Luận văn thạc sỹ - Quản lý vốn bảo trì đường bộ của Sở giao thông vận tải Lạng Sơn - Pdf 54

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------

NGUYỄN THỊ HƯƠNG TRÀ

QUẢN LÝ VỐN BẢO TRÌ ĐƯỜNG BỘ
CỦA SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI LẠNG SƠN


HÀ NỘI - 2018TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-----  -----

NGUYỄN THỊ HƯƠNG TRÀ

QUẢN LÝ VỐN BẢO TRÌ ĐƯỜNG BỘ
CỦA SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI LẠNG SƠN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
MÃ NGÀNH: 8340410

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN

HÀ NỘI - 2018


3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi. Số liệu

5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
BOT
BT
BTĐB
BTO
GDP
GTVT
HĐND
KBNN
KT-XH
NSNN
ODA
PPP
QL
QLNN
UBND
XDCB

Ý nghĩa
Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao
Xây dựng-Chuyển giao
Bảo trì đường bộ
Xây dựng-Chuyển giao -Vận hành
Tổng sản phẩm quốc nội
Giao thông vận tải

đất; tỷ lệ đường có tiêu chuẩn kỹ thuật cấp cao (cấp I-III) còn thấp, riêng quốc lộ
mới đạt 41% chiều dài, một số tuyến chưa thông; năm 2007, tỷ lệ chất lượng quốc
lộ đạt loại 1, 2 (tốt, khá) chỉ chiếm 23,53%, trung bình 45,5%, còn lại khoảng trên
30% là loại 5, 6 (xấu và rất xấu). Theo chu kỳ, khoảng thời gian giữa 2 lần sửa chữa
vừa là 5 hoặc 8 năm đối với đường bê tông nhựa, bê tông xi măng và tương ứng là
15 hoặc 25 năm giữa 2 lần sửa chữa lớn. Đối với các loại mặt đường cấp thấp hơn,
khoảng thời gian còn ngắn hơn rất nhiều.
Trước những năm 1990, đầu tư vào phát triển đường bộ chỉ có duy nhất một
nguồn vốn là NSNN; sau đó có thêm nguồn vốn tín dụng trong nước, ODA; sau
những năm 2000 đã có thêm vốn của các doanhnghiệp và vốn từ các thành phần
kinh tế tư nhân, theo hình thức BOT, BTO, BT...
Theo các tổ chức tiền tệ thế giới, chúng ta có khối lượng tài sản đường bộ rất
lớn và trong 5- 10 năm tới, cần có thêm các hình thức đầu tư kết hợp nhà nước - tư
nhân (còn gọi là kết hợp công tư - PPP) và huy động từ nguồn phí do người sử dụng
chi trả theo nguyên tắc người sử dụng đường bộ phải đóng góp phí sử dụng đường.
Có thể nói, nguồn vốn cho việc xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp kết cấu hạ tầng
giao thông đường bộ đã được đa dạng hoá, xã hội hoá và cần tiếp tục duy trì, bởi vì
nguồn vốn ODA, vay ưu đãi... có thể sẽ giảm sau khi nền kinh tế của nước ta vượt
qua một ngưỡng nhất định. Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ còn


8
chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế do đất nước đã trải qua các cuộc chiến tranh
kéo dài, thường xuyên gặp phải thiên tai; kinh tế đất nước còn rất khó khăn nên trừ
các quốc lộ trục chính được khôi phục, cải tạo, nâng cấp, còn lại phần lớn chưa
được vào cấp kỹ thuật, nhiều tuyến đường, nhiều cầu yếu kể cả trên các quốc lộ cần
phải được sửa chữa, thay thế, xây dựng mới. Việc đầu tư xây dựng mới đường bộ
được hầu hết các nước quan tâm nhưng Việt Nam cũng ở như các nước, đó là thiếu
vốn cho bảo trì đường bộ ( BTĐB). Trong những năm qua, việc bố trí vốn cho quản
lý, BTĐBđã được cố gắng đến mức cao nhất nhưng cũng chỉ mới đáp ứng được 3050% nhu cầu. Đã có thêm các hình thức như chủ đầu tư tự vay vốn để sửa chữa, cho

Chính vì những lý do đó, học viên quyết định lựa chọn để tài: “Quản lý vốn
bảo trì đường bộ của Sở giao thông vận tải Lạng Sơn” làm đối tượng nghiên cứu
luận văn thạc sĩ với mong muốn đóng góp một phần công sức vào việc hoàn thiện
công tác quản lý vốn BTĐB của Sở GTVT Lạng Sơn, qua đó, góp phần vào sự phát
triển ngành GTVT trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Quản lý vốn BTĐB là vấn đề hết sức quan trọng lý luận và thực tiễn trong lĩnh
vực GTVT. Công tác đầu tư xây dựng các công trình đường bộ diễn ra một cách tràn lan,
trong khi công tác quản lý bảo trì các công trình chưa được quan tâm, nguồn vốn dành
cho công tác BTĐB luôn trong tình trạng “thiếu trước, hụt sau”. “Mười đồng đầu tư,
không thể bằng một đồng bảo trì” đó là một câu nói hoàn toàn đúng trong thực tế công
tác đầu tư, sử dụng và bảo dưỡng các tuyến đường Quốc lộ, tỉnh lộ trên địa bàn cả nước.
Vì vậy, đề tài nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý BTĐB được rất nhiều người
quan tâm, đặc biệt là các nhà nghiên cứu làm công tác quản lý nguồn vốn BTĐB.
Ở Việt Nam, trong một vài năm gần đây, lĩnh vực nghiên cứu về quản lý vốn
NSNN đã được nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện như:
- Luận án tiến sĩ: “Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN
ở Việt Nam” của tác giả Bùi Mạnh Cường (2012). Luận án đã làm rõ những vấn đề
về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN. Xây
dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn
vốn NSNN. Sử dụng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư
phát triển từ nguồn vốn NSNN để đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội ở
Việt Nam giai đoạn 2005-2010. Luận án đã đề xuất định hướng, hệ thống giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020.


10
- Luận án tiến sĩ: “Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng các công
trình giao thông tại Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Ánh Tuyết (2012), Học viện chính trị



11
quan thực trạng công tác huy động và sử dụng vốn cho BTĐBở Việt Nam từ năm
2009 đến nay, chỉ ra được những kết quả, những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân
của những khó khăn, hạn chế đó. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các giải pháp có
tính khả thi cao, phù hợp với thực tế, giúp cho các cơ quan quản lý đường bộ có thể
vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam để huy động và sử dụng
hiệu quả vốn cho BTĐB, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH.
Ngoài ra còn có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo khác
cũng đề cập đến vấn đề quản lý vốn BTĐB. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách có hệ thống và hoàn thiện chính sách quản lý vốn BTĐB trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn dưới góc độ chuyên ngành quản lý kinh tế. Chính vì vậy, tôi
hy vọng đây là một trong những công trình nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý vốn BTĐB đối với các Sở GTVT.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và phân
tích thực trạng quản lý vốn BTĐB của Sở GTVT Lạng Sơn để đề xuất các giải pháp
phù hợp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn này.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định một số nhiệm vụ nghiên
cứu cụ thể sau đây trong quá trình nghiên cứu:
- Xác định khung lý thuyết về quản lý vốn BTĐB của Sở GTVT tỉnh.
- Phân tích thực trạng quản lý vốn BTĐB của Sở GTVT Lạng Sơn; Đánh giá
những điểm mạnh, những điểm yếu cùng các nguyên nhân dẫn đến những điểm yếu
trong công tác quản lý vốn này.
- Đề xuất một số phương hướng giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý vốn
BTĐB của Sở GTVT Lạng Sơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý vốn BTĐB của Sở GTVT Lạng Sơn.
Quản lý vốn BTĐB bao gồm quản lý huy động và quản lý sử dụng nguồn

ục GTVT
tiêu của quản lý vốn BTĐB của Sở GTV

Xây dựng và giao kế hoạch
vốn
BTĐB
(1) Đảm
bảo
nguồn vốn NSNN được sử dụng một cách

(2) Góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của ngườ
(3) Góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất;
Thẩm định tính khả thi của phương án sử dụng vốn BTĐB
(4) Tạo được lòng tin của nhân dân đối với ngành GTV

Nhóm nhân tố thuộc về Sở GTVT

Nhóm nhân tố thuộc về đối tượng sử dụng vốn BTĐB

\

Cấp phát, thanh toán và quyết toán vốn BTĐB

Nhóm nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô

Kiểm tra vốn BTĐB

Khung nghiên cứu của luận văn
Nguồn: Học viên xây dựng


- Thông tin, số liệu sơ cấp thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm Excel
trước khi đưa vào phân tích trong luận văn.


14
- Luận văn vận dụng các phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học
như phương pháp phân tích, tổng hợp, tư duy logic, các phương pháp kỹ thuật như
thống kê, so sánh và đánh giá... trong nghiên cứu lý luận cũng như trong đánh giá
thực tiễn.
6. Kết cấu của đề tài
Nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý vốn bảo trì đường bộ của Sở Giao thông
vận tải.
Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý vốn bảo trì đường bộ của Sở Giao
thông vận tải Lạng Sơn.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý vốn bảo trì đường
bộ của Sở Giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn.


15

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ VỐN BẢO TRÌ ĐƯỜNG BỘ
CỦA SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI
1.1. Vốn bảo trì đường bộ
1.1.1. Khái niệm về vốn bảo trì đường bộ
1.1.1.1.Tổng quan vềbảo trì đường bộ
Bảo trì đường bộ hay bảo trì công trình đường bộlà tập hợp các hoạt động
nhằm duy trì hoạt động bình thường của công trình đường bộ và đảm bảo an toàn

xác định khái niệm vốn BTĐB như sau: Vốn bảo trì đường bộ là toàn bộ chi phí
bỏ ra để thực hiện mục đích duy trì hoạt động bình thường của công trình đường bộ
và đảm bảo an toàn cho các đối tượng sử dụng đường bộ.
Vốn BTĐB là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích nhằm bảo đảm và
duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình đường bộ theo quy định của
thiết kế trong quá trình khai thác, sử dụng.
Những năm qua, được sự quan tâm của Nhà nước, vốn đầu tư cho việc bảo
dưỡng, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hệ thống đường bộ ngày càng tăng nên kết cấu
hạ tầng giao thông đường bộ đã được cải thiện đáng kể. Thực tế hiện nay, nguồn
vốn cho việc bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông
đường bộ đã được đa dạng hóa. Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trên
cả nước vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, còn nhiều tuyến đường chưa
được cải tạo, nâng cấp, đường chưa vào cấp kỹ thuật, cầu yếu còn nhiều, hàng năm
lại thường xuyên gặp thiên tai như bão, lũ, lụt nên càng cần thiết phải chú trọng
nhiều hơn cho công tác BTĐB.
1.1.2. Đặc điểm của vốn bảo trì đường bộ
Vốn BTĐB có những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Vốn BTĐB là một bộ phận của vốn đầu tư phát triển. Vốn cho công tác
BTĐB là giá trị một bộ phận tích lũy của nền kinh tế bao gồm phần tiết kiệm
của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của
chính phủ trong và ngoài nước được huy động cho công tác BTĐB. Việc sử
dụng vốn BTĐB luôn gắn chặt với đặc điểm hoạt động bảo trì công trình giao
thông đường bộ.


17
- Nhu cầu vốn BTĐB không ổn định. Vốn BTĐB vừa dành cho công tác bảo
dưỡng thường xuyên vừa dành cho công tác sửa chữa định kỳ hoặc đột xuất theo
tính chất công việc bảo trì, do vậy, nhu cầu vốn không ổn định, đòi hỏi luôn đảm
bảo một lượng vốn sẵn sàng và thủ tục cấp vốn linh hoạt để khắc phục hậu quả thiên

từ phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự
án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn
vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay.
Vốn từ chính sách thu phí giao thông: Các loại phí này bao gồm: Thu phí sử
dụng đường bộ; thu phí thu hàng năm đối với kiểu loại phương tiện; phụ thu đối với
phương tiện vận tải nặng; thu phí và tiền phạt với xe quá khổ, quá tải;...
+ Vốn của dân cư và kinh tế tư nhân, gồm: Vốn của doanh nghiệp tư nhân và
các nhà đầu tư trong nước; Vốn của dân cư.
Vốn của doanh nghiệp tư nhân và các nhà đầu tư trong nước: Các tuyến
đường đầu tư theo hình thức BOT thì kinh phí để bảo trì tuyến đường được lấy từ
chi phí bảo trì được quy định trong hợp đồng BOT. Tại Việt Nam, các Nhà đầu tư
BOT bảo trì bằng vốn BOT với tổng chiều dài khoảng gần 10% chiều dài quốc lộ.
Ngoài ra, huy động vốn từ tư nhân có thể dưới các hình thức bán quyền thu phí, cho
thuê quyền khai thác, chuyển nhượng có thời hạn tài sản hạ tầng đường bộ.
Vốn của dân cư. Tại các vùng nông thôn, có thể huy động hình thức cộng
đồng dân cư ở nông thôn tự thực hiện công tác bảo trì bằng nguồn lực tại chỗ.
+ Vốn viện trợ phát triển chính thức là các khoản viện trợ không hoàn lại
hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi (về lãi suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ
quan chính thức thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ
(NGO). Ở Việt Nam, Vốn ODA dành cho đầu tư xây dựng và BTĐB giai đoạn
2011-2015 chiếm vị trí quan trọng với tỷ lệ trung bình là 27% tổng vốn đầu tư. Với
lĩnh vực bảo trì, để thu hút được nguồn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tỷ trọng
vốn, mức độ thu hồi vốn, quản lý nhà nước, đặc biệt là hiệu quả sử dụng vốn.
- Phân loại theo nội dung kinh tế, bao gồm: vốn cho xây dựng lắp đặt, vốn
cho mua sắm máy móc thiết bị, vốn kiến thiết cơ bản khác.
1.2. Quản lý vốn bảo trì đường bộ của Sở Giao thông vận tải
1.2.1. Khái niệm quản lý vốn bảo trì đường bộ của Sở Giao thông vận tải
Nhìn nhận vấn đề một cách khái quát, có thể hiểu rằng: Quản lý vốn BTĐB
là tổng thể các biện pháp, công cụ, cách thức mà Nhà nước tác động vào quá trình


và tất
toán
khoản
Điềuđầu
hành
vốn
đầu tư vốn
XDCB
và quyết
(cơ quan
toán KBNN)
vốn đầu tư d
Xây dựng danh mục dự án và phân
bổ kế
vốn (cơ
quan
kếtài
hoạch
tư)nguồn
(2a)

(2b)

Hình 1.1: Quy trình quản lý vốn BTĐB
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các quy định về dự án đầu tư


20
Ghi chú: 1a, 1b, 1c - quan hệ công việc giữa cơ quan chủ đầu tư với từng cơ
quan chức năng; 2a, 2b - trình tự giải ngân vốn đầu tư cho các chủ đầu tư.

21
1.2.3. Nguyên tắc quản lý vốn bảo trì đường bộ của Sở Giao thông vận tải
Công tác quản lý vốn BTĐB phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật.
Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi các công việc quản lý vốn từ lập kế hoạch
vốn, cấp phát, thanh toán, quyết toán vốn BTĐB phải tuân thủ pháp luật, quy định
trong quản lý Quỹ BTĐB;vốn BTĐB phải được sử dụng đúng mục đích, đúng kế
hoạch và đảm bảo tính kế hoạch, cân đối của Quỹ BTĐB.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ.
Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi việc quản lý sử dụng vốn BTĐB cần được
thực hiện thống nhất, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng chủ thể; tách
bạch giữa chức năng QLNN của cơ quan Nhà nước với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Nguyên tắc công khai, minh bạch:
Với nguyên tắc này, người dân cần biết rõ việc quản lý sử dụng vốn
choBTĐBđược thực hiện như thế nào, sử dụng có đúng mục đích không, hiệu quả
sử dụng cao hay thấp.
- Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả:
Nguyên tắc này thể hiện ở việc cung cấp dịch vụ đường bộ chất lượng tốt
nhất với chi phí thấp nhất, bảo trì được nhiều km đường nhất với chi phí cho phép.
- Nguyên tắc công bằng:
Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải đảm bảo sự công bằng, hợp lý trong
phân bổ, sử dụng vốn giữa các vùng, giữa các địa phương trên địa bàn tỉnh, giữa
vốn dành cho bảo dưỡng thường xuyên và sửa chữa công trình đường bộ.
- Nguyên tắc ổn định:
Đảm bảo các nguồn vốn huy động cho BTĐB được ổn định, sử dụng có kế
hoạch, hiệu quả.
1.2.3. Bộ máy quản lý vốn bảo trì đường bộ của Sở Giao thông vận tải
Ở Việt Nam hiện nay, nguồn vốn BTĐB được tập trung vào Quỹ BTĐB, Quỹ
này do Hội đồng quản lý quỹ thực hiện quản lý. Quỹ được phân cấp thành Quỹ

dự án BTĐB. Việc rà soát điều chỉnh được tiến hành theo thẩm quyền (thường là
định kỳ) để bổ sung điều chỉnh kế hoạch, chuyển vốn các dự án không thực hiện
được sang các dự án thực hiện nhanh... Bảo đảm đẩy nhanh tiến độ giải ngân mang
lại hiệu quả cao trong quản lý vốn BTĐB.


23
b) Giao kế hoạch vốn bảo trì đường bộ
Sau khi kế hoạch chi vốn BTĐB được HĐND, UBND tỉnh phê duyệt, Sở
GTVT xây dựng phương án phân bổ vốn BTĐBvà gửi Sở Tài chính thẩm tra.
Sở Tài chính thẩm tra phương án phân bổ vốn BTĐB về chấp hành các
nguyên tắc phân bổ vốn như: Điều kiện, cơ cấu chi... Sở Tài chính xem xét các thủ
tục đầu tư của các dự án BTĐB. Trường hợp đúng được chấp nhận bằng thông báo
của Sở Tài chính. Trường hợp không đúng quy định, không đủ thủ tục thì Sở Tài
chính có văn bản đề nghị Sở GTVT điều chỉnh lại.
Sau khi Sở Tài chính thẩm tra chấp nhận, Sở GTVT giao chỉ tiêu kế hoạch
cho các đơn vị sử dụng vốn BTĐB, các chủ đầu tư các dự án BTĐB để thực hiện.
Đồng thời gửi KBNN nơi các đơn vị, các dự án BTĐB mở tài khoản để theo dõi
làm căn cứ kiểm soát thanh toán vốn.
1.2.4.2. Thẩm định tính khả thi của phương án sử dụng vốn bảo trì đường bộ
Công việc thẩm định tính khả thi của phương án sử dụng vốn BTĐB chỉ áp
dụng đối với các dự án (nhiệm vụ chi có tính chất đầu tư).
Sau khi giao kế hoạch vốn, các dự án BTĐB được duyệt cấp vốn phải được
thẩm định tính khả thi của phương án sử dụng vốn mà các chủ đầu tư xây dựng
nhằm đảm bảo hiệu quả tối đa của đầu tư.
Sở Tài chính là đơn vị chịu trách nhiệm thẩm định tính khả thi của phương
án sử dụng vốn BTĐB do các chủ đầu tư các dự án BTĐB gửi lên. Việc thẩm định
này tập trung vào một số nội dung chủ yếu:
- Sự phù hợp của dự án đối với nguồn vốn đầu tư; sự phù hợp về mục đích,
đối tượng đầu tư bằng nguồn vốn dự kiến sử dụng.

BTĐB, cùng hồ sơ chứng từ theo quy định hiện hành.
KBNN nơi giao dịch kiểm tra các căn cứ trên, thực hiện kiểm soát các khoản
chi từ Quỹ BTĐB trước khi cấp phát tạm ứng, thanh toán theo đề nghị của Thủ
trưởng đơn vị được giao quản lý kinh phí theo quy định hiện hành, cụ thể:
- Đối với nhiệm vụ chi có tính chất thường xuyên: Việc tạm ứng và thanh
toán thực hiện theo quy định tại Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012
của Bộ Tài chính quy định chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua
KBNN, Thông tư số 39/2016/TT-BTC ngày 01/03/2016 về việc sửa đổi, bổ sung
một số điều của Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ Tài chính
và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có).
- Đối với nhiệm vụ chi có tính chất đầu tư: Việc tạm ứng và thanh toán thực


25
hiện theo quy định của pháp luật đối với các khoản chi từ nguồn kinh phí thường
xuyên các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp cho sửa chữa, cải tạo mở rộng,
nâng cấp các cơ sở vật chất hiện có, bảo trì trụ sở.
b) Quyết toán vốn BTĐB
Sở Tài chính chủ trì thống nhất với Sở GTVT trình UBND tỉnh quy định về lập,
xét duyệt, thẩm định, thông báo quyết toán năm đối với Quỹ BTĐB địa phương cho
phù hợp (gồm cả phần ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa
phương để cấp cho Quỹ BTĐB địa phương) và tổng hợp chung vào báo cáo quyết toán
ngân sách địa phương theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn.
Cuối năm, nguồn kinh phí của Quỹ BTĐB địa phương còn dư sẽ được
chuyển sang năm sau thực hiện theo quy định của Luật NSNN và các văn bản
hướng dẫn.
Đối với nhiệm vụ chi có tính chất đầu tư phải thực hiện quyết toán theo quy
định của Bộ Tài chính đối với việc quyết toán kinh phí sửa chữa, bảo trì, cải tạo,
nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất từ nguồn chi thường xuyên theo quy định của
Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status