Hòa giải trong vụ án hôn nhân và gia đình_Thực trạng và giải pháp tại Quảng Bình - Pdf 54

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................................... 7
1. Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................................... 7
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................................ 9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................................... 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................................... 10
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ............................................................. 10
6. Kết cấu của khóa luận ....................................................................................................... 10
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
..................................................................................................................................................... 11
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình. ................... 11
1.1.1. Khái niệm hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình. ................................................... 11
1.1.2. Đặc điểm của hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình. .............................................. 14
1.1.3. Ý nghĩa của hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình. ................................................ 18
1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình. ....... 20
1.3. Thủ tục hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình. .............................................................. 24
1.3.1.Triệu tập đương sự. .................................................................................................. 24
1.3.2.Tổ chức phiên hòa giải. ............................................................................................. 26
1.4. Phạm vi hòa giải. ............................................................................................................. 35
1.4.1. Những vụ án không được hòa giải. ......................................................................... 35
1.5.2. Những vụ án không tiến hành hòa giải được. ........................................................ 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HÒA GIẢI VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI TỈNH QUẢNG
BÌNH ........................................................................................................................................... 43
2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Bình. .......................................................... 43
2.2. Thực trạng hòa giải vụ án trong HN&GĐ tại tỉnh Quảng Bình. ................................ 48
2.2.1. Thực trạng hòa giải thành và nguyên nhân. .......................................................... 48
2.2.2. Thực trạng hòa giải vụ án HN&GĐ không thành và nguyên nhân. ................... 53


2.4. Đánh giá công tác hòa giải vụ án HN&GĐ tại Tòa án nhân dân các cấp ở Quảng Bình.
................................................................................................................................................. 61


Tòa án nhân dân tối cao

TTDS

Tố tụng dân sự


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu bảng
2.1

2.2

Tên bảng
Thống kê thụ lí và giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình
tại Quảng Bình từ năm 2013 đến năm 2017
Thống kê thụ lí và giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình
của các Tòa án tại Quảng Bình từ năm 2013 đến năm 2017


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội; gia đình có hạnh phúc ấm no, hạnh phúc thì xã
hội mới có thể phát triển. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, sự tan vỡ của các gia
đình ngày càng gia tăng. Cuộc điều tra do Bộ VH-TT&DL phối hợp với Tổng cục
Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF cho thấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh
chóng ở Việt Nam. Cụ thể trong năm 2017, ở Việt Nam đã có hơn 90.000 vụ ly
hôn. Nguyên nhân ly hôn tập trung vào 4 nguyên nhân chính: Do mâu thuẫn về lối
sống, do ngoại tình, do kinh tế khó khăn và do bạo lực gia đình. Ly hôn tưởng

Để giải quyết án HN&GĐ đạt hiệu quả cao, tránh được những sai sót và đem
lại được lòng tin cho các bên đương sự thì chúng ta cần phải có biện pháp thích
hợp. Biện pháp đó phải hướng tới một kết quả của các bên đương sự cũng mong
muốn, đó là quyết định dựa trên sự thỏa thuận xuất phát từ chính ý nguyện của cả
hai bên. Vậy để đạt được quyết định chung đó thì chúng ta cần làm tốt công tác hòa
giải.
Những quy định của pháp luật về giải quyết án HN&GĐ đã có nhiều tiến bộ,
BLTTDS hiện hành đã quy định hòa giải là một thủ tục bắt buộc và được tiến hành
theo trình tự rất cụ thể song bên cạnh đó có nhiều quy định chưa nhất quán. Trong
khi đó việc giải thích, hướng dẫn pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền chưa kịp
thời, việc phổ biến, tuyên truyền cho người dân còn nhiều hạn chế nên việc hòa giải
các vụ án HN&GĐ chưa đạt kết quả như mong muốn.
Trong thực tế, công tác hòa giải cũng gặp rất nhiều khó khăn do đương sự
không muốn có sự can thiệp của người thứ ba, vì sự cố chấp của đương sự, tình
trạng tranh chấp đã diễn ra quá lâu và các nguyên nhân khác dẫn đến hòa giải


không thành công và hòa giải mang tính hình thức. Chính vì thế tôi mạnh dạn chọn
đề tài: “ Hòa giải trong vụ án hôn nhân và gia đình. Thực trạng và giải pháp tại tỉnh
Quảng Bình” làm khóa luận tốt nghiệp. Qua khóa luận có thể hiểu thêm lí luận về
hòa giải vụ án HN&GĐ; tìm ra thực trạng, nguyên nhân của hòa giải thành và
không thành vụ án HN&GĐ. Từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng hòa
giải vụ án HN&GĐ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hòa giải vụ án là một trong các hoạt động tố tụng được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm và chú trọng. Đã có có rất nhiều bài nghiên cứu về vấn đề hòa giải vụ án
như: Luận văn thạc sĩ Luật học "Hòa giải trong tố tụng dân sự - Thực tiễn và
hướng hoàn thiện" của Bùi Đăng Huy, Trường Đại học luật Hà Nội, 1996; Luận
văn thạc sĩ Luật học "Thủ tục hòa giải vụ việc hôn nhân và gia đình" của Trần Văn
Duy, Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2008; Khóa luận tốt nghiệp: "Hòa

tranh chấp thông qua việc mỗi bên nhượng bộ một ít, đi đến kết quả chung.
Thứ ba: Trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập
(độc lập và không liên quan đến lợi ích của các bên, không đưa ra phán quyết hay
quyết định cuối cùng) để cho ý kiến, đồng thời áp dụng thủ tục để công nhận sự
thỏa thuận giữa các bên tranh chấp.
Như vậy hòa giải được hiểu là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự
giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải
quyết các tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã
hội.
Pháp luật là một công cụ quản lý của Nhà nước, nhằm duy trì ổn định trật tự
xã hội. Khi xây dựng pháp luật thì tất cả các nước đều quy định về hòa giải trong
việc giải quyết các tranh chấp về dân sự trong đó có tranh chấp về HN&GĐ. Tranh
chấp về HN&GĐ là những tranh chấp phát sinh từ các quan hệ xã hội do pháp luật
HN&GĐ điều chỉnh. Khi các cá nhân tham gia vào quan hệ HN&GĐ, trong quá
trình chung sống, xuất hiện những mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, tính
cách không hợp nhau… dần dần những mâu thuẫn đó không được giải quyết dẫn
đến những tranh chấp về hôn nhân gia đình. Khi tranh chấp xảy ra các bên có
quyền lựa chọn cách thức, biện pháp khác nhau để giải quyết và các bên có quyền
yêu cầu các cơ quan, tổ chức khác nhau để giải quyết tranh chấp đó. Theo Điều 28
BLTTDS 2015 của nước ta quy định thì những tranh chấp về HN&GĐ thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án bao gồm:
a. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi
ly hôn.
b. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.


c. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
d. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
e. Tranh chấp về cấp dưỡng.
f. Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục

vào sự thỏa thuận của các đương sự. Ngay cả cơ quan, chủ thể làm trung gian là Tòa
án là cơ quan Tư pháp mang quyền lực Nhà nước cũng không thể can thiệp, hay
cưỡng ép sự thỏa thuận, mà chỉ có vai trò trung gian bên thứ ba giúp đỡ các bên
thỏa thuận với nhau mà không được quyền can thiệp vào những thỏa thuận đó.
Thứ ba: Tòa án là cơ quan duy nhất tiến hành hòa giải vụ án dân sự
Xuất phát từ khái niệm về vụ án dân sự đó là những tranh chấp dân sự được
Tòa án thụ lý thì gọi là vụ án dân sự, do đó hòa giải vụ án dân sự hay vụ án HN&GĐ
chỉ do Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền tiến hành hòa giải.
Hòa giải trong vụ án HN&GĐ là hòa giải trước Tòa án, hay còn gọi là hòa
giải trong quá trình tố tụng và được thực hiện với sự hiện diện của Thẩm phán. Tòa
án có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hòa giải, có trách nhiệm tạo
điều kiện để các đương sự hòa giải với nhau, giúp cho các bên đương sự hiểu rõ


pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội đang tranh chấp, giải thích cho họ về hậu quả
pháp lý trong trường hợp hòa giải thành và hòa giải không thành.
Bên cạnh những đặc điểm chung thì hòa giải vụ án HN&GĐ có những đặc
trưng riêng biệt khác với hòa giải những vụ án dân sự khác như:
Thứ nhất: Trong một số trường hợp, hòa giải vụ án HN&GĐ không chấp nhận
việc ủy quyền cho người khác khi tham gia tố tụng.
Trong quan hệ HN&GĐ thì quan hệ nhân thân là nhóm quan hệ chủ đạo và có
ý nghĩa quyết định. Điều đó có nghĩa là khi các cá nhân tham gia vào quan hệ pháp
luật HN&GĐ thì giữa họ phát sinh các quyền và nghĩa vụ về nhân thân. Vì có mối
quan hệ về nhân thân nên giữa họ mới phát sinh quan hệ về tài sản. Yếu tố tình
cảm gắn bó giữa các chủ thể là đặc trưng cơ bản trong quan hệ HN&GĐ. Đó là
tình yêu thương giữa vợ và chồng, tình thương yêu, kính trọng giữa cha mẹ và con,
giữa các thành viên khác trong gia đình. Vợ chồng phải thực hiện quyền và nghĩa
vụ quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, Cha mẹ phải có nghĩa vụ chăm sóc con cái, cấp
dưỡng nuôi con chung khi ly hôn... Đây là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân,
không thể chuyển giao cho người khác được, do đó khi giải quyết vụ án HN&GĐ

được đoàn tụ, củng cố mối quan hệ HN&GĐ ngày càng bền chặt, củng cố tình cảm
giữa các bên. Trong vụ án ly hôn thông thường bao gồm các vấn đề về tình cảm,
con cái và tài sản chung. Khi tiến hành hòa giải, phải tiến hành hòa giải quan hệ về
tình cảm trước sau đó mới đến các quan hệ tiếp theo. Nếu hòa giải quan hệ tình
cảm mà các bên đoàn tụ thì không phải tiến hành hòa giải các quan hệ còn lại như
con cái, chia tài sản chung, án phí.


1.1.3. Ý nghĩa của hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình.
Thực tiễn áp dụng hòa giải trong giải quyết các vụ án HN&GĐ đã chứng
minh ý nghĩa vai trò to lớn của nó. Trong vụ án HN&GĐ hòa giải có tầm quan
trọng đặc biệt, nếu hòa giải thành thì người được lợi nhiều nhất chính là các đương
sự, không những đương sự tránh được những phiền hà, tốn kém cho những chi phí
cho một vụ kiện mà điều đáng nói là nó giúp cho các đương sự gỡ rối được những
tranh chấp, những mâu thuẫn đang lên đến đỉnh điểm tưởng chừng như không có
lối thoát, giúp các bên củng cố mối quan hệ về mặt tình cảm, giữ được "cái tình
nghĩa vợ chồng", tránh được những hệ lụy xấu từ việc ly hôn gây ra cho chính
những đứa con của họ và cho cả xã hội.
- Ý nghĩa về mặt tố tụng:
Khi hòa giải thành giúp Tòa án giải quyết vụ án mà không phải mở phiên tòa,
tránh được việc khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị, quá trình tố tụng hạn chế kéo dài
không cần thiết như: phúc thẩm, tái thẩm hay giám đốc thẩm.
Trong trường hợp hòa giải thành, mỗi bên đương sự đều thỏa thuận trên cơ sở
ý chí tự nguyện và phù hợp với lợi ích của mình, nên họ tự nguyện trong việc thực
hiện các quyết định của Tòa án, việc thi hành án do đó không cần sự tác động nào
của Tòa án và trở nên đơn giản, dễ dàng hơn, ít để lại hậu quả xấu.
Đối với Tòa án, hòa giải giúp giải quyết nhanh chóng những vụ án hôn nhân
gia đình mà bản chất nội tại của nó đã rất phức tạp bởi mối quan hệ tình cảm giữa
các bên. Hơn nữa, mối quan hệ HN&GĐ thường có thời gian tồn tại rất lâu, nó có
thể gắn liền với mỗi cá nhân đến tận lúc chết. Trong quá trình chung sống với



Hòa giải thành một vụ án ly hôn loại án phổ biến nhất trong các vụ án HN&GĐ
có hai trường hợp được đặt ra. Nếu họ đoàn tụ và rút đơn khởi kiện thì việc hòa
giải đã giúp các bên tiếp tục duy trì, củng cố mối quan hệ HN&GĐ ngày càng
bền chặt và gắn bó hơn. Một xã hội ổn định là một xã hội có tỷ lệ ly hôn thấp, bởi
"gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan
trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt". Gia đình tan
vỡ kéo theo rất nhiều hệ lụy cho con cái điều này làm ảnh hưởng lớn đến sự phát
triển của một xã hội, một quốc gia. Trường hợp thứ hai hòa giải thành các tranh chấp
về HN&GĐ khi ly hôn. Hòa giải thành trong trường hợp này mặc dù họ không
đoàn tụ được nhưng nó cũng củng cố và phát triển quan hệ vốn có giữa các bên
tranh chấp, giảm bớt mâu thuẫn đang diễn ra căng thẳng trong lòng họ. Làm cho
mối quan hệ nhân thân và quan hệ và tài sản được phát triển lành mạnh, hạn chế đến
mức tối đa của sự can thiệp quyền lực công vào quan hệ đó.
1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hòa giải vụ án hôn nhân và gia
đình.
Một là, tính thống nhất giữa pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung; tính
thống nhất giữa nội dung của các điều luật trong pháp luật tố tụng.
Đây là một trong những yếu tố có sự ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hòa giải
vụ án HN&GĐ của Tòa án. Pháp luật TTDS được áp dụng chung để thực hiện giải
quyết đối với các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, pháp luật TTDS chỉ
quy định về trình tự và thủ tục thực hiện, còn việc giải quyết như thế nào, quyết định
ra sao lại thuộc về những quy định của pháp luật nội dung (như BLDS; Bộ luật lao
động; Luật thương mại; Luật HN&GĐ). Do BLTTDS mang quy định chung, tổng
quát, trong khi những quy định của pháp luật nội dung lại có tính chất đặc thù
chuyên biệt nên khi xây dựng pháp luật nội dung cần phải có sự tương thích với quy



những tài sản là bất động sản có giá trị lớn. Khi có tranh chấp xảy ra, các bên tranh
chấp thường căng thẳng và quyết liệt nhằm thu được lợi nhiều hơn về phía mình
nên việc hòa giải của Tòa án cũng gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, khi giải
quyết các tranh chấp liên quan đến quan hệ HN&GĐ thì các đương sự thường có
tâm lý e ngại khi phải thổ lộ cho người thứ ba biết về những mâu thuẫn thực sự
đang tồn tại bên trong nhưng tranh chấp đó bởi nó liên quan đến vấn đề tình cảm
của các bên, tác động trực tiếp đến danh dự của mỗi người nên các đương sự
thường có xu hướng dấu kín các nguyên nhân mâu thuẫn không muốn nói ra.
Chính tâm lý này làm cho người tiến hành hòa giải khó có thể gỡ rối được
những tranh chấp khi không biết được tường tận nội dung của sự việc.
Ba là, trình độ hiểu biết pháp luật của đương sự.
Đây là một trong những yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hòa
giải vụ án hôn nhân gia đình tại Tòa án.
Khi tiến hành hòa giải vụ án HN&GĐ thì các Thẩm phán phải giải thích cho
các đương sự những quy định của pháp luật HN&GĐ như thế nào về vấn đề mà
các bên đang tranh chấp, đồng thời phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ khi tham
gia hòa giải. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu được nội dung mà các Điều luật
quy định. Đặc biệt đối với vụ án ly hôn, tranh chấp về tài sản chung thì thường
người vợ nghĩ rằng họ bị chồng bỏ là một trong nhưng hổ thẹn với xã hội, đôi khi
họ nghĩa rằng mình đã cống hiến cả tuổi trẻ cho chồng, cho con, cho gia đình nên
khi ly hôn thì họ là người thiệt thòi nhất, họ yêu cầu phía bên kia phải bồi thường
cho họ tổn thất về danh dự do việc ly hôn gây ra. Nhưng pháp luật không quy định
về quyền yêu cầu này đối với các bên đương sự vì xuất phát từ việc nam nữ bình
đẳng và tự nguyện kết hôn. Mặc dù nước ta đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm
tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến từng người dân nhưng, trình độ hiểu biết pháp


luật còn rất hạn chế. Điều này không những ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của
đương sự mà còn là sự cản trở cho các Thẩm phán tiến hành hòa giải.
Bốn là, trình độ năng lực, đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán.

trì, cố gắng rất nhiều về trình độ chuyên môn nghiệp vụ ở cán bộ Tòa án đặc biệt
là Thẩm phán; ý thức, nhận thức pháp luật của người dân.
1.3. Thủ tục hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình.
1.3.1. Triệu tập đương sự.
Theo quy định tại Điều 208 BLTTDS, trước khi tiến hành hòa giải Tòa án
phải thông báo về phiên hòa giải cho các đương sự nhằm mục đích công khai việc
hòa giải của Tòa án và tạo điều kiện cho phiên hòa giải được tiến hành đúng thời
gian, đạt hiệu quả. Thông báo về phiên hòa giải phải được tống đạt hợp lệ cho các
đương sự.
Hòa giải là sự thỏa thuận của các đương sự nên các đương sự phải có mặt để
hòa giải với nhau. Nếu có đương sự vắng mặt thì Tòa án xử lý trường hợp đương
sự vắng mặt tại phiên tòa như sau:
Đối với trường hợp vắng mặt lần thứ nhất dù có lý do hay không hoặc vắng
mặt lần thứ hai có lý do chính đáng thì Tòa án sẽ ra quyết định hoãn phiên tòa.
Đối với trường hợp đương sự vắng mặt khi được Tòa án triệu tập lần thứ hai
thì:
Trường hợp vắng mặt nguyên đơn:
Trong vụ án HN&GĐ thường nguyên đơn chỉ có 01 người (vợ hoặc chồng) nếu
nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt (trừ có lý
do chính đáng, sự kiện bất khả kháng) thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS.
Trường hợp vắng mặt bị đơn:


Trong trường hợp bị đơn vắng mặt mà đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai mà vẫn có tình vắng mặt thì Tòa án ra lập biên bản về việc không hòa giải
được và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Trong trường hợp vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 73 BLTTDS quy định: "người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên

Trong biên bản hòa giải có thể ghi thành phần hòa giải bao gồm cả người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, có Tòa đã áp dụng một cách
máy móc và không cho phép người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự tham gia phiên hòa giải vì Điều 209 BLTTDS không quy định. Đã có một số ý
kiến cho rằng "thật vô lý khi luật sư là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự nhưng chỉ được tham gia tại phiên tòa mà không có mặt ở khâu hòa
giải". Như vậy là Tòa án đã hạn chế quyền bảo vệ của luật sư đối với đương sự
của họ trong quá trình tham gia tố tụng. Có luật sư ở phiên hòa giải sẽ giúp cho quá
trình giải quyết vụ án nhanh hơn vì họ chính là người sẽ phân tích, tác động giúp
các đương sự tự thỏa thuận với nhau. Cần có quy định cụ thể về thành phần tham
gia phiên hòa giải bao gồm cả người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự.
Người phiên dịch, nếu đương sự không biết tiếng Việt: Đây là quy định mới
được bổ sung. Sở dĩ phải quy định về thành phần hòa giải gồm có người phiên dịch
vì có những vụ án mà đương sự không biết tiếng Việt nên việc tiến hành hòa giải là
không đạt được. Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc tiếng nói và chữ viết



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status