-1-
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
!" #$%&'()%&%&
*+,-,.
/0(1%&'(
-2-
,$"2
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề án, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành và sâu sắc tới các thầy cô giáo trong Học viện chính trị khu vực I, Học viện
chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã quan tâm hướng dẫn và tạo điều kiện để tôi có
thể hoàn thành đề án này.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn tới 343456789:78;<=0Trưởng
khoa xã hội học và khoa học lãnh đạo,người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo trong
suốt quá trình làm đề án.
Tôi xin cảm ơn tới Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ
cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành đề án này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã tận tình giúp
đỡ, động viên trong suốt thời gian qua.
<=>:?7
8@A89BC78
-3-
-4-
DEFGH
I>:JKKLK D:M7;:N:
BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
BTCQG Bộ tiêu chí quốc gia
BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường
)?01@*/32
Z4f=8g=K8c=8:e7UVW735
).&&*/0135
)AB;$/*/0138
))2C0*/0140
-6-
)DE&#*/0142
h4Dci:J78:eYjYN=TCUVW7h%
DFG!*+7!0142
DH-=8='87!0143
D)IJ'84K*/0143
4kG0kG,.hl
/,k"hm
E,E(%
4OP
'4Q78=RSK8:JK=TCUVW7
Thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng
cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về công tác bảo
vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhấn mạnh phát triển
các phong trào quần chúng, cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường; phát hiện, phổ
biến, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong hoạt động bảo vệ môi trường,
-7-
công tác xã hội hóa môi trường được thực hiện gắn với các cấp, các ngành, trong đó
có khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã.
Thực hiện chương trình phối hợp số 538/CTPH-LMHTX-BTNMT ngày 23
tháng 6 năm 2006 và chương trình phối hợp số 05/CTPH-LMHTX-BTNMT ngày 07
tháng 01 năm 2011 giai đoạn 2011-2015, được ký kết giữa Liên minh hợp tác xã
Việt Nam và Bộ Tài nguyên và Môi trường, sau thời gian qua triển khai thực hiện
đã đạt được những kết quả quan trọng khẳng định vai trò huy động sức mạnh cộng
Nam của Việt Nam.
* Phạm vi thời gian: từ năm 2015 đến năm 2020.
-9-
!4D*
'4\]^_`abc7;UVW7
1.1. Cơ sở khoa học
E/<. 4/;$=>
WE/;$=>
- Môi trường theo nghĩa rộng bao gồm cả các nhân tố như không khí, nước,
đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, nhân tố xã hội ảnh hưởng tới chất lượng cuộc
sống của con người và các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sinh sống và sản
xuất của con người.
- Môi trường theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm các nhân tố môi trường, thiên nhiên
và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng sống của con người, không xem xét tài
nguyên thiên nhiên trong đó.
Ngoài ra, môi trường còn được phân thành môi trường thiên nhiên, môi trường
nhân tạo và môi trường xã hội.
X;$=>Ybao gồm các nhân tố thiên nhiên: vật lý, hóa học và
sinh học, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người, hoặc ít chịu sự chi phối
của con người.
X;$=>9:Y là tổng thể các quan hệ giữa người và người tạo nên sự
thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng
của con người.
X;$=>B3 Ybao gồm tất cả những nhân tố vật lý, sinh học, xã hội
do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người [15].
WE/<. 4/;$=>
Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động
xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải
thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm
giữ môi trường trong lành.
mạnh cá nhân); sự sáng tạo và duy trì các kiến thức bản địa (đây là một đặc trưng
văn hóa phi vật thể, lan truyền và bổ sung từ thế hệ này qua thế hệ khác, tạo ra sức
-11-
sống của cộng đồng trong quá trình sản xuất và bảo vệ cuộc sống); lòng tự hào về
truyền thống của làng xóm, của quê hương gắn với tình yêu dân tộc, đó cũng chính
là cuội nguồn lớn nhất của sức mạnh cộng đồng. Hiện nay, công tác BVMT đang
đứng trước thách thức to lớn, khi mà nhu cầu về một môi trường sống trong lành và
an toàn luôn mâu thuẫn với nhu cầu hưởng thụ một đời sống vật chất sung túc. Nói
cách khác, công tác BVMT đang phải đối mặt với các mẫu thuẫn trong suy nghĩ,
thái độ, hành vi về môi trường giữa các nhóm người khác nhau trong xã hội, giữa
người này với người khác và ngay cả trong bản thân một con người. Để quản lý môi
trường có hiệu quả, trước hết cần dựa vào các cộng đồng. Các mục tiêu kinh tế, xã
hội và môi trường phải là thể thống nhất, hài hoà và có sự tham gia của tất cả các cá
nhân cũng như các tổ chức trong việc chăm sóc môi trường ở cơ sở để đáp ứng nhu
cầu của cuộc sống. BVMT ở cơ sở xã, phường, thị trấn là một vấn đề còn mới mẻ,
nhưng rất cấp thiết và gắn liền với lợi ích của cộng đồng. Sự tham gia của cộng
đồng vào BVMT là một trong những giải pháp quan trọng của công tác quản lý,
BVMT ở địa phương, vì qua các cấp quản lý hành chính (từ Trung ương đến cơ sở)
thì càng xuống cấp thấp hơn vai trò của người dân càng trở nên quan trọng. Sự tham
gia của cộng đồng vào BVMT không chỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp
BVMT, mà còn là lực lượng giám sát môi trường nhanh và hiệu quả, giúp cho các
cơ quan quản lý môi trường giải quyết kịp thời sự ô nhiễm môi trường ngay từ khi
mới xuất hiện [3].
WE/8&9:
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do
ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành
viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp
tác xã [16].
Với khái niệm hợp tác, có thể thấy rõ đặc trưng của đồng sở hữu, tự nguyện
-13-
mô hình hợp tác xã (HTX) thể hiện vai trò cộng đồng trong bảo vệ môi trường với
những đặc điểm sau:
- Là tổ chức cộng đồng làm kinh tế có tính tự trợ giúp cao nhất.
- Mô hình HTX huy động và phát huy được tối đa sức mạnh cộng đồng trong
bảo vệ môi trường.
- Mô hình HTX gắn kết được số đông người dân từ những thôn, xóm, bản làng
những vùng thị trấn, nông thôn cũng như trung du, miền núi với số lượng hiện có là
19.685 HTX (tính đến 30/6/2014).
Do vậy, các hoạt động bảo vệ môi trường nếu gắn kết với các hợp tác xã sẽ có
hiệu quả thiết thực và cụ thể hơn. Phát huy vai trò cộng đồng của HTX thể hiện
dưới các góc độ:
- Vai trò cộng đồng của hợp tác xã trong phòng ngừa vả kiểm soát ô nhiễm
môi trường
- Tăng cường các mô hình điểm HTX trong thu gom, vận chuyển, tái chế, xử
lý môi trường.
- Đẩy mạnh phong trào cộng đồng của HTX tham gia có hiệu quả trong bảo vệ
môi trường theo hướng phát triển bền vững.
Với vai trò như vậy, các nhiệm vụ cụ thể được thực hiện như sau:
- Xây dựng, phát triển và nhân rộng các mô hình HTX môi trường, HTX tham
gia bảo vệ môi trường (tức là các HTX hoạt động nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng
có đăng ký ngành nghề môi trường) triển khai trực tiếp công tác bảo vệ môi trường
cho khu vực HTX và phục vụ yêu cầu chung của các khu vực khác nhau.
- Thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, phòng
ngừa và giảm thiểu ô nhiễm, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho khu vực
HTX và cả nước.
- Giám sát và kiểm tra các đơn vị thành viên, thành viên và người lao động
trong khu vực kinh tế tập thể thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Huy động và khai thác các nguồn vốn hỗ trợ người lao động và thành viên
hợp tác xã áp dụng các mô hình hợp tác xã đã lồng ghép hài hòa nội dung bảo vệ
vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước với
cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị, về tăng cường
công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có
nêu một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động BVMT gồm:
+ Tạo cơ sở pháp lý và cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và
cộng đồng tham gia công tác bảo vệ môi trường; hình thành các loại hình tổ chức
đánh giá, tư vấn, giám định, công nhận, chứng nhận về bảo vệ môi trường; khuyến
khích mọi thành phần kinh tế tham gia các dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử
lý chất thải và các dịch vụ khác về bảo vệ môi trường.
+ Chú trọng xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước, cam kết về bảo vệ
môi trường và các mô hình tự quản về bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư.
+ Phát triển các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ môi trường. Đề cao
trách nhiệm, tăng cường sự tham gia có hiệu quả của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức hội, các phương tiện truyền thông trong
hoạt động bảo vệ môi trường.
+ Phát hiện các mô hình, điển hình tiên tiến trong hoạt động bảo vệ môi
trường để khen thưởng, phổ biến, nhân rộng; duy trì và phát triển giải thưởng môi
trường hàng năm; đưa nội dung bảo vệ môi trường vào cuộc vận động toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và tiêu chuẩn xét khen thưởng.
&&'(
Ngày 5 tháng 8 năm 2002, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam khoá XI, kỳ họp thứ nhất thông qua Nghị quyết số 02/2002/QH11 thành lập
Bộ Tài nguyên và Môi trường. Trước đó công tác bảo vệ môi trường thuộc Cục Môi
trường, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
“Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam” (gọi tắt là chương trình nghị
sự 21) do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 17/8/2004. Định hướng này có nội
-16-
dung chủ yếu nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý
và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
có báo cáo đánh giá về hoạt động phối hợp giữa hai ngành, đề ra những định hướng
trong các năm tiếp theo.
Chương trình phối hợp là cơ sở để công tác phát huy vai trò hợp tác xã trong
bảo vệ môi trường có điều kiện triển khai hướng tới mục tiêu chung về phát triển
hợp tác xã và bảo vệ môi trường.
W[J8&9:
Luật hợp tác xã số 23/2012/QH13 ngày 20/11/2012 có đề cập đến nguyên tắc
hoạt động. Các nguyên tắc đó là quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thành
viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã; chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên, hợp tác với
nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia
và quốc tế [15].
W[J<. 4/;$=>D
Luật bảo vệ môi trường năm 2014 có nêu xây dựng nội dung bảo vệ môi
trường trong hương ước, thành lập tổ chức tự quản môi trường trong khu dân cư,
khuyến khích phát triển dịch vụ bảo vệ môi trường, phát huy sức mạnh cộng đồng
trong các tổ chức, ngành nghề trong bảo vệ môi trường [15].
WC'=8S-!
Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng và được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt tại quyết định số 1216/QĐ- TTg ngày 5/9/2012, được Bộ Tài nguyên
và Môi trường công bố chính thức vào ngày 12/12/2012 tại Hà Nội. Chiến lược
được xây dựng dựa trên các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước [4].
Chiến lược đã đưa ra các định hướng lớn cho công tác bảo vệ môi trường
gồm: \] Phòng ngừa và kiểm soát các nguồn ô nhiễm; \] cải tạo và phục hồi môi
trường các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái, đẩy mạnh cung cấp nước sạch và dịch vụ
-18-
vệ sinh môi trường; \)] khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; \D] xây dựng năng lực
ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính.
trang; ao hồ sinh thái; thúc đẩy mạnh mẽ phong trào trồng cây xanh; xây dựng các
khu vui chơi, giải trí công cộng;
Trong nhóm nội dung, biện pháp hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ chất thải rắn
được thu gom, tái chế, tái sử dụng, giảm dần sản xuất và sử dụng túi, bao gói khó
phân hủy, có đề cập tới tuyên truyền vận động kết hợp với áp dụng các công cụ kinh
tế nhằm hình thành thói quen phân loại rác thải, rác thải tại nguồn trong các gia
đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, công sở và khu vực công cộng; thiết lập
các hệ thống điểm tập kết, tiếp nhận chất thải rắn đã được phân loại đồng bộ ở các
khu đô thi, khu dân cư nông thôn, khu công cộng. Trong nội dung này cũng đề cập
đến mô hình hợp tác xã với nội dung thúc đẩy xã hội hóa, hình thành mạng lưới các
doanh nghiệp, tổ chức xã hội, hợp tác xã thu gom, vận chuyển chất thải rắn, liên kết
trong mạng lưới với các cơ sở tái chế, các bãi chôn lấp; đẩy mạnh công tác thu gom
chất thải rắn sinh hoạt tại các điểm dân cư nông thôn, khu vực công cộng. Với nội
dung này, mô hình hợp tác xã thu gom, vận chuyển, tái chế rác thải cần được phát
huy tối đa và nhân rộng trong thời gian tới nhằm phục vụ chiến lược quốc gia về
bảo vệ môi trường.
Trong nhóm nội dung, biện pháp hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ chất thải
nguy hại được xử lý, tiêu hủy, hợp tác xã cần có chương trình cụ thể nhằm triển
khai thu gom, xử lý vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật hiện nay phát sinh trong quá
trình sản xuất nông nghiệp của hơn 9000 HTX nông nghiệp trong cả nước.
Trong nội dung khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên
nhiên; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học chính là mục tiêu đặt ra của chương
trình phối hợp được ký kết giữa Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và Bộ Tài nguyên
và Môi trường giai đoạn 2011-2015.
W=$^S-!9BP?*;;U
-20-
Ngày 05/08/2008, tại hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành(BCH) trung
ương (TW) Đảng khóa X đã ra nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn. Sau 20 năm đổi mới đất nước, đây là lần đầu tiên Đảng ta có một nghị
quyết toàn diện nhất về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong điều kiện kinh tế
LMHTXVN xây dựng kế hoạch giai đoạn, kế hoạch hàng năm về phát triển hợp tác
xã, mô hình hợp tác xã gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
trường; chú trọng xây dựng các chương trình, dự án phát triển các hợp tác xã hoạt
động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở khu vực thành thị, nông thôn phục vụ sự
nghiệp bảo vệ môi trường. Hàng năm, Bộ TN&MT phối hợp góp ý, giúp
LMHTXVN hoàn thiện các kế hoạch cụ thể sát với nhu cầu thực tế và cấp thiết của
ngành. Trên cơ sở đó, LMHTXVN đã xây dựng, hướng dẫn các đơn vị trong xây
dựng và triển khai kế hoạch từ Trung ương tới địa phương.
1.3. Cơ sở thực tiễn
Thực hiện chủ trương của cả nước, HTX tích cực thực hiện công tác bảo vệ
môi trường. Nhiều loại hình HTX hoạt động đa lĩnh vực, chủ động tham gia bảo vệ
môi trường. Nhiều HTX hình thành chuyên sâu trong công tác bảo vệ môi trường.
Thông qua mô hình tổ hợp tác, HTX, phong trào quần chúng tham gia bảo vệ
môi trường được đẩy mạnh, công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường đã được hình
thành ở nhiều tỉnh, thành phố, nhiều điển hình tiên tiến trong công tác bảo vệ môi
trường, các mô hình HTX tự quản về môi trường ở cộng đồng. Hiện nay, theo số
liệu điều tra 12/2014, trong cả nước có 274 HTX dịch vụ bảo vệ môi trường (trong
đó có 154 HTX chuyên về môi trường (123 HTX thu gom rác thải, 2 HTX mai táng,
29 HTX cung cấp nước sạch), 120 HTX tham gia hoạt động bảo vệ môi trường),
góp phần quan trọng vào việc làm môi trường xanh, sạch đẹp, giảm thiểu đáng kể ô
nhiễm môi trường. Đồng thời, khu vực kinh tế hợp tác, HTX đang là tác nhân chủ
yếu tác động ảnh hưởng đến môi trường cả nước và là một bộ phận quan trọng
trong công tác bảo vệ môi trường hướng tới định hướng phát triển bền vững. Gần
đây, nhiều cơ sở kinh tế hợp tác, HTX đã chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ, xây
dựng hệ thống xử lý chất thải, cải thiện môi trường làm việc.
-22-
Ngoài bảo vệ môi trường, các HTX dịch vụ môi trường còn tạo việc làm
cũng như thu nhập và đảm bảo đời sống cho hàng chục nghìn lao động mà chủ yếu
là người nghèo, người yếu thế, góp phần vào chiến lược quốc gia về xóa đói giảm
nghèo, phát triển bền vững.
môi trường là một nhiệm vụ trọng tâm của mình. Chủ động xây dựng các nội dung,
chiến lược, chương trình, kế hoạch hoạt động hàng năm và 5 năm.
Với cơ sở thực tiễn như vậy, đánh giá vai trò cộng đồng của hợp tác xã nhằm
phát huy hoạt động trong bảo vệ môi trường giai đoạn 2015-2020 là yêu cầu cần
thiết.
%4d:bY7;K8c=8:e7UVW7
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án
Ở Việt Nam, xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường luôn được coi là một
trong những giải pháp chính, quan trọng của công tác bảo vệ môi trường.
Trong định hướng phát triển chung của đất nước, HTX cũng là một thành
phần kinh tế quan trọng đóng góp vai trò trong phát triển. HTX đang trở thành khu
vực kinh tế rộng lớn nhất có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc hỗ trợ và thúc
đẩy 13 triệu thành viên, hộ thành viên trong phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng
cao hiệu quả kinh tế, góp phần giải quyết những nhu cầu về sản xuất, đời sống, kinh
tế và xã hội.
Những năm qua, đất nước chúng ta đã phát triển với tốc độ nhanh, sánh vai
với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, cùng với xu hướng phát
triển ngày càng lớn, vấn đề ô nhiễm môi trường được quan tâm và đẩy mạnh ở các
cấp, các ngành, không ngoại trừ khu vực kinh tế tập thể. Năm 2014, Chính phủ đã
phê duyệt triển khai chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2015-
2020. Kinh tế tập thể vì thế có những điều kiện thuận lợi phát huy trên nhiều lĩnh
vực ngành nghề khác nhau, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, phát triển
bền vững.
Thực hiện chương trình phối hợp số 538/CTPH-LMHTX-BTNMT ngày 23
tháng 6 năm 2006 và chương trình phối hợp số 05/CTPH-LMHTX-BTNMTngày 07
-24-
tháng 01 năm 2011 giai đoạn 2011-2015 về việc_`AP4!$57!CJ&
$ <. 4/;$=>``được ký kết giữa LMHTXVN và Bộ TNMT, sau thời
gian qua triển khai thực hiện đã đạt được những kết quả quan trọng khẳng định vai
trò và vị trí của kinh tế hợp tác, HTX trong việc tham gia công tác bảo vệ môi
- Trung tâm các chương trình kinh tế - xã hội;
- Thời báo kinh doanh.
Ở địa phương, Liên minh HTX các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã
phân công cán bộ theo dõi hoặc hình thành các bộ phận chuyên trách về hoạt động
khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường và đã thành lập được 50 trung tâm hỗ trợ
phát triển HTX có chức năng triển khai các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao
khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường.
2*$3;+;$=>$ 4*2a
Khu vực kinh tế tập thể là khu vực kinh tế rộng lớn, đa ngành, đa lĩnh vực,
với 19.685 HTX. Trong đó, nông nghiệp (9411 HTX), công nghiệp-tiểu thủ công
nghiệp (3177 HTX), thương mại dịch vụ (1448 HTX), giao thông vận tải (1081
HTX), thủy sản (477 HTX), xây dựng (670 HTX), môi trường (274 HTX)
Khu vực kinh tế tập thể là khu vực của nhiều nghề, tập trung phần lớn ở
nông thôn. Khu vực này hiện đang có mức độ ô nhiễm môi trường cao, gây ảnh
hưởng lớn đến cuộc sống của cộng đồng dân cư. Trong quá trình triển khai, mức độ
ô nhiễm môi trường (nước thải, khí thải, chất thải rắn) phát sinh từ các loại hình
HTX phụ thuộc vào quy mô và lĩnh vực hoạt động, cụ thể.
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, với hơn 9000 HTX hoạt động hàng
năm, sử dụng hàng chục ngàn tấn phân bón hóa học, trên 10.000 tấn thuốc bảo vệ
thực vật và là tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất nghiêm trọng. HTX nông
nghiệp là loại hình HTX phát sinh lượng nước thải lớn nhất (trung bình là 60,2
m
3
/ngày), với các thành phần chất rắn lơ lửng, chất thải hữu cơ, các chất tẩy rửa
chuồng trại, dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Hoạt động sản xuất nông
nghiệp thường được tổ chức trên diện rộng, ít tập trung và chỉ có 9,2% HTX thực
hiện xử lý sơ bộ một phần nước thải trước khi thải ra môi trường với các hình thức:
bể phốt, bể lọc, hầm biogas. HTX nông nghiệp phát sinh lượng khí thải chiếm