BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
---------------
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
HOÀNG MINH KHOA
PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TIỀN VAY THEO HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNGTỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG GIAO
DỊCH BẢO ĐẢMTRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã ngành:8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN
Hà Nội, tháng 4 năm 2018
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế
thị trường, nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh ngày càng gia tăng, khiến cho
hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng cũng trở nên quan trọng. Để phòng ngừa rủi
ro từ hoạt động cho vay, các tổ chức tín dụng thường yêu cầu khách hàng phải cam
kết bảo đảm bằng tài sản thông qua các hình thức như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh.
Có thể nhận thấy rằng, việc sáng tạo ra các biện pháp bảo đảm tiền vay được coi là
thành công lớn của nền pháp lý nhân loại. Ở Việt Nam, bảo đảm tiền vay bằng tài
sản là một trong những biện pháp quản trị rủi ro hiệu quả nhất của tổ chức tín dụng
khi cấp các khoản tín dụng cho khách hàng. Trong bối cảnh Việt Nam đang xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo cơ chế thị trường, nhiều quy định về
bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay bằng tài sản đã và đang bộc lộ những hạn chế, bất
cập nhất định, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp
theo hợp đồng tín dụng, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo
đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu, làm rõ các vấn
đề sau đây:
- Những vấn đề lý thuyết về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo
hợp đồng tín dụng và pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng
tín dụng.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về đảm bảo tiền vay theo hợp đồng tín dụngvà
thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng
từ hoạt động công chứng giao dịch bảo đảm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;
- Đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả
nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các học thuyết, quan điểm, kết
luận khoa học của các tác giả trong và ngoài nước về bảo đảm nghĩa vụ dân sự nói
chung và bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay nói riêng theo hợp đồng tín dụng giữa
ngân hàng thương mại với khách hàng; các quy định pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ
trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng; tình hình thực tiễn thực hiện pháp luật về
3
bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụngtừ thực tiễn hoạt động công
chứng giao dịch bảo đảm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định bao gồm: a) các vấn đề lý
luận về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng và pháp luật về
bảo đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng; b) các hạn chế, bất cập của pháp luật về
bảo đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng vàthực tiễn thực hiện pháp luật về bảo
đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp tiếp cận từ thực tiễn thực hiện
thông dụng, bên cạnh những hợp đồng kinh doanh thương mại khác như hợp đồng
mua bán hàng hóa và hợp đồng cung cấp dịch vụ.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Cho vay là hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hội loài
người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Khái niệm cho vay, theo
nghĩa chung nhất được hiểu là việc một người thoả thuận để cho người khác
được quyền sử dụng tài sản của mình (vật cùng loại) trong một thời hạn nhất
định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối với
người đó1.
Trong thực tiễn đời sống kinh doanh thương mại hiện nay, để xác lập và thực
hiện giao dịch cho vay vốn giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, các bên thường
phải giao kết hợp đồng tín dụng. Vì thế, hợp đồng tín dụng được biết đến như là
một công cụ pháp lý để xác lập và thực hiện quan hệ vay vốn giữa khách hàng vay
là tổ chức, cá nhân với bên cho vay là tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, việc định nghĩa
như thế nào về hợp đồng tín dụng lại là vấn đề tương đối phức tạp, bởi nó là vấn đề
1 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB
Công an nhân dân, Hà Nội 2017, tr. 143.
5
mang tính học thuật, do đó nó liên quan đến quan điểm nhận thức và cách tiếp cận
vấn đề của người nghiên cứu.
Trong khoa học pháp lý, hợp đồng tín dụng được định nghĩa làthoả thuận
bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (gọi là bên cho vay) với khách hàng là tổ chức,
cá nhân (gọi là bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền
cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả
gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm2. Định nghĩa này cho thấy hợp đồng tín dụng thể
hiện sự kết hợp thống nhất giữahai yếu tố: Một là, về phương diện hình thức, sự
thoả thuận giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng (bên đi vay) phải
bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thoả mãn những
điều kiện vay vốn do pháp luật hoặc do tổ chức tín dụng quy định.
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng tín dụng là tiền (vốn vay). Về nguyên tắc,
đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải
được các bên thoả thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng.
Thứ ba, hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền
lợi của bên cho vay. Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên
cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau thời hạn nhất định. Thời hạn cho vay
càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn và vì thế tổ chức tín dụng càng phải
quan tâm đến việc áp dụng các biện pháp quản trị rủi ro, đồng thời phải quy định lãi
suất cho vay cao hơn nhằm thu hồi đủ các chi phí bỏ ra cho việc quản lí các khoản
cho vay dài hạn vốn có mức độ rủi ro cao.
Thứ tư, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ. Trong hợp đồng tín dụng,
nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng
phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
của bên vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển
giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền
yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các nghĩa vụ
chính như sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cả
gốc và lãi...).
Thứ năm, về hình thức hợp đồng tín dụng, theo thông lệ loại hợp đồng này
luôn luôn và bắt buộc phải được giao kết bằng văn bản. Điều này xuất phát từ nhu
cầu đảm bảo tính an toàn về pháp lý và phòng ngừa các rủi ro pháp lý cho các bên
liên quan trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Tóm lại, có thể kết luận rằng hợp đồng tín dụng là công cụ pháp lý không thể
thiếu đối với bên vay và bên cho vay trong quá trình vay vốn để thỏa mãn nhu cầu
kinh doanh hoặc tiêu dùng trong xã hội đương đại. Vì thế, việc thiết lập cơ chế bảo
7
6 Xem thêm: The California Department of Real Estate (2000) A Real Estate Guide.
Chapter 29, Glossary, www.dre.ca.gov/pdf_docs/ref29
8
đảm và các vấn đề liên quan đến lợi ích bảo đảm. Tất cả các giao dịch làm phát sinh
lợi ích bảo đảm đều được điều chỉnh bởi pháp luật về bảo đảm.
Cũng giống như hệ thống thông luật (common law), các nước theo hệ thống
pháp luật thành văn (civil law) có BLDS cổ điển và truyền thống như Pháp không
có khái niệm về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Nếu như hệ thống common law
chỉ quan tâm đến nội dung của pháp luật bảo đảm thì civil law lại chú trọng đến
hình thức, chỉ liệt kê ra các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp. bảo lãnh,
chiếm giữ tài sản, quyền ưu tiên…
Chịu ảnh hưởng nhiều của pháp luật Pháp, Luật dân sự Việt Nam qua các
thời kỳ cũng đi theo hướng liệt kê các biện pháp bảo đảm mà không nêu ra những
đặc điểm chung, cơ bản nhất của khái niệm bảo đảm nghĩa vụ dân sự.
Vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được quy định trong Pháp lệnh
Hợp đồng dân sự Việt Nam năm 1991, BLDS 1995, BLDS 2005. Tại Pháp lệnh hợp
đồng dân sự năm 1991, nhà làm luật đã quy định 4 biện pháp bảo đảm bằng tài sản là
thế chấp, bảo lãnh, cầm cố, đặt cọc. Trong khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế chỉ quy
định thế chấp, bảo lãnh, cầm cố. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Pháp lệnh hợp đồng
dân sự cũng đã đặt nền móng quan trọng cho việc hình thành và phát triển của pháp
luật về giao dịch bảo đảm tại Việt Nam, tuy nhiên phạm vi còn hạn hẹp, đơn giản.
Trong thời kỳ Bộ luật dân sự 1995 và Bộ luật dân sự 2005 đang có hiệu lực,
chế định về bảo đảm nghĩa vụ dân sự được quy định tại Mục 5 “Bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự”. Lần đầu tiên, khái niệm giao dịch bảo đảm đã được quy định tại
Điều 325 Bộ luật dân sự 2005 về “đăng ký giao dịch bảo đảm”, theo đó“giao dịch
bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định về việc
thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này”.
quan hệ bảo đảm tiền vay được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận giữa bên bảo đảm và bên
nhận bảo đảm về việc áp dụng các biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (vì trả
nợ vay là một loại nghĩa vụ dân sự). Mục đích thực hiện giao dịch bảo đảm đều nhằm
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền.
Từ những phân tích ở trên, cùng với việc tiếp cận khái niệm về giao dịch dân
sự được quy định trong Bộ luật dân sự 2005, có thể đưa ra khái niệm bảo đảm nghĩa
vụ trả nợ tiền vay tại các tổ chức tín dụng như sau:
7
Xem thêm: TS. Nguyễn Văn Tuyến, đặc điểm pháp lý và mối quan hệ hiệu lực giữa
hợp đồng thế chấp tài sản với hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay của tổ chức
tín dụng, Tạp chí ngân hàng số 17/2010.
10
Bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay tại các tổ chức tín dụng là hợp đồng bảo
đảm được ký kết giữa tổ chức tín dụng (bên nhận bảo đảm) với tổ chức, cá nhân
(bên bảo đảm) theo đóbên bảo đảm cam kết với bên nhận bảo đảm sẽ thực hiện
nghĩa vụ trả nợ tiền vay cho tổ chức tín dụngnếu khi đến hạn mà nghĩa vụ đó không
được thực hiện bởi bên có nghĩa vụ (bên vay)theo hợp đồng tín dụng.
Như vậy, từ định nghĩa nêu trên, có thể thấy rằng về bản chất thì bảo đảm
nghĩa vụ trả nợ tiền vay luôn tồn tại dưới dạng là một giao dịch dân sự (gọi là giao
dịch bảo đảm tiền vay) và giao dịch này tồn tại một cách độc lập, không phụ thuộc
vào giao dịch có nghĩa vụ cần được bảo đảm, mặc dù giữa hai loại giao dịch này
(giao dịch bảo đảm và giao dịch có nghĩa vụ được bảo đảm) luôn có mối quan hệ
tác động qua lại lẫn nhau.
1.1.3. Cơ chế thực hiện các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay
theo hợp đồng tín dụng
Trên nguyên tắc, mối quan hệ giữa hợp đồng bảo đảm tiền vay với hợp đồng
đảm đăng kí sau hoặc trước các chủ nợ không được bảo đảm bằng tài sản đó.
Thứ ba, trong hợp đồng tín dụng có bảo đảm, quy trình thủ tục kí kết và thực
hiện hợp đồng bao giờ cũng phức tạp hơn so với hợp đồng tín dụng không có bảo
đảm bằng tài sản, bởi lẽ các bên phải thoả thuận thêm về điều khoản bảo đảm nghĩa
vụ trả nợ tiền vay, ngoài những điều khoản thông dụng khác của hợp đồng tín dụng.
Thực tế cho thấy rằng việc kí kết hợp đồng bảo đảm càng chặt chẽ bao nhiêu thì
mức độ an toàn về phương diện pháp lí cho các bên càng cao bấy nhiêu. Vì lẽ đó,
nhiều tổ chức tín dụng tỏ ra rất quan tâm đến những khía cạnh pháp lí của việc kí
kết hợp đồng bảo đảm, chẳng hạn như vấn đề hiệu lực pháp lí của hợp đồng, quyền
và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ hợp đồng bảo đảm, mối quan hệ giữa hiệu lực
của hợp đồng bảo đảm với hợp đồng tín dụng9.
Về lý thuyết, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay
theo hợp đồng tín dụng thực chất là các bên tiến hành kí kết và thực hiện hợp đồng
tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay, bao gồm:
Kí kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay
Về lý thuyết, do hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay vốn độc
lập với nhau về mặt hiệu lực nên việc kí kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo
8 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Tư
pháp, Hà Nội 2016.
9 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Tư
pháp, Hà Nội 2016.
12
đảm tiền vay giữa các bên liên quan có thể được thực hiện đồng thời cùng một thời
điểm hoặc không cùng thời điểm. Trường hợp các bên đã kí kết hợp đồng tín dụng
và sau đó một thời gian mới ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay thì trong suốt thời
gian kể từ khi kí kết hợp đồng tín dụng cho đến khi ký kết hợp đồng bảo đảm tiền
vay, khoản vay được cung cấp theo hợp đồng tín dụng sẽ được coi là khoản vay
việc các bên chủ động thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng
này.Thực hiện hợp đồng tín dụng được hiểu là việc các bên (bên cho vay và bên
vay) chủ động thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã phát sinh từ hợp đồng tín dụng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, các bên phải tuân thủ một số nguyên
tắc thực hiện hợp đồng do pháp luật quy định như: nguyên tắc thực hiện đúng các
cam kết hợp đồng; thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi
nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau; không xâm phạm lợi ích công cộng và
quyền, lợi ích của chủ thể khác.Thực tế cho thấy việc thực hiện hợp đồng tín dụng
có thể xảy ra một trong hai tình trạng sau đây:Một là, nếu các bên thực hiện đúng
các cam kết trong hợp đồng tín dụng thì hợp đồng sẽ chấm dứt hiệu lực khi tất cả
các quyền, nghĩa vụ của các bên đã được thực hiện xong và các bên có trách
nhiệm thực hiện việc thanh lí hợp đồng. Hai là, nếu một bên hoặc cả hai bên vi
phạm các cam kết trong hợp đồng tín dụng thì về nguyên tắc bên vi phạm sẽ phải
chịu trách nhiệm pháp lí đối với hành vi vi phạm của mình. Trách nhiệm pháp lí
trong trường hợp này sẽ được áp dụng theo thoả thuận của các bên hoặc theo quy
định của pháp luật10.
Tương tự, việc thực hiện hợp đồng bảo đảm tiền vay cũng có thể được hiểu
là việc các bên (bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm) chủ động thực hiện các quyền,
nghĩa vụ của họ phát sinh từ hợp đồng. Thực tế cho thấy, việc thực hiện hợp đồng
bảo đảm tiền vay có thể xảy ra một trong hai tình huống sau đây: Một là, nếu bên
vay đã thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ tiền vay, khi đó tổ chức tín dụng
– với tư cách là bên nhận bảo đảm sẽ phải hoàn trả lại tài sản bảo đảm và thực
hiện nghĩa vụ giải chấp tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm, đồng thời thanh lý hợp
đồng bảo đảm tiền vay với bên bảo đảm. Hai là, nếu bên vay không thực hiện
nghĩa vụ trả nợ tiền vay đúng hạn, khi đó tổ chức tín dụng – với tư cách là bên
nhận bảo đảm, sẽ có quyền yêu cầu bên bảo đảm bàn giao tài sản bảo đảm để phát
mãi theo phương thức do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật
10 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB
Tư pháp, Hà Nội 2016.
bảo đảm chỉ đặt ra khi hợp đồng đó phát sinh hiệu lực pháp lí cho các bên cam kết.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng có bảo đảm, mỗi bên đều phải thực
11 Xem thêm: Điều 15 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ
về giao dịch bảo đảm.
12 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB
Tư pháp, Hà Nội 2016.
15
hiện tất cả những quyền và nghĩa vụ mà mình đã cam kết. Hợp đồng tín dụng chỉ
được coi là đã thực hiện xong khi nào các bên đã hoàn thành tất cả những quyền,
nghĩa vụ của mình đối với bên đối ước và các bên tiến hành thanh lí hợp đồng. Tuy
nhiên, vấn đề sẽ trở nên rắc rối và phức tạp hơn khi một trong các bên hoặc cả hai
bên đều không thi hành các nghĩa vụ của mình như đã cam kết. Hệ quả pháp lí tất
yếu là bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ sẽ phải gánh chịu các chế tài do các bên đã
thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, đối với trường hợp bên vay
vi phạm nghĩa vụ hoàn trả tiền vay và các nghĩa vụ khác có liên quan thì về nguyên
tắc là khối tài sản bảo đảm sẽ được đem ra phát mại theo quy định của pháp luật để
thu hồi nợ cho phía tổ chức tín dụng. Nếu khối tài sản bảo đảm không phát mại
được hoặc phát mại được nhưng không đủ thanh toán nợ cho tổ chức tín dụng thì
khi đó tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu bên vay phải thanh toán nợ bằng các tài
sản khác của mình13.
Vậy, trong trường hợp hợp đồng tín dụng có bảo đảm bị vô hiệu thì cách
giải quyết đối với tài sản bảo đảm là như thế nào?Theo quy định đã dẫn ở trên, do
hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay là hai hợp đồng độc lập về mặt
hiệu lực pháp lí nên khi hợp đồng tín dụng có bảo đảm bị vô hiệu thì sẽ không dẫn
tới sự vô hiệu của hợp đồng bảo đảm tiền vay. Khi đó, khối tài sản bảo đảm sẽ
được giải quyết như sau: a) Nếu hợp đồng tín dụng có bảo đảm bị vô hiệu nhưng
các bên chưa thực hiện, nghĩa là không phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tài sản thì do
dụng được áp dụng phổ biến hiện nay
Trên thế giới, pháp luật các nước đều thừa nhận nhiều biện pháp bảo đảm
khác nhau để giúp bên chủ nợ và khách nợ có thể lựa chọn áp dụng biện pháp thích
hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tại Việt Nam, Điều 292 Bộ
luật dân sự 2015 đã ghi nhận 9 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm
cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh, ký cược, ký quỹ, đặt cọc, bảo lưu quyền sở
hữu, tín chấp, cầm giữ tài sản, trong đó các biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh
được áp dụng thường xuyên trong các quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với
khách hàng. Bằng cách ghi nhận các biện pháp bảo đảm này, nhà làm luật đã thiết
lập cơ sở pháp lý vững chắc cho việc áp dụng các biện pháp bảo đảm trong quan
hệ tài sản nói chung và quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay
nói riêng.
Trong khuôn khổ giới hạn của luận văn này, tác giả chỉ tập trung phân tích ba
14 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB
Tư pháp, Hà Nội 2016.
15 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB
Tư pháp, Hà Nội 2016.
17
biện pháp bảo đảm tiền vay có tính phổ biến dưới đây:
Thứ nhất, về biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín
dụng bằng cầm cố tài sản.
Trong khoa học pháp lý, cầm cố tài sản được quan niệm là biện pháp bảo
đảm đối vật, theo đó bên cầm cố phải chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình
cho bên nhận cầm cố giữ để làm tin khi khoản nợ vay không được bên vay thanh
toán đầy đủ và đúng hạn. Còn trong pháp luật thực định, nhà làm luật định nghĩa:
“Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc
quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm
đảm đối vật, theo đó bên thế chấp không phải chuyển giao tài sản thế chấp thuộc sở
hữu của mình cho bên nhận thế chấp chiếm giữ, quản lýmà chỉ bàn giao giấy tờ gốc
chứng minh quyền sở hữu tài sản cho bên nhận thế chấp. Còn trong pháp luật thực
định, nhà làm luật định nghĩa: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên
thế chấp) dùng tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên
kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”18.
Về lý thuyết, biện pháp thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay
theo hợp đồng tín dụng có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là,trong biện pháp thế chấp tài sản, bên thế chấp vẫn tiếp tục quản lý tài
sản thế chấp trong suốt thời gian thế chấp mà không phải chuyển giao tài sản thế
chấp cho bên nhận thế chấp nắm giữ, quản lý. Tuy nhiên, các bên cũng có thể thỏa
thuận chuyển giao tài sản thế chấp cho bên thứ ba quản lý nhằm đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp cho bên nhận thế chấp19.
Hai là,đối với biện pháp thế chấp tài sản, tuy bên nhận thế chấp không trực
tiếp cầm giữ tài sản thế chấp nhưng về nguyên tắc họ luôn có quyền ưu tiên theo
đuổi tài sản và phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho mình, bất luận tài sản thế
chấp đang nằm trong tay ai và chúng được quản lý như thế nào. Đặc điểm này xuất
phát từ bản chất của thế chấp tài sản, vốn dĩ là một biện pháp bảo đảm đối vật. Đây
cũng là đặc trưng có tính bản chất của thế chấp tài sản và giúp cho thế chấp tài sản
trở thành biện pháp bảo đảm ưu việt nhất trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bên nhận thế chấp, so với các biện pháp bảo đảm khác, đặc biệt là các biện
pháp bảo đảm đối nhân.
Ba là, trong thời gian thế chấp, bên thế chấp hầu như có đầy đủ các quyền
của chủ tài sản như: khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp,
trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thỏa thuận; đầu tư để
18 Xem thêm: Khoản 1 Điều 317 Bộ luật dân sự 2015.
19 Vấn đề này hiện được nhà làm luật Việt Nam ghi nhận tại khoản 2 Điều 317 Bộ luật
dân sự 2015.
19
bảo lãnh không cam kết đem một tài sản cụ thể của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ
20 Thực tế cho thấy, các quyền năng này cũng đã được nhà làm luật Việt Nam ghi
nhận tại Điều 321 Bộ luật dân sự 2015.
21 Xem thêm: Khoản 1 Điều 335 Bộ luật dân sự 2015.
20
của bên được bảo lãnh đối với bên có quyền, mà chỉ cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ
thay cho bên được bảo lãnh nếu đến hạn mà người này không thực hiện nghĩa vụ
đối với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh). Nói như vậy có nghĩa là, bên nhận bảo
lãnh không thiết lập được quyền ưu tiên và quyền theo đuổi đối với các tài sản cụ
thể của bên bảo lãnh trong suốt thời gian bảo lãnh. Vì vậy, bên bảo lãnh có thể lợi
dụng nguyên tắc này để tìm cách “tẩu tán tài sản”của mình trước khi bị bên nhận
bảo lãnh yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh (nghĩa vụ trả nợ thay bên
được bảo lãnh). Đây cũng chính là điểm bất lợi hay điểm hạn chế của các biện pháp
bảo đảm đối nhân nói chung và bảo lãnh nói riêng, so với các biện pháp bảo đảm
đối vật - đặc biệt là biện pháp thế chấp tài sản.
Hai là,trong biện pháp bảo lãnh, bên bảo lãnh chỉ đóng vai trò là “con nợ dự
bị” của bên nhận bảo lãnh (bên có quyền), so với “con nợ chính” là bên được bảo
lãnh (bên có nghĩa vụ được bảo đảm bằng bảo lãnh). Nói cách khác, bên bảo lãnh
chỉ phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo lãnh khi bên được bảo
lãnh – với tư cách là con nợ chính, đã không thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận
bảo lãnh khi đến hạn. Tuy nhiên, nếu các bên có thỏa thuận thì bên bảo lãnh cũng có
thể bị bên nhận bảo lãnh đòi tiền ngay cả khi bên được bảo lãnh vẫn có khả năng
thực hiện nghĩa vụ của họ.
Tóm lại, có thể khẳng định rằng việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay
có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với tổ chức tín dụng trong nền kinh tế thị
trường. Ngoài ra, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm này trong quan hệ cho vay
của tổ chức tín dụng cũng góp phần đảm bảo sự an toàn cho hệ thống ngân hàng và
(ii) Nhóm quy định về xác lậpgiao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay
theo hợp đồng tín dụng. Về lý thuyết, nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ
quy định rõ các hình thức bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng;
quy trình, thủ tục xác lập giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng
tín dụng; vấn đề hiệu lực của giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp
đồng tín dụng.
(iii) Nhóm quy định về thực hiện giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay
theo hợp đồng tín dụng. Về lý thuyết, nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ
quy định về nguyên tắc và trình tự, thủ tục thực hiện giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả
nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng vì lợi ích của các bên tham gia giao dịch bảo
đảm. Mặt khác, nhóm quy phạm pháp luật này cũng có nhiệm vụ xác định rõ hậu
22
quả pháp lý của trường hợp các bên không thực hiện đúng cam kết trong giao dịch
bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng (chẳng hạn như: chế tài
đối với hành vi vi phạm hợp đồng bảo đảm, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng bảo đảm…).
(iv) Nhóm quy định về xử lý tài sản trong giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ
tiền vay theo hợp đồng tín dụng. Nhiệm vụ của nhóm quy phạm pháp luật này là
xác định rõ các trường hợp cần xử lý tài sản bảo đảm; nguyên tắc và phương thức
xử lý tài sản bảo đảm; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong quá
trình xử lý tài sản bảo đảm; trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ
tiền vay theo hợp đồng tín dụng.
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật vềbảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền
vay theo hợp đồng tín dụng
Không thể phủ nhận rằng có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến pháp luật
về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng trong nền kinh tế thị
trường ở mỗi quốc gia.Ở mức độ khái quát, có thể cho rằng các yếu tố này bao
gồm:
gia có nền kinh tế - xã hội kém phát triển hoặc chậm phát triển thì tất yếu nó sẽ tác
ðộng ðến sự phát triển của hệ thống pháp luật, trong ðó có các quy ðịnh về bảo đảm
nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng. Vì vậy, ðể hoàn thiện pháp luật về
bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng, Nhà nýớc rất cần chú ý
ðến mối quan hệ tác ðộng qua lại giữa yếu tố kinh tế và yếu tố pháp luật, giống nhý
mối quan hệ biện chứng giữa cõ sở hạ tầng và kiến trúc thýợng tầng trong một hình
thái kinh tế xã hội vậy.
Thứ ba, yếu tố truyền thống vãn hóa và ðạo ðức xã hội, ðạo ðức nghề nghiệp.
Ðây là một trong những yếu tố có tác ðộng trực tiếp ðến pháp luật kinh tế nói chung
và pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụngnói riêng.
Ðiều này thể hiện ở chỗ, về lý thuyết cũng nhý trong thực tế, tất cả các bên tham gia
vào giao dịch bảo ðảm và giao dịch cho vay ðều chịu ảnh hýởng ít nhiều bởi truyền
thống vãn hóa dân tộc cũng nhý vãn hóa kinh doanh và ðạo ðức nghề nghiệp, ðạo
ðức xã hội. Ðiều này có ảnh hýởng nhất ðịnh ðến thói quen thực hiện pháp luật và
tuân thủ pháp luật của chủ thể tham gia vào giao dịch bảo ðảm. Vì vậy, việc xây
dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín
dụng cần phải tính ðến sự tác ðộng của yếu tố vãn hóa kinh doanh và ðạo ðức nghề
24
nghiệp, ðạo ðức xã hội của ngýời tham gia vào giao dịch bảo ðảm nhằm giúp cho
các quy ðịnh này ðạt ðýợc mức ðộ hiệu quả tối ýu.
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ TRẢ NỢ
TIỀN VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TỪ THỰC TIỄN
CÔNG CHỨNG GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
VĨNH PHÚC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp
đồng tín dụng