Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường giai đoạn hiện nay - Pdf 54

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ HÀ VÂN

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ HÀ VÂN

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

Mã số: 62 31 02 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. ĐỖ NGỌC NINH

đối với các lĩnh vực đời sống xã hội
1.3. Kết quả và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ

20
27

Chương 2: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA - NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Đảng Cộng sản Việt Nam và công tác bảo vệ môi trường ở nước ta

29
29

2.2. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường nước ta khái niệm, nội dung và phương thức

60

Chương 3: CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG - THỰC TRẠNG,
NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Thực trạng công tác bảo vệ môi trường ở nước ta

68
68

3.2. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường - thực trạng,
nguyên nhân và kinh nghiệm


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT

: Bảo vệ môi trường

CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

CTBVMT

: Công tác bảo vệ môi trường

HTCT

: Hệ thống chính trị

MTST

: Môi trường sinh thái

MTTQ

: Mặt trận Tổ quốc

PTLĐ

ý thức trách nhiệm của người dân chưa cao nên ở nhiều địa phương môi trường
chưa được bảo vệ tốt. Ở khá nhiều nơi môi trường xuống cấp nhanh chóng, đáng
báo động, tác động xấu đến sự phát triển mọi mặt, nhất là kinh tế - xã hội. Ở một
vài nơi, ô nhiễm môi trường tiềm ẩn những yếu tố trở thành vấn đề chính trị. Từ
thực trạng đó, Đảng ta đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị về BVMT và lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện một cách quyết liệt. Cụ thể, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị
quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nghị quyết chỉ rõ: “Xây dựng
nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hòa giữa tăng trưởng
kinh tế, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều
có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên” [50, tr.3]. Nghị
quyết Đại hội Đại XII của Đảng tiếp tục khẳng định:
Ngăn chặn từng bước và khắc phục sự xuống cấp của môi trường do con
người, nhất là các dự án phát triển kinh tế gây ra. Hạn chế, tiến tới khắc


2
phục tình trạng hủy hoại, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường
của các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, khu đô thị. Ban hành các
chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, ngăn chặn, xử lý theo pháp luật
nhằm chấm dứt tình trạng gây ô nhiễm môi trường... [60, tr.31-32].
Thực hiện các nghị quyết, quan điểm, chủ trương nêu trên của Đảng; trong
thời gian qua, CTBVMT ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực: Nhà nước
đã cụ thể hóa, thể chế hóa các chủ trương, quan điểm, các nghị quyết của Đảng
về BVMT thành chính sách, pháp luật, chương trình, đề án và tổ chức thực hiện
trong toàn xã hội. Nhận thức về BVMT của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc (MTTQ), các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội
và nhân dân được nâng lên một bước; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự
cố về môi trường từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và đa
dạng sinh học có tiến bộ rõ rệt… Những chuyển biến tích cực và kết quả đó, đã

thực hiện đề tài luận án tiến sỹ “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác
bảo vệ môi trường giai đoạn hiện nay”.
2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo CTBVMT, luận án đề xuất giải pháp chủ yếu tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với CTBVMT đến năm 2030.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chỉ ra kết
quả đạt được và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ.
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo CTBVMT trong giai đoạn hiện nay;
- Khảo sát, đánh giá thực trạng CTBVMT và thực trạng Đảng lãnh đạo
CTBVMT ở nước ta trong những năm qua; chỉ ra ưu điểm, khuyết điểm, nguyên
nhân và kinh nhiệm.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với CTBVMT đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
CTBVMT nước ta giai đoạn hiện nay.


4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với CTBVMT từ năm 2004 đến nay; phương hướng và giải pháp đề
xuất trong luận án có giá trị đến năm 2030.
Về không gian: Luận án nghiên cứu CTBVMT và Đảng lãnh đạo
CTBVMT; tập trung nghiên cứu vấn đề này ở một số tỉnh đặc thù của ba miền

mạnh tổng hợp của HTCT, các tổ chức, và toàn dân, mọi nguồn lực trong và
ngoài nước để BVMT. Hai là, Đảng đặc biệt coi trọng lãnh đạo việc xử lý kịp
thời, nghiêm minh những tổ chức và cá nhân vi phạm Luật BVMT.
- Hai giải pháp đột phá tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
CTBVMT đến năm 2030: thứ nhất, xây dựng Nhà nước và chính quyền các cấp
vững mạnh, bảo đảm thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về BVMT. Thứ
hai, xây dựng và phát huy vai trò của các tổ chức cơ sở đảng, cán bộ, đảng viên,
nhất là các đảng bộ xã, phường, thị trấn thực hiện tốt việc tuyên truyền, vận
động, tổ chức nhân dân BVMT.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo CTBVMT nước ta giai đoạn hiện nay.
Luận án góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng nghiên cứu
xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo CTBVMT trong những năm tới.

Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo phục vụ học tập, nghiên cứu môn xây dựng Đảng ở các cơ sở đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước ta, nhất là ở Học viện chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, các trường chính trị tỉnh, thành phố trong cả nước.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các công trình khoa học của tác giả đã công
bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
gồm 4 chương, 9 tiết.


6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG


7
- Nguyễn Minh Hằng, “Môi trường sinh thái - vấn đề của mọi người” [72]
Tác giả khẳng định, môi trường suy thoái (MTST) là một mạng lưới chỉnh
thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống
trong phạm vi toàn cầu. Vì vậy, chỉ cần rối loạn, bất ổn định ở một khâu nào đó
trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng. Trong quá trình sinh sống,
con người là chủ thể bồi đắp cho thiên nhiên; nhưng cũng vì lợi ích và nhu cầu của
cuộc sống, đã khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN) làm suy thoái
MTST, dần dần con người trở nên đối lập với thiên nhiên. Suy thoái môi trường làm
cho trái đất nóng lên do “hiệu ứng nhà kính”; ô nhiễm nguồn nước ngày càng
nghiêm trọng; tầng ôzon suy thoái tác động mạnh đến mọi sinh vật trên trái đất, làm
giảm khả năng miễn dịch của con người, gia tăng bệnh tật.

Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm, trong cuốn sách “Môi trường sinh thái vấn đề và giải pháp” [161].
Tác giả khẳng định: mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên là
mối quan hệ biện chứng. Theo tác giả, nghiên cứu, xem xét mối quan hệ giữa
con người, xã hội và tự nhiên thông qua cơ sở lý luận, phương pháp luận. Thứ
nhất, tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của sự thống nhất biện chứng
giữa xã hội, tự nhiên với con người; thứ hai, sự điều khiển một cách có ý thức
mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên; thứ ba, sự phụ thuộc của con
người, xã hội và tự nhiên vào trình độ phát triển của xã hội. Tác giả nhận định,
cùng với sự phát triển của xã hội, sự tác động của con người, làm cho môi trường
biến đổi theo chiều hướng ngày càng xấu đi. Nguyên nhân chính là từ nhận thức
và ý thức của con người đối với môi trường hạn chế. Để BVMT cần phải thay
đổi quan niệm về tự nhiên; coi vấn đề giáo dục trở thành một nột dung quan
trọng trong chương trình giáo dục và đào tạo.
- Hà Huy Thành, Lê Cao Đoàn, “Vấn đề môi trường trong phát triển xã
hội và quản lý phát triển xã hội theo hướng bền vững ở Việt Nam” [149].
Các tác giả đã phân tích và nhận định: tài nguyên, môi trường, một mặt,

mặt với nhiều thách thức, hàng loạt mâu thuẫn nẩy sinh giữa tăng trưởng kinh tế
và bảo vệ MTST đòi hỏi phải nhận thức, tìm cách giải quyết để đưa đất nước
phát triển ngày càng bền vững.
- Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Thị Hoàng Yến, “Bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững ở Việt Nam” [162].
Các nhà khoa học nhận định, muốn phát triển bền vững phải tính đến yếu tố
môi trường. Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội có quan hệ chặt chẽ, khăng khít,
tác động qua lại lẫn nhau. Chính trong quá trình sản xuất, con người do thiếu ý thức,
thiếu hiểu biết, tận khai thác đã và đang tác động tiêu cực đến môi trường; hủy hoại
những giá trị của môi trường. Các tác giả đã đánh giá cụ thể về hiện trạng của ô


9
nhiễm môi trường; như, mức độ ô nhiễm ở hạ lưu các con sông ngày càng tăng,
chất lượng đất và diện tích đất canh tác bị thu hẹp, ô nhiễm không khí, tiếng ồn
giao thông… sẽ gây ra nhiều hậu quả xấu cho đời sống, sức khỏe con người, cho
sự phát triển kinh tế - xã hội; hậu quả đó không phải chỉ một quốc gia phải gánh
chịu và còn gây hậu quả trên phạm vi toàn cầu.
- Trần Thiết, “Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững” [155].
Tác giả chỉ rõ, mức độ nguy hiểm của biến đổi khí hậu toàn cầu và suy
giảm môi trường; trong đó, Việt Nam là nước ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo tác
giả, nguyên nhân dẫn tới môi trường bị suy giảm, ngoài yếu tố khách quan có
nguyên nhân chủ quan thuộc về nhận thức và ý thức của người dân và chủ doanh
nghiệp. Việc BVMT để phát triển bền vững là trách nhiệm của cả HTCT, của
toàn dân, mà trước hết là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng.
Lê Thị Thanh Hà,“Vai trò của nhà nước đối với việc bảo vệ môi trường trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam” [69].

Tác giả khái quát đặc điểm của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
ở Việt Nam, chỉ rõ những tác động tiêu cực của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn


Tác giả rút ra kết luận: sự phát triển tự do thương mại trong điều kiện kinh
tế thị trường ở nước ta ảnh hưởng rõ rệt tới MTST, nhưng tự do hóa thương mại
có vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững; vì vậy, cần phải có biện pháp để
BVMT sinh thái trong điều kiện tự do hóa thương mại ở nước ta.
- Nguyễn Đình Hòa, “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

ở nước ta hiện nay - khía cạnh môi trường sống” [81].
Tác giả khẳng định, ở nước ta các vấn đề về môi trường sống nảy sinh trong
quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay đang trở nên hết sức phức
tạp, tạo nên sức ép to lớn đối với môi trường sống khu vực này, nếu không được giải
quyết kịp thời sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng, cản trở quá trình phát triển. Nguy cơ
cạn kiệt một số nguồn tài TNTN do các hoạt động sản xuất và dân sinh, vấn đề ô
nhiễm môi trường do tác động của quá trình CNH, HĐH; nguy cơ giảm đa dạng
sinh học chủ yếu do các hoạt động sản xuất và dân sinh; các khu công nghiệp, cụm
công nghiệp được triển khai tại nhiều địa phương góp phần gây ô nhiễm… là vấn đề
cấp bách hiện nay cần có những giải pháp căn cơ để khắc phục.

- Nguyễn Thị Nga, “Vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam hiện nay” [121].
Tác giả phân tích những đặc điểm của môi trường tự nhiên ở nước ta; chỉ rõ
nội dung cơ bản của công tác BVMT trong tiến trình CNH, HĐH ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay; tác giả đánh giá hiện trạng và hoạt động của môi trường tự nhiên
liên quan đến các lĩnh vực như: tài nguyên đất, tài nguyên nước; tài nguyên khoáng
sản; tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; chỉ rõ những ưu điểm và hạn


11
chế của nhà nước, của doanh nghiệp và của người dân đối với việc bảo vệ môi
trường tự nhiên.


12
nhiệm của mỗi tổ chức cá nhân và cộng đồng, trong đó nhà nước giữ vai trò chủ
đạo dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia giám sát của toàn xã hội.
- Trần Đắc Hiến, “Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay - thực trạng và
một số giải pháp khắc phục” [75].
Tác giả cho rằng, trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, việc
phát triển kinh tế gắn với môi trường chưa chú trọng đúng mức, dẫn đến ô nhiễm
môi trường ở Việt Nam ngày càng nghiêm trọng, nóng bỏng và là vấn đề gây bức
xúc trong dư luận xã hội. Theo tác giả, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng
nghiêm trọng là do bất cập của cơ chế, chính sách; quyền hạn pháp lý của các cơ
quan BVMT chưa đủ mạnh; chính quyền chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng
của CTBVMT. Giải quyết được tình trạng này, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống
pháp luật về BVMT, trong đó các chế tài xử phạt phải đủ sức răn đe; tăng cường
công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường; chú trọng công tác quy hoạch
khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động,
giáo dục nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm BVMT.
- Trần Thị Thu Hường, “Tăng cường hiệu quả xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” [90].
Trên cơ sở nghiên cứu Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, tác giả chỉ rõ tám
nhóm hành vi vi phạm chính về quy định BVMT gồm: hành vi vi phạm về kế hoạch
BVMT, đánh giá tác động môi trường; hành vi gây ô nhiễm môi trường; hành vi vi
phạm về xử lý chất thải; hành vi vi phạm về quy định BVMT của các cơ sở sản xuất
kinh doanh dịch vụ và khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, khu công
nghệ cao, khu kinh doanh dịch vụ tập trung; hành vi vi phạm quy định về BVMT
trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị; hành vi vi phạm trong hoạt động lễ
hội, du lịch và khai thác khoáng sản... Tác giả cho rằng, việc xác định trách nhiệm
và cơ chế phối hợp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử phạt của Nghị định
155, đã đáp ứng kịp thời đòi hỏi bức thiết, góp phần thực hiện công tác kiểm tra,
thanh tra, xử lý vi phạm quy định về môi trường được thống nhất, hiệu quả, có tính

và kiểm tra, do các khu công nghiệp, khu chế xuất và các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài được bao bọc, khép kín và người dân bất khả xâm phạm. Tác giả
nhận định, trách nhiệm trước hết là do người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa
phương và các cơ quan tham mưu, thẩm định dự án về môi trường; các tổ chức đoàn
thể chưa đủ chuyên môn về môi trường để giám sát và phản biện. Tác giả cho rằng,
để thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong
công tác BVMT cần phải có các quy chế, quy định mang tính pháp quy; phát huy
hơn nữa thế mạnh của các phương tiện thông tin đại


14
chúng; việc công khai phê bình các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp về vi
phạm BVMT trên báo chí cần phải được tái lập, đây là những giải pháp thiết
thực để nhân dân tham gia công tác BVMT.
- Bùi Cách Tuyến, “Giám sát xã hội và bảo vệ môi trường ở Việt Nam” [164].
Tác giả đã nhận định: để nâng cao hiệu quả của CTBVMT thì một trong

những biện pháp cần được thực hiện thường xuyên đó là làm tốt chức năng giám
sát xã hội đối với hoạt động này. Tác giả xác định rõ, chủ thể của giám sát xã hội
là MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cá nhân, công
dân hoặc cộng đồng dân cư, các cơ quan truyền thông đại chúng. Đối tượng chịu
sự giám sát xã hội là cơ quan nhà nước, các tổ chức cá nhân hoạt động sản xuất
kinh doanh, họ có nghĩa vụ chấp hành Luật BVMT.
Theo tác giả, thời gian qua, hoạt động giám sát xã hội về BVMT ở Việt
Nam đã được tiến hành khá tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn
đề cần giải quyết về cả tổ chức thực thi và phương diện hoàn thiện thể chế. Vì
vậy, các cấp ủy đảng, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nhận thức đúng
về bản chất và thiết lập khuôn khổ pháp lý để hoạt động giám sát xã hội về
BVMT diễn ra một cách thuận lợi và đạt kết quả.
- Nguyễn Văn Kim, “Mối quan hệ giữa phát triển và môi trường - kinh

trường trong tất cả các ngành kinh tế; tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đặc
biệt là công tác kiểm tra, giám sát, kiềm chế ô nhiễm môi trường thông qua một
đầu mối để tránh sự chồng chéo, trùng lắp và tiết kiệm ngân sách; cải cách mạnh
mẽ chính sách phí và thuế môi trường.
Trần Thị Duyên, “Các giải pháp, chính sách của Đài Loan đối với các
vấn đề môi trường” [41].
Tác giả phân tích và chỉ rõ, kế hoạch BVMT mang tính tổng thể đã được
chính quyền Đài Loan đặc biệt lưu tâm từ năm 1990. Luật BVMT ở Đài Loan
không chỉ tiến bộ về mặt tinh thần mà còn phối hợp với cơ chế kiểm soát môi
trường hiện đại để hạn chế những tác động xấu của các vấn đề môi trường đặt ra.
Bài viết đã phân tích cụ thể các chính sách của chính phủ Đài Loan đối với việc
BVMT không khí và tầng ozone; chính sách BVMT nước, kiểm soát tiếng ồn;
chính sách, biện pháp để giảm thiểu và tái chế rác thải... Tác giả nhấn mạnh, vấn
đề môi trường là vấn đề manh tính toàn cầu; vì vậy, để giải quyết triệt để vấn đề
này, không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của riêng Đài Loan, mà cần có sự hợp tác của
tất cả các nước trên thế giới để vừa phát triển kinh tế, vừa đảm bảo giữ vững môi
trường sinh thái.


16
- Phạm Thị Xuân Mai, “Đối sách của Trung Quốc trước các vấn đề môi
trường” [114].
Tác giả nhận định, Trung Quốc hiện đang trong giai đoạn phát triển nhanh
chóng của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa. Đây cũng là giai đoạn mâu
thuẫn xẩy ra nhiều nhất giữa tăng trưởng kinh tế và BVMT. Cụ thể là, dân số tăng
nhanh, tài nguyên bị khai thác quá mức đã dẫn đến nhiều vấn đề sinh thái như, dất
đai bị xói mòn, tình trạng hoang mạc hóa, mất đi đa dạng sinh học; môi trường
nhiều nơi bị ô nhiễm nặng nề. Chính phủ Trung Quốc đã có nhiều biện pháp, chính
sách để đối phó với ô nhiễm môi trường và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy
nhiên, mức độ ô nhiễm môi trường gia tăng ở một số khu vực cho thấy việc thực thi

Governance”, “Tương lai của công tác quản lý nhà nước về môi trường sau Hội
nghị thượng đỉnh trái đất” [175].
Cuốn sách đã tổng hợp tiến trình phát triển quản lý nhà nước về BVMT trên
thế giới. Từ việc khẳng định vai trò quản lý nhà nước đối với CTBVMT, tác giả
nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và công tác
quản lý nhà nước về môi trường để giải quyết các vấn đề về môi trường do đặc tính
“xuyên biên giới” và quy mô toàn cầu của vấn đề này. Đặc biệt, tác giả chỉ rõ những
thành tựu và khó khăn, thách thức đặt ra đối với CTBVMT trong bối cảnh toàn cầu
hóa và vấn đề biến đổi môi trường theo chiều hướng xấu diễn ra mạnh mẽ khắp toàn
cầu. Trên cơ sở đó, cuốn sách đã đưa ra một số kết luận quan trọng, cần tham khảo
cho CTBVMT của các quốc gia; cụ thể, thể chế hóa hoạt động BVMT, đưa quy định
trách nhiệm BVMT vào Hiến pháp để nâng cao hiệu quả của công tác này; nỗ lực
của toàn cầu và khu vực nhằm giải quyết hiệu quả những khó khăn, thách thức về
nguồn lực tài chính cho hoạt động BVMT; không lạm dụng các nguồn tài nguyên và
đòi hỏi quá mức về môi trường sẽ làm cho nền kinh tế thế giới bị hạn chế. Tác giả
cho rằng, bên cạnh nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường, cần tập
trung cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nghèo là biện pháp quan trọng để
BVMT, tránh cho môi trường bị hủy hoại, xuống cấp.

- Tác giả Helige Jorgens, Helmut Weidner, với cuốn sách“Capacity building
in national Environmental policy comparative Study of 17 countries”, (Tăng cường
năng lực về chính sách môi trường - nghiên cứu so sánh 17 quốc gia) [170].

Đây là công trình của của tập thể tác giả nhằm phân tích, đánh giá, tổng
kết, rút ra những bài học kinh nghiệm trong quản lý môi trường nhiều quốc gia
và đưa ra các mô hình quản lý tối ưu cho công tác quản lý môi trường phù hợp
cho các quốc gia đang phát triển.
Các tác giả khái quát quá trình phát triển và chính sách quản lý môi trường
trường giai đoạn 1970 - 2000 ở các quốc gia Đông Âu đang trong giai đoạn chuyển


Tác giả Mohamed Labir Bouquerra với cuốn “La Polution in visible”
(Nạn ô nhiễm vô hình) [173].
Theo tác giả, trái đất đang ngày càng bị ô nhiễm nặng nề. Tác nhân gây
nên tình trạng ô nhiễm này là do hóa chất, vì hiện nay có tới trên 4 triệu hóa chất


19
thường xuyên luân chuyển quanh ta, chúng gây ra tác hại cho sức khỏe, sự sống
của con người và môi trường. Tác giả đã nghiên cứu thực trạng tác hại của ô
nhiễm môi trường ở các nước như Mỹ, Anh, Pháp, Ấn Độ và khẳng định, ô
nhiễm từ các loại hóa chất đang gây ra nhiều căn bệnh cho con người, gây ra
gánh nặng về kinh tế. Tác giả khẳng định, sự cần thiết và cấp bách trong cuộc
đấu tranh BVMT vì sự sống trên hành tinh của chúng ta; trong đó, việc hạn chế
sử dụng hóa chất và cấm sử dụng hóa chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe con
người là biện pháp cần thực hiện.
Cuốn “Umweltver Waltung” (Quản lý môi trường) của ManFRedSchReiner [172].
Theo tác giả, môi trường tự nhiên là đầu vào của hệ thống kinh tế và cũng là nơi
tiếp nhận chất thải; nguồn tài nguyên cũng như khả năng tiếp nhận của chất thải
của môi trường tự nhiên là có hạn. Vì vậy, khi tài nguyên suy giảm, môi trường bị
quá tải thì môi trường sẽ đòi hỏi cải thiện và đề bù. Tác giả cho rằng, nguyên nhân
dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay là do quan niệm về giá trị cuộc
sống. Đã có thời kỳ các nước phương Tây đưa ra phương châm hành động bị phê
phán “tổng sản phẩm xã hội và sự tăng trưởng của nó”, đây là nguyên nhân chính
gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường. Ngày nay, đã có sự thay đổi trong quan niệm
giá trị; thước đo tiêu chuẩn cuộc sống từ chỗ được đo bằng đại lượng tổng sản phẩm
xã hội thì ngày nay được thay bằng đại lượng “chất lượng cuộc sống”.

Tác giả Beria Leimona, Meine Van Noordwijk với cuốn sách“Payment
for environmental services: Experiences and lessons in Vietnam” (Chi trả dịch
vụ môi trường: kinh nghiệm và bài học tại Việt Nam) [174].

nông nghiệp, nông thôn những năm tới.
- Trần Đình Nghiêm, “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” [123].
Cuốn sách tập trung luận bàn và giải quyết một số vấn đề về lý luận và
thực tiễn về PTLĐ; mối quan hệ giữa nội dung lãnh đạo và PTLĐ; sự cần thiết
đổi mới PTLĐ của Đảng đối với HTCT và các lĩnh vực đời sống của xã hội. Từ
thực trạng của PTLĐ, nguyên nhân ưu điểm và hạn chế, cuốn sách xác định các
giải pháp đổi mới PTLĐ của Đảng đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội.
Những nội dung này có giá trị tham khảo làm sáng tỏ nội dung lãnh đạo và
PTLĐ của Đảng đối với CTBVMT.
- Lê Văn Lý, “Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của
đời sống xã hội nước ta” [111].
Cuốn sách đã chỉ ra và phân tích làm rõ những căn cứ chủ yếu để xác định
nội dung, PTLĐ của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu; chức năng, nhiệm vụ, vị
trí, vai trò, đặc điểm của đảng cầm quyền; xác định nội dung, PTLĐ của Đảng đối



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status