 1960)
và Clyde Kluckhohn (1905 - 1960) đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau
quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng.
Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét bản thân. Chính văn hoá làm cho
chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn
thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà con người thể hiện, tự ý thức được bản
thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành
tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những
công trình vượt trội lên trên bản thân”.
- Định nghĩa về văn hoá của Tổng giám đốc UNESCO trong bài báo nhan đề:
Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá đăng trên Tạp chí Thông tin UNESCO (số tháng
1/ 1988):
“Văn hoá là một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống và nhận thức - một
cách hữu thức cũng như vô thức - của các cá nhân và các cộng đồng. Văn hoá là tổng
thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ,
hoạt động sáng tạo ấy đã tạo nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị
hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc… Từ nay trở đi, văn hoá
cần coi mình là nguồn cổ suý trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa
nhận văn hoá giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội”.
Theo A.A. Belick: Văn hóa học - Những lý thuyết nhân học văn hóa, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật xuất bản,
HN, 2000.
4
8
2.2. Định nghĩa về văn hoá trong các bộ Từ điển bách khoa thế giới
- Định nghĩa văn hoá trong Đại bách khoa toàn thư Liên Xô:
“Văn hoá là trình độ phát triển lịch sử của xã hội và của con người, biểu hiện ra
trong các kiểu và các hình thái tổ chức đời sống và hành động của con người, cũng
như trong các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người tạo ra. Văn hoá có thể
được dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của những xã hội, dân
5
6
Dẫn theo Đặng Đức Siêu: Giáo trình Cơ cở văn hoá Việt Nam, Sđd. tr. 35 - 36.
Đào Duy Anh - Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb. Tp. HCM tái bản, 1992, tr. 13.
9
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử
dụng. Toàn bộ các sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”7.
- Năm 1995, trong cuốn giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam, nhà ngôn ngữ - văn
hóa học Trần Ngọc Thêm định nghĩa:
“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội”8.
- Năm 1998, trong công trình Bản sắc văn hoá Việt Nam, nhà văn hoá học Phan
Ngọc đã định nghĩa:
“Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay
một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô
hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ
mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thống nhất, biểu hiện thành một
kiểu lựa chọn riêng của các cá nhân hay các tộc người khác”9.
- Các quan điểm chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hoá:
“Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc
tại, tạo ra một kiểu lựa chọn riêng của tộc người, một cá nhân so với một tộc người
khác, một cá nhân khác, tạo thành những nhân cách văn hoá (cá nhân), những nền văn
hoá khác nhau (cộng đồng).
Hoặc có thể khái quát những nhìn nhận về khái niệm văn hoá và định nghĩa văn
hoá theo 4 tầng diện sau đây:
a. Tầng diện tinh thần (tầng diện tâm lý), bao gồm các yếu tố đức tin (tin
ngưỡng, tôn giáo), hệ thống triết học, ý thức tư tưởng, quan niệm giá trị, hứng thú
thẩm mỹ, tính cách dân tộc.
b. Tầng diện hành vi, bao gồm lối sống, phương thức sản xuất, nghi lễ, lễ hội,
quan hệ giữa con người với nhau,
c. Tầng diện vật chất, bao gồm các sản phẩm văn hoá được “vật hoá” như ăn
mặc, phương tiện đi lại, công cụ lao động, kỹ thuật,…
d. Tầng diện các chế độ, bao gồm các thể chế chính trị, mô hình tổ chức xã hội,
chế độ pháp luật.11
Hoặc có thể quy về hai loại cơ bản sau:
a. Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử, …
b. Văn hoá hiểu theo nghĩa hẹp, bao gồm văn học, nghệ thuật, học vấn, …12.
Với những bình diện tiếp cận và nhận thức khái niệm văn hóa như trên, cho đến
nay, văn hóa được chia ra hai phạm vi cơ bản: Văn hóa vật chất (material culture) và
văn hóa tinh thần (spiritual culture); và đối với giới khoa học cùng các tổ chức khoa
học – văn hóa – xã hội (đại diện tầm thế giới là Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn
hóa của Liên hợp quốc – UNESCO), văn hóa được chia thành hai phạm vi là văn hóa
vật thể (tangible culture) và văn hóa phi vật thể (intangible culture).
3. Những đặc trưng và chức năng cơ bản của văn hoá
Sự phân biệt giữa đặc trưng và chức năng của văn hoá chỉ mang tính tương đối.
Thực tế, xét về bản chất, cả hai phạm trù này gắn kết hữu cơ với nhau. Không phải
ngẫu nhiên mà đa số các nhà nghiên cứu văn hoá khi nêu ra chức năng của đối tượng
phức tạp này đều đồng nhất với đặc trưng của chính nó.
3.1. Những đặc trưng cơ bản của văn hoá
Các nhà nghiên cứu đã nêu ra bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa:
tính truyền thồng của cộng đồng thì những thang giá trị của văn hoá chính là thước đo
mức độ, phạm vi nhân bản của cộng đồng xã hội và cá nhân con người. Đặc trưng giá
trị của văn hóa cho phép phân biệt văn hóa với hiện tượng phi văn hóa.
Theo chất liệu giá trị văn hóa được chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần.
Theo sử dụng có thể chia thành giá trị sử dụng và git đạo đức, giá trị thẩm mĩ. Theo tg
giá trị vĩnh cửu và nhất thời
3.1.3. Văn hoá luôn bộc lộ đặc tính nhân sinh của một hiện tượng thuộc về xã
hội loài người, gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, lấy giá trị do cộng
đồng sáng tạo ra để phục vụ và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ giá trị vật chất và giá trị
tinh thần của con người. Đặc trưng này của văn hoá giúp cho con người nhận thức và
phân biệt giữa giá trị của một hiện tượng xã hội với các giá trị của tự nhiên.
3.1.4. Tính Lịch sử cũng là một đặc trưng của văn hóa.
Văn hoá mang tính vận động liên tục, không gián đoạn. Đó là tiến trình nối
tiếp của sự kế thừa và khai thác các giá trị văn hoá cũ/ truyền thống; đồng thời nó
cũng là một quá trình không ngừng được tích luỹ, bồi đắp và đổi mới để phù hợp với
điều kiện xã hội mới, thời đại mới. Trong tiến trình vận động liên tục đó, đồng thời
với các yếu tố văn hoá mới được tiếp nhận, bổ sung và tiếp biến vào di sản văn hoá
truyền thống, thì những yếu tố văn hoá lỗi thời, không hợp với nhu cầu của lớp
người hiện tại sẽ bị sàng lọc, loại bỏ. Đó là sự vận động biện chứng mang tính lịch
sử của văn hoá.
Văn hoá luôn chứa đựng trong giá trị nội hàm của nó những giá trị lịch sử
mang tính thời đại, tính khu vực, tính dân tộc và tính giai cấp. Không căn cứ vào các
“dấu vết’ của văn hóa (với các thành tố của nó như văn hóa dân gian – folklore, nghệ
thuật điêu khắc dân gian, múa dân gian,…) kết hợp với những vết tích vật chất đào
lên từ lòng đất, chúng ta không thể nhận diện được bóng dáng của lịch sử ngọn
12
nguồn dân tộc, bộ mặt của một giai đoạn lịch sử, thời đại lịch sử nhất định nào đó,
như thời đại Hùng Vương ở Việt Nam chẳng hạn.
xây dựng các truyền thống và bồi đắp nó trên con đường phát triển.
3.2.2. Chức năng giáo dục của văn hoá
Bằng các giá trị đã ổn định, tạo thành truyền thống và những giá trị đang hình
thành, văn hoá đã xác lập ra hàng loạt các hệ thống chuẩn mực nhằm tổ chức, điều
Trần Ngọc Thêm - Cơ sở văn hoá Việt Nam, Sđd, tr. 11 - 13.
Trần Quốc Vượng (chủ biên) - Cơ sở văn hoá Việt Nam, Sđd, tr. 70, 71.
15
Xem thêm: Trần Văn Bính (chủ biên) - Văn hoá xã hội chủ nghĩa, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 1995, tái bản.
13
14
13
chỉnh và góp phần định hướng cho tổng thể các hoạt động của con người nhằm hướng
đến mục tiêu chân, thiện, mỹ. Nhờ đó mà văn hoá đóng vai trò quyết định trong việc
hình thành nhân cách con người; vì con người, vì sự phát triển và hoàn thiện của con
người. Nhờ có chức năng giáo dục mà văn hoá được trao truyền từ thế hệ này qua thế
hệ khác, mở rộng từ không gian văn hoá gia đình, dòng họ đến không gian văn hoá địa
phương (vùng, miền) và không gian văn hoá dân tộc. Và như vậy, với chức năng giáo
dục, văn hoá tạo ra sự phát triển liên tục của lịch sử, trong quá trình vận hành, nó góp
phần loại bỏ những yếu tố, hành vi, hành động vô văn hoá, vô giá trị trong đời sống xã
hội nói chung. Trong quá trình giao lưu, hội nhập văn hoá giữa các tộc người, giữa các
dân tộc, chức năng giáo dục làm cho văn hoá có sự tiếp nhận, tiếp biến những cái phù
hợp, đáp ứng nhu cầu xã hội, con người và chống lại sự đồng hoá, chèn ép hoặc xâm
lấn của văn hoá ngoại lai.
3.2.3. Chức năng giao tiếp của văn hoá
Văn hoá là một hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với hoạt động
thực tiễn của con người cho nên văn hoá trở thành sợi dây nối liền con người với con
người, thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau, thông qua
cách, tài năng của một con người.
- Khi gắn với khái niệm “văn hóa” thành cụm từ “bản sắc văn hóa” mang ý
nghĩa chỉ cái cốt lõi, chỉ những đặc trưng riêng của một cộng đồng văn hóa trong
lịch sử phát triển, tạo cơ sở cho sự phân biệt, nhận diện sự khác nhau giữa tộc người
này với tộc người khác, dân tộc này với dân tộc khác. Hay nói cách khác, bản sắc
văn hóa là tổng thể các giá trị đặc trưng mang tính bản chất, bền vững của văn hóa
dân tộc, được hình thành và phát triển, bồi đắp qua quá trình lịch sử lâu dài. Nói đến
bản sắc và bản sắc văn hóa, quy gọn lại, là nói đến hai mối quan hệ trong một chỉnh
thể hữu cơ, mối quan hệ bên ngoài, lộ ra các dấu hiệu để phân biệt, nhận diện các
cộng đồng với nhau; nhiều mối quan hệ nội tại để thể hiện các tính chất riêng của mỗi
cá thể trong lòng cộng đồng.
Trong khoảng chục năm trở lại đây, khái niệm “bản sắc văn hóa” luôn luôn được
nhắc đến trong các công trình, bài báo bàn luận về văn hóa và văn hóa của một dân tộc
cụ thể hoặc trong mối quan hệ giao lưu toàn cầu. Khái niệm bản sắc văn hóa được
nhắc đến nhiều khi khó mang tính xác định vì sự trừu tượng, tiềm ẩn của nó gắn với
các thành tố văn hóa, với cấu trúc văn hóa. Tuy nhiên, để nhận biết được cái gọi là bản
sắc văn hóa hay bản sắc văn hóa dân tộc cần đi sâu làm lộ diện các sắc thái biểu hiện
của các thành tố văn hóa hợp thành nên nền văn hóa dân tộc, khắc họa bản sắc/ đặc
trưng và phương thức tồn tại của một cộng đồng, tạo ra những nét đặc thù để nhìn
vào đó, có thể phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác, từ đó khẳng định sự hiện
diện theo dáng vẻ riêng của dân tộc trong quá trình giao lưu và hội nhập trong cộng
đồng quốc gia đa dân tộc, hoặc giao lưu quốc tế.
- Bản sắc văn hóa, nhìn một cách tổng thể, của bất kỳ dân tộc nào, đều gắn bó
với lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của chính dân tộc đó. Tuy nhiên, trên tiến
trình lịch sử, bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc không phải là một hằng số, không
hoàn toàn là những giá trị bất biến, mà trong quá trình hội nhập, giao lưu, tiếp biến
giữa các nền văn hóa, bản sắc đó luôn có thêm những giá trị mới được hình thành và
tiếp tục được bồi tụ để định hình và lộ diện, phù hợp với sự tiến hóa của lịch sử.
- Trong nguyên lý hình thành, tồn tại và phát triển đó, bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam là những phẩm chất, giá trị văn hóa hợp luyện từ các dân tộc khác nhau
hệ,… Đồng thời, với một hoàn cảnh địa lý và thiên nhiên khắc nghiệt, mưa lũ, bão
gió,… con người muốn tồn tại phải có tinh thần lao động cần cù, sáng tạo và đoàn
kết cộng đồng để đắp đê chống lụt, trồng cây nuôi rừng, canh tác ruộng nương,
ruộng đồng để cùng nhau tồn tại.
2. Những biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc
- Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc: “Nói đến bản sắc văn hóa tức là nói đến cái
mặt bất biến của văn hóa trong quá trình phát triển của lịch sử”. Và “cái mặt bất biến
đó luôn được tồn tại sinh động trong một hệ thống những quan hệ của văn hóa và cái
tạo thành tính bất biến của các hệ thống quan hệ này là những nhu cầu của tâm thức
con người Việt Nam”. Xuất phát từ quan niệm tiếp cận này, khi đi sâu tìm hiểu bản
sắc văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Ngọc dừng lại ở cấu trúc của hệ thống
yếu tố: Tổ quốc, Gia đình, Thân phận và Diện mạo 17.
- Theo GS TSKH Trần Ngọc Thêm, bản sắc văn hóa cần được tìm hiểu theo
cấu trúc của hệ thống văn hóa gồm bốn thành tố: Hệ văn hóa nhận thức (Gồm kho
tàng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và về con người); Hệ văn hóa tổ
Văn kiện Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 1998, tr. 56. (Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc).
17
Phan Ngọc - Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn học, 2002, tr. 34 - 35.
16
16
chức cộng đồng (những yếu tố liên quan đến tổ chức đời sống tập thể và tổ chức đời
sống cá nhân); Hệ văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên; Hệ văn hóa ứng xử với
môi trường xã hội18.
Ngoài ra, đã và đang còn những quan niệm tiếp cận hệ thống cấu trúc khác
nhau của văn hóa, để qua đó tìm ra bản sắc riêng của từng nền văn hóa dân tộc.
2.2. Tập quán - Tín ngưỡng - Nghi lễ
Thành tố này của văn hóa cũng là các yếu tố bộc lộ bản sắc văn hóa của một
cộng đồng người nhất định. Thực trạng sinh hoạt xã hội cho thấy, mỗi dân tộc, mỗi
18
Trần Ngọc Thêm - Cơ sở văn hóa Việt Nam, Sđd.
17
tộc người thường có các hệ thống tập quán, tín ngưỡng, nghi lễ của riêng mình. Đó
là sản phẩm của nhận thức con người trong những môi trường địa lý - tự nhiên và
môi trường xã hội nhất định. Mức độ và trình độ nhận thức để cấu thành nên thành
tố văn hóa này gắn bó chặt chẽ với truyền thống văn hóa của chính dân tộc đó, kể từ
ngọn nguồn đến các chặng đường phát triển kế tiếp nhau trên tiến trình lịch sử.
Thường nhận thấy một số loại sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng - nghi lễ bộc lộ đặc
trưng khác nhau giữa các tộc người, các dân tộc thiểu số:
- Tập quán - tín ngưỡng thờ vật tổ, sùng bái tự nhiên.
- Nghi lễ vòng đời người từ trước khi sinh ra đến sau khi mất đi.
- Các đồ vật dùng cho nghi lễ và các hình thức tế lễ.
2.3. Luật tục, phong tục
Trong đời sống văn hóa cộng đồng, luật tục và phong tục như một thứ thiết
chế văn hóa vô hình, một thứ luật pháp riêng của cộng đồng nhằm thiết lập và được
sự đồng thuận của mọi thành viên tuân theo các điều luật về cung cách, phạm vi,
mức độ ứng xử với tự nhiên, xã hội và quan hệ giữa con người với con người trong
cộng đồng. Ở mỗi dân tộc, mỗi tộc người, các điều luật tục, phong tục cũng khác
nhau, thể hiện quan niệm, quan điểm của người dân trước việc quy định các sự việc,
hiện tượng, điều khiển các hành vi, hành động của từng cá nhân, phục vụ mục đích
bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ và ổn định, phát triển đời sống xã hội và gìn giữ
an ninh cộng đồng. Thông qua luật tục, phong tục, dễ nhận thấy bản sắc văn hóa của
người, một dân tộc. Sự hiện diện của cách kiến trúc và hình thức kiến trúc từ một ngôi
nhà cụ thể không chỉ nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt, tránh mưa nắng, mà còn thể hiện
những tín ngưỡng, tập tục, những nhận thức về cách ứng xử với môi trường tự nhiên
và quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo. Đối với các tộc người, dân tộc miền núi, bản
sắc văn hóa từ sự hiện diện của loại hình văn hóa vật thể này còn thể hiện rõ cả ở
những khu nhà mồ, nhà kho, nhà bếp…
2.8. Sinh hoạt văn hóa nghệ thuật trình diễn
Trong số 53 dân tộc thiểu số anh em trong cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt
Nam, số lượng các làn điệu, các thể loại dân ca rất phong phú. Mỗi dân tộc đều sáng
tạo được cho mình những thể loại dân ca với các làn điệu độc đáo, tạo nên bản sắc
riêng, phản ánh tâm tư, tình cảm và đời sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Song
hành cùng môi trường sinh hoạt văn hóa dân gian là các hình thức nghệ thuật cổ
truyền, thể hiện các thủ pháp nghệ thuật đa dạng, phong phú, in đậm lối tư duy,
khiếu thẩm mỹ của từng dân tộc. Ngoài ra, ngân vang cùng lời ca tiếng hát của các
dân tộc là hàng loạt các hệ thống nhạc cụ được người dân sáng tạo từ nguyên vật liệu
của vùng đất mình cư trú, góp phần tạo ra diện mạo của nghệ thuật âm thanh và nghệ
thuật trình diễn mỗi nơi một vẻ, mang bản sắc độc đáo, đại diện cho bản làng, vùng,
miền, tạo ra những truyền thống âm nhạc dân tộc quý báu.
III. VÙNG VĂN HÓA
1. Khái niệm vùng văn hóa
- Khái niệm “vùng văn hóa” và lý thuyết “vùng văn hóa” được đề xướng bởi
nhà văn hoá học người Đức Robert Frizt Greebner (1877 - 1934) vào cuối thế kỷ XIX.
Tuy nhiên, lý thuyết này vẫn mới chỉ là biểu hiện của một xu hướng nghiên cứu trên
cơ sở của trường phái “truyền bá văn hóa”, chỉ ra văn hóa là một tập hợp những bản
chất hoặc nhân tố, từ đó có những khu vực tương đồng văn hóa với nhau. Trong khi
đó, sự phát triển của ngành địa lý - lịch sử đã tạo điều kiện cho các nhà nhân học văn
hóa đi sâu vào việc khám phá bản chất thực thụ của văn hóa, từ đó xác định rằng, về
bản chất, các dân tộc không đi theo một con đường tiến hóa đồng nhất mà văn hóa
của mỗi dân tộc thường được nảy sinh, tồn tại trong những hoàn cảnh địa lý khác
cung cách nhận thức - hoạt động riêng, tạo ra nếp sống, phong tục tập quán, văn
học nghệ thuật, ngôn ngữ và các quan hệ giao lưu kinh tế - văn hóa,… giữa nội bộ
cộng đồng hay với cư dân của các vùng đất/ địa phương khác.
2. Phân vùng văn hóa ở Việt Nam
Trên cơ sở kế thừa và mở rộng quá trình nghiên cứu vùng văn hóa, một số nhà
nghiên cứu văn hóa đã quan tâm đến việc phân vùng để tạo cơ sở cho việc nhận diện
và tiếp cận những đặc trưng, bản sắc văn hóa ở các không gian văn hóa khác nhau.
Cũng do quan niệm của chủ quan cá nhân mà hiện tại, việc phân chia vùng văn hóa ở
Việt Nam chưa có sự thống nhất hoặc so lệch nhau. Có thể nhận thấy một số dạng
phân chia sau đây:
* GS.TS. Ngô Đức Thịnh, trong công trình khoa học Văn hóa vùng và phân vùng
văn hóa ở Việt Nam (1993) do ông làm chủ biên, đã cho rằng Việt Nam có 7 vùng
văn hóa:
19
Ngô Đức Thịnh (chủ biên) - Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb. KHXH, H, 1993, tr. 81.
20
- Vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ.
- Vùng văn hóa Việt Bắc.
- Vùng văn hóa Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ.
- Vùng văn hóa đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ.
- Vùng văn hóa duyên hải Trung và Nam Trung Bộ.
- Vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên.
- Vùng văn hóa Gia Định - Nam Bộ.
* GS. Đinh Gia Khánh và nhà thơ Huy Cận khi chủ biên công trình Các vùng
văn hóa VIệt Nam (1995) đã chia ra 9 vùng văn hóa:
- Vùng văn hóa đồng bằng miền Bắc.
nhau thể hiện ở quan niệm về các vùng văn hóa và tiểu vùng văn hóa lồng trong một
không gian văn hóa mà thôi.
Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, có thể đi đến đồng thuận với cách phân
chia các vùng văn hóa của GS. Trần Quốc Vượng kết hợp với việc nhìn nhận trong
đó sự tồn tại của các tiểu vùng văn hóa, mà như cách gọi dân gian, nhiều khi tương
đương với khái niệm “xứ” (xứ Huế, xứ Thanh, xứ Lạng, Xứ Đoài, xứ Kinh Bắc, Xứ
Đồng Nai, xứ Quảng…).
3. Vùng văn hóa các dân tộc thiểu số và các bản sắc văn hóa chủ yếu
Một đặc điểm chung của các vùng văn hóa thuộc vùng đất của 53 dân tộc
thiểu số cư trú là, về mặt địa hình, đa số thuộc vùng núi có nhiều thung lũng, lòng
chảo; về mặt xã hội, đây là các vùng đất cư trú của nhiều dân tộc sống đan xen, có
quan hệ giao lưu chặt chẽ về mặt kinh tế và văn hóa trên một tiến trình lịch sử lâu
dài. Chính vì vậy, khi đi sâu giới thiệu bản sắc văn hóa các dân tộc, chỉ có thể dừng
lại ở các yếu tố/ thành tố văn hóa mang tính tiêu biểu của những dân tộc, tộc người
giữ vai trò đại diện cho bộ mặt, đặc trưng của văn hóa vùng, trên cơ sở định hướng
cho học sinh phổ thông nhận thức chung về các biện pháp, giải pháp để có ý thức bảo
tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, phù hợp với tiến trình
phát triển chung của văn hóa cộng đồng quốc gia đa dân tộc hiện tại và lâu dài.
3.1. Vùng văn hóa Tây Bắc
Khu vực địa lý nằm về phía tây bắc thủ đô Hà Nội, bao gồm các tỉnh Lai
Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, là nơi cư trú, làm ăn từ lâu
đời của hơn 20 dân tộc anh em như Thái, Mông, Dao, Mường, Khơ Mú, La Ha…
Là vùng đất của núi non hiểm trở điệp trùng kế tiếp nhau cùng khí hậu có phần
khắc nghiệt, sông suối nhiều thác lũ, Tây Bắc hiện ra với dáng vẻ hùng tráng và là
mảnh đất nảy sinh nuôi dưỡng cho nhiều yếu tố văn hóa đặc sắc của đồng bào các
dân tộc. Đây là vùng đất có nhiều di tích danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Dấu
tích chiến trường Điện Biên, bên cạnh là những thành bản Phủ, đèo Pha Đin, hồ Pá
Khoang, hang Thẩm Púa,… Ngược lên Lai Châu, có thể thăm dinh Đèo Văn Long,
chợ tình lừng danh vì hấp dẫn và kỳ thú. Người Mường rộn ràng trong các điệu múa
bông và đâm đuống cùng những đêm âm vang tiếng cồng chiêng bên bếp lửa đợi sẵn
rượu cần… Có thể nói, bản sắc văn hóa rõ nét nhất của vùng Tây Bắc là các điệu
múa dân tộc, trong đó điệu múa sạp đã thành nhịp cầu chung của hầu hết các dân tộc
nơi đây trong mỗi kỳ giao lưu sinh hoạt văn hóa.
3.1.3. Về lễ hội
Người dân các dân tộc nơi đây luôn thể hiện bản sắc tổng hợp của văn hóa dân
tộc qua các kỳ lễ tiết, lễ hội trong năm. Đó là hội Hoa ban, hội Xên bản, Xên Mường
(cầu mùa, cầu phúc), Hội Hạn Khuống (giao duyên), lễ hội cầu mưa của người Thái;
đó còn là hội Xéc bùa (cồng chiêng), lễ cầu mát của người Mường; Hội Mừng măng
mọc của các dân tộc La Hư, Khơ Mú, Mảng; hội Pin Pang người Thái trắng, lễ cúng
bản người Cống, hội tung còn người Tày, hội đền Bản Phủ và nhất là lễ hội kỷ niệm
Chiến thắng Điện Biên Phủ của cộng đồng các dân tộc Tây bắc hàng năm.
3.1.4. Về bản sắc trong văn hóa nghệ thuật
Nói đến vùng văn hóa Tây Bắc là nói đến quê hương của các truyện thơ dân
gian. Hầu như mỗi tộc người trong vùng đều có một kho tàng sáng tác ngôn từ đa
dạng về thể loại, phong phú trong cách diễn xướng hoặc các lời cầu khấn, các bài
văn vần truyền dạy đạo đức cho con cái, các thần thoại, đồng dao, cổ tích… Có thể
nói, Tây Bắc là quê hương của các bản trường ca và những tập dân ca đồ sộ, nơi
chứa đựng, phản ánh một cách sinh động đời sống sinh hoạt xã hội và cuộc sống tinh
thần của con người miền núi. Khơi dậy lòng tự hào của thế hệ trẻ bằng cách trao
truyền cho nhau vốn văn hóa quý báu này là góp phần đắc lực vào bảo tồn ngôn ngữ
các dân tộc, bảo tồn kinh nghiệm ứng xử với tự nhiên, xã hội và con người trong quá
23
khứ, khai thác phục vụ cho đời sống văn hóa hiện tại và mai sau. Nhiều bản trường
ca ra đời từ Vùng đất Tây bắc nhưng đã được giới thiệu với bạn đọc muôn phương,
như Táy pú xớc (dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha) kể về quá trình lịch
sử của người Thái vào vùng đất này, Tẻ tất tẻ nác (Đẻ đất đẻ nước) của người
Là vùng đất có địa hình tuy hiểm trở nhưng ít bị chia cắt như Tây Bắc, bao
gồm 6 tỉnh của chiến khu năm xưa (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên,
Tuyên Quang, Hà Giang) và một phần tây bắc Quảng Ninh, đông bắc Bắc Giang.
Việt Bắc và Đông Bắc Bộ là xứ sở của nguồn tài nguyên trong lòng đất. Với hơn hai
chục dân tộc cư trú, vùng đất này mang dặc trưng văn hóa chủ đạo là văn hóa Tày Nùng vì số dân cư đông đúc và nếp sinh hoạt văn hóa, văn minh mang tính cộng
đồng cao, có ảnh hưởng tích cực, sâu rộng đến các dân tộc khác trong quá trình giao
24