BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH TRẦN THANH BÌNH PHÁT HUY VAI TRÒ TRUNG TÂM CỦA HỌC SINH
TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CHƯƠNG “ĐỘNG
HỌC CHẤT ĐIỂM” LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
BAN CƠ BẢN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật Lý
Mã số: 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ THỊ THANH THẢO
TP. Hồ Chí Minh – 2007 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin thành thật cảm ơn sâu sắc đến TS. Lê Thị Thanh Thảo
là người trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình làm luận văn. Lòng nhiệt tình, sự
tận tâm chỉ dẫn cùng những lời động viên hết sức quý báu của cô là yếu tố góp
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm (hay dạy học hướng vào người học) là
quan điểm dạy học ngày càng phổ biến từ vài thập niên trở lại đây ở tất cả các nền
giáo dục tiên tiến và là cơ sở định hướng cho sự đổi mới không chỉ phương pháp
dạy học, mà đổi mới tất cả các khâu khác của quá trình dạy học, từ mục tiêu,
chương trình, nội dung, đến cách thức tổ chức quá trình dạy học, cách thức đánh
giá, … Ở Việt Nam
quan niệm dạy học này đã bắt đầu được quan tâm nhiều từ đầu
thập niên 90 của thế kỷ XX và nay đã trở thành khái niệm khá quen thuộc. Những
cố gắng để phát huy ngày càng tốt hơn vai trò trung tâm của học sinh trong quá
trình dạy học trong những năm qua ở Việt Nam không chỉ thể hiện ở cố gắng đổi
mới phương pháp dạy học gi
úp học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập
mà cả việc đổi mới chương trình, nội dung học và đa dạng hóa chương trình, nội
dung học để học sinh ngày càng có cơ hội phát triển cá nhân trong quá trình học
tập.
Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau xung quanh
khái niệm này, thể hiện không chỉ về mặt thuật ngữ như: Dạy học lấy học sinh làm
trung tâm, dạy học hướng vào người học, … mà còn cả các quan niệm thế nào là
học sinh là trung tâm? Ngay mức độ trung tâm của học sinh trong quá trình dạy
học ở nhiều quan niệm khác nhau cũng khác nhau, từ đó dẫn đến tồn tại nhiều
chiến lược, phương pháp dạy học hướng vào người học khác nhau.
Làm thế nào để việc dạy học trong bối cảnh giáo dục hiện nay có thể phát
huy tốt nhất vai trò trung tâm của học sinh tr
ong quá trình dạy học, làm thế nào để
đa số học sinh tìm thấy sự hứng thú và cơ hội học tập, cơ hội phát triển năng lực
Nghiên cứu một số cơ sở lý
luận về dạy học học sinh làm trung tâm (hay
dạy học hướng vào người học).
Lựa chọn một quan niệm mà theo phân tích có thể chỉ ra rằng quan niệm
như vậy về vai trò trung tâm của học sinh là quan niệm vừa phù hợp với xu thế của
dạy học hiện đại vừa có khả năng áp dụng trong thực tiễn hiện na
y.
Xây dựng các thiết kế dạy học các bài học của chương “Động học chất
điểm” theo hướng phát huy tốt nhất vai trò trung tâm của học sinh trong quá trình
dạy học thể hiện ở việc phát huy tốt nhất tính tích cực, tự lực, chủ động và sáng
tạo của học sinh.
Tiến hành thực hiện các thiết kế dạy học để bước đầu đánh giá mức độ khả
thi của quan niệm dạy học này trong t
hực tiễn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Phương pháp phỏng vấn.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm.
Thống kê toán học.
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu:
Cơ sở lý luận dạy học học sinh làm
trung tâm.
Một số chiến lược dạy học hướng vào người học.
Học sinh lớp 10 Ban cơ baûn trong quá trình dạy học chương “Động học
chất điểm”.
Chương trình, nội dung môn học vật lý 10 trung học phổ thông ban cơ
Đưa ra một vài đề xuất về khả năng vận dụng qua
n niệm dạy học này rộng
rãi hơn.
8. Giả thuyết nghiên cứu
Có thể phát huy tốt vai trò trung tâm của học sinh ngay khi giảng dạy các
chương đầu của một phần kiến thức nào đó thay cho cách dạy một chiều xưa nay,
nghĩa là thay vì thụ động tiếp nhận các khái niệm mới thì học sinh sẽ phát huy
được tính tích cực, tự lực xây dựng hầu hết các khái niệm quan trọng. Ðiều này sẽ
đư
ợc tôi cố gắng chứng minh với việc thiết kế và thực hiện giảng dạy một số bài
quan trọng của chương “Ðộng học chất điểm”.
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Sự chuyển đổi từ giáo viên là trung tâm sang học sinh làm trung
tâm của quá trình dạy học trong lịch sử phát triển giáo dục và nguyên nhân
của nó
Như chúng ta đã biết, đất nước ta là một nước đang phát triển và đã trở
thành thành viên của WTO. Trên con đường hội nhập và phát triển của đất nước,
chúng ta đang rất cần những con người lao động có năng lực, năng động, tự chủ,
sáng tạo. Nhưng những năng lực, phẩm chất ấy của con người không tự nhiê
n mà
có mà đó là sản phẩm của giáo dục. Do đó, ngay khi còn trên ghế nhà trường học
sinh cần phải được học tập với những phương pháp giáo dục, dạy học khơi dậy
hứng thú, tính tích cực, rèn luyện và phát triển khả năng suy nghĩ và hành động tự
chủ, năng động, sáng tạo. Ở các nước phát triển vấn đề này đã đặt ra từ lâu và
những t
hành quả nghiên cứu giáo dục tiên tiến đã góp phần không nhỏ từng bước
nâng cao chất lượng giáo dục. Trong một hai thập niên trở lại đây nhiều thành tựu
quan trọng trong lĩnh vực sinh lý học thần kinh và tâm lý học đã đặt nền móng cho
những suy nghĩ của thầy m
à chủ yếu là thông qua giao tiếp bằng lời.
Phan Trọng Ngọ [15]: Dạy học hướng vào người dạy hay còn gọi là dạy
học truyền thống là dạy học xuất phát từ lợi ích của người dạy, dựa trên hiểu biết
của người dạy về nội dung dạy học. Người dạy quyết định sự tồn tại của quá trình
dạy học. Các hoạt động của người dạy chủ yếu tập trung vào việc truyền thụ nội
dung dạy học t
heo kênh truyền giảng của người dạy. Còn các yếu tố thuộc về
người học (động cơ, nhu cầu của người học, đặc điểm tâm lý, trình độ hiểu biết
của người học, tính tích cực tương tác của người học vào quá trình dạy học, sự
phát triển của người học, …) thường ít được
tôn trọng trong dạy học. Vì vậy, các
phương pháp dạy học thường có tính thông báo một chiều, áp đặt từ phía người
dạy đến người học .
Nguyễn Cảnh Toàn [25]: Dạy học lấy người thầy làm trung tâm nhấn mạnh
và đề cao vai trò quyết định của người thầy và của việc dạy.
Thầy: C
hủ thể, trung tâm, đem kiến thức sẵn có truyền đạt giảng dạy cho
học sinh, thầy có đặc quyền về tri thức, đánh giá, thể chế người lớn.
Trò: Thụ động tiếp thu những gì thầy truyền đạt, nghe, ghi nhớ và làm lại là
người nhận.
Tri thức: Nhớ lại, lặp lại, học thuộc lòng .
Nguyễn Hữu Châu [7]: Dạy học giáo viên làm trung tâm có thể hiểu là cách
dạy học trong đó giáo viên kiểm soát tất cả những nội dung và tiến trình dạy và
học. Một lớp học với các phương pháp dạy học lấy giáo viên làm trung tâm
thường có những đặc điểm sau:
Trong quá trình dạy học, giáo viên nói nhiều hơn học sinh.
Giảng dạy chủ yếu bằng cách thuyết trình cho cả lớp.
Sách giáo khoa là tài liệu chí
và phát triển của Piaget (ông quan niệm rằng có 4 thời kỳ nhận thức: Thời kỳ giác
động ( từ khi sinh ra đến 2 tuổi), thời kỳ tiền thao tác (từ 2 đến 7 tuổi), thời kỳ th
ao
tác cụ thể (từ 7 đến 11 tuổi), thời kỳ thao tác hình thức (từ 11 tuổi trở đi)) [19] và
lý thuyết vùng phát triển gần của L. Vưgôtxki (ông quan niệm rằng quá trình phát
triển của trẻ em có hai mức độ là hiện tại và vùng phát triển gần) [16]…. Mà trong
các lý thuyết này chỉ có sự khác biệt về tâm lý nhận thức lứa tuổi được coi trọng
(học sinh trong một lớp học được cho
rằng có đặc điểm tâm lý nhận thức và lứa
tuổi giống nhau).
Ðem so sánh quan điểm dạy học này với các phương pháp dạy học được sử
dụng lâu nay trong thực tiễn giáo dục phổ thông cho thấy rõ quan niệm giáo viên
là trung tâm của quá trình dạy học vẫn là quan niệm phổ biến…
Trong thời gian gần đây, nhất là từ thập niên 90, sau những thành tựu mới
đạt được quan trong trong nghiên cứu giáo dục và các khoa học liên quan thì quan
niệm về dạy học đã dần tha
y đổi. Các phong trào đổi mới phương pháp dạy học
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh ngày càng triển khai rộng rãi. Tuy nhiên,
trong rất nhiều cố gắng đổi mới vẫn cho thấy chúng ta vẫn chưa thực sự bước ra
khỏi quan niệm dạy học mà ở đó giáo viên vẫn giữ vai trò trung tâm, điều này thể
hiện rất rõ nét ngay cả trong những giờ học mà bối cảnh c
ho thấy học sinh hình
như được hoạt động nhiều (phát biểu ý kiến, làm thí nghiệm…).
Giáo viên giữ vai trò trung tâm của quá trình dạy học thể hiện ở các đặc
điểm sau:
Giáo viên vẫn là người quyết định gần như toàn bộ quá trình dạy học, từ nội
dung đến hình thức tổ chức, đến phương pháp dạy học và cách thức đánh giá, còn
học sinh chủ yếu vẫn l
à thụ động lắng nghe, ghi chép, phát biểu khi giáo viên hỏi,
làm thí nghiệm khi giáo viên yêu cầu…
động như thế nào. Ðiều này có nghĩa là các bài học đều hướng về học sinh, lấy
“học sinh làm trung tâm”. Ðể thực hiện việc giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm
thì vai trò của người thầy là giảng giải, hướng dẫn, thúc đẩy các sinh hoạt, các bài
thực hành, kiểm so
át bài vở, theo dõi tiến bộ để từ đó tìm hiểu khả năng học tập,
tìm hiểu những khó khăn, tìm hiểu bản chất của mỗi học sinh và cuối cùng là
quyết định về cách thức giảng dạy và thay đổi cấu trúc chương trình giảng dạy cho
phù hợp với học sinh.
Friedrich Froebel (1782 - 1852) [17] : Học đường không phải chỉ là một cơ
sở để học sinh tiếp nhận ít nhiều kiến thức, cũng không phải là nơi học sinh học
hỏi những gì không liên hệ đến các em mà chính là nơi học sinh đến để đư
ợc giáo
dục về sự liên quan giữa con người với cộng đồng và thiên nhiên. Mỗi bài học
phải đáp ứng được sở thích, thu hút được sự chú ý của học sinh. Như vậy, điều này
chứng tỏ rõ ràng rằng theo quan điểm sư phạm giáo dục lấy học sinh làm trung
tâm của Froebel, học đường không những có mối quan tâm lớn nhất là truyền bá
kiến thức thực dụng đến học sinh mà còn tạo điều kiện và hoà
n cảnh thuận lợi,
khuyến khích, thúc đẩy các phương pháp học tập thích đáng, thực tế để học sinh
có thể tiếp nhận kiến thức một cách có hiệu quả.
J.Dewey, cha đẻ của quan niệm dạy học hướng vào người học [11]: Các
quá trình hướng vào người học đảm bảo cho họ phân tích kinh nghiệm của mình,
khuyến khích người học trở nê
n biết tự chỉ đạo và tự chịu trách nhiệm nhiều hơn.
Việc học tập là quá trình xử lý kinh nghiệm trực tiếp của mình. Các kỹ năng được
tích lũy không phải bằng luyện tập và ghi nhớ vẹt mà bằng những hoạt động mà
người học tự tiến hành với sự giúp đỡ của người thầy để đáp ứng những lợi ích và
nhu cầu của học sinh. Những tình thế và nhiệm vụ hiện tại được tiếp nhận và được
giải quyết chứ không phải chỉ thụ động chờ đợi những yêu cầu và vấn đề của
Học sinh có thể tự do đi lại khi đang học trong những trường hợp cần thiết.
Ngô Doãn Ðãi [9]
: Dạy học lấy người học làm trung tâm là dạy học mà
kiến thức được người học tự tìm kiếm dưới sự hướng dẫn của thầy.
Nguyễn Ðức Thâm [22]: Trong chiến lược lấy học sinh làm trung tâm thì
học sinh quyết định tất cả từ mục đích, nội dung học đến lập kế hoạch học tập,
cách thức g
iải quyết vấn đề học tập, các hành động học tập đến đánh giá kết quả
và kết luận.
Qua các ý kiến trên của các nhà giáo dục ta thấy có những điểm chung của
các quan niệm dạy học hướng vào người học là:
Giáo viên không phải là người quyết định toàn bộ quá trình dạy học mà chủ
yếu giữ vai trò là người tổ chức, cố vấn, hỗ trợ học sinh. Học sinh đóng vai trò chủ động, được quyết định một phần nhiều hay ít
việc học tập của mình.
Quá trình dạy học là quá trình học sinh chủ động, tích cực, tự lực chiếm
lĩnh kiến thức, kỹ năng.
Quan tâm đến những đặc điểm cá nhân của học sinh, cố gắng tạo cơ hội cho
tất cả học sinh học tập và phát triển.
1.2.
Những điểm khác nhau cơ bản giữa quan điểm “Dạy học giáo viên
làm trung tâm” và quan điểm “Dạy học học sinh làm trung tâm” [3], [21]
Quan điểm dạy học
giáo viên là trung tâm
Quan điểm dạy học
học sinh là trung tâm
1.2.1. Mục tiêu
- Mục tiêu được đặt ra giống nhau cho tất
Internet, gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu
của học sinh.
- Tình huống thực tế, …
- Những vấn đề học sinh quan tâm, …
Xây dựng trên những thành tựu đã có và
những thành tựu mới của tâm lý học sinh
Piaget về sự phát triển trí tuệ theo lứa tuổi,
lý thuyết L.Vưgôtski về khả năng phát triển
trí tuệ.
Trong lý luận dạy học này, thì tất cả các
học sinh cùng một lứa tuổi (một bậc học,
một khối lớp) được cho rằng có đặc điểm
tâm lý, nhận thức giống nhau. Vì thế có thể
tổ chức quá trình dạy học theo một thiết kế
có tất cả học sinh. Việc lựa chọn phương
pháp dạy học khác nhau chủ yếu được
quyết định bởi nội dung học mà không phải
bởi học sinh.
1.2.4. Cách thức tổ chức quá trình dạy
học
Cố định, giới hạn trong 4 bức tường của
nhân khác nhau nên cách thức đánh giá
cũng khác nhau. Cụ thể là giáo viên sẽ
đánh giá theo nhóm, và các học sinh trong
nhóm tự đánh giá lẫn nhau trong quá trình
làm việc trên các phiếu học tập trong quá
trình học và ở các phiếu giao việc về nhà. 1.3. Tổng quan về các lý thuyết dạy học hướng vào người học
1.3.1. Lý thuyết về sự khác nhau của các chức năng tư duy của hai bán
cầu não phải và bán cầu não trái [1]
Những thành tựu nghiên cứu sinh lý học thần kinh (khoa học về não) ở
cuối thế kỷ XX cho thấy hai bán cầu não có các chức năng tư duy khác nhau:
Não trái Não phải
1. Logic. 1. Trực giác
2. Ngôn ngữ 2. Thị giác phi ngôn ngữ.
3. Mặt phẳng 3. Không gian ba chiều.
4. Phân tích 4. Sáng tạo
5. Lý trí 5. Tổng thể
6. Nghiêm túc. 6. Nghệ sĩ
7. Dứt khoát, rõ ràng. 7. Khôi hài.
8. Có khuynh hướng hiểu ký hiệu (chữ
cái, từ)
8. Có khuynh hướng xem vật cụ thể và
luôn là người đọc rất tồi.
9. Tích luỹ kinh nghiệm qua sách, vở. 9. Cần có tranh minh họa để hình dung
hiện thực rõ ràng.
10. Sử dụng thị giác và thị giác hành vi 10. Sử dụng thị giác và chuyển động hành
vi.
11. Tất cả chỉ dẫn dưới dạng chữ viết, cụ
cảm, liên kết về thị giác và không gian, cảm
nhận âm nhạc, nhịp điệu, vũ điệu, các loại
hoạt động phối hợp thể lực, các quá trình tư
duy tổng hợp và tự duy suy diễn.
Các chức năng của não trái có đặc
điểm là tuần tự, hệ thống.
Các chức năng não phải có đặc điểm ngẫu
hứng, tản mạn.
Não trái có thể ghép mảnh rời
thành tổng thể (từ chi tiết đến tổng
thể, tuần tự theo quy trình: cứ làm
rồi sẽ biết)
Não phải lại nhìn thấy cái tổng thể trước
(nắm cái tổng thể bằng trực giác, linh cảm;
nhận ra kết quả cuối cùng rồi mới làm, sau
đó mới mổ xẻ thành chi tiết).
Tư duy não trái là tố chất phát triển
trí thông minh.
Tuy duy não phải là tố chất phát triển óc
sáng tạo.
Ðịnh hướng bằng quy trình. Ðịnh hướng bằng hình ảnh, biểu đồ.
Ðặt và trả lời câu hỏi tuần tự. Ðặt và trả lời câu hỏi đủ loại, ngẫu hứng.
Theo quan điểm cũ các chức năng của bán cầu não trái luôn được coi là trội hơn,
nó như một đặc điểm chung của con người mang tính bẩm sinh, di truyền, còn
theo các thành tựu khoa học mới trong lĩnh vực này cho thấy sở dĩ có vấn đề trên
(sự phát triển trội hơn của các chức năng tư duy thuộc não trái) chủ yếu là do tác
động của giáo dục chứ không phải chỉ do yếu tố di truyền mang tính loài, người ta
khi sinh ra có thể có
sự đồng đều hay không đồng đều giữa các chức năng của hai
bán cầu não nhưng sự phát triển tiếp theo phụ thuộc rất nhiều vào giáo dục. Giáo
2. Lý thuyết về sự đa dạng trí thông minh [18 ]
Kinh nghiệm đời sống hằng ngày cho thấy có cá nhân có khả năng diễn tả
qua ngôn ngữ tốt nhưng không có khả năng âm nhạc; có cá nhân có thể diễn tả tư
tưởng qua hội họa nhưng không có khả năng về trình diễn nghệ thuật.
Theo Haward Gardner thì có ít nhất bảy lĩnh vực khác biệt của trí thông
minh:
Trí thông minh ngôn ngữ: Loại trí thông minh này là một hình thức hiểu
biết cao độ của các thi sĩ, văn sĩ, nhà soạn kịch, học giả, … có khả năng sử dụng
một cách sáng tạo về từ ngữ, phân tích, tổng hợp, suy luận, ẩn dụ một cách hữu
hiệu.
Trí thông minh âm nhạc: Ðây là khả năng thiên tài của các nhạc sĩ, các
nhà
soạn nhạc lừng danh. Trí thông minh này tiềm ẩn trong ký ức nhà thông thái,
chỉ đợi thời gian và hoàn toàn cảnh để bộc phát.
Trí thông minh lý luận toán học: Khả năng thiên tài toán học với óc lý
luận siêu việt. Từ khả năng này, nhà bác học thông thảo nhiều lĩnh vực khác liên
quan đến toán học như vậy lý, nguyên tử, sinh học, …
Trí thông minh các lĩnh vực không gian: Ðây là lĩnh vực hoạt động của
các kiến trúc sư, các kỹ sư, các họa sĩ. Các
nhân vật thuộc lĩnh vực này có những
cái nhìn đặc thù về không gian, có những viễn ảnh tương lai khác hẳn người
thường.
Trí thông minh trình diễn thể hình: Ðây là lĩnh vực hoạt động của các lực
sĩ, các đấu thủ tranh tài các môn thể dục thể thao; các nghệ sĩ trình diễn xiếc, múa.
Trí thông minh này liên quan đến nghệ thuật trình diễn và kiểm soát thể lực.
Trí thông minh nội tâm: Ðâ
y là lĩnh vực hoạt động của các nhà tư tưởng,
các triết gia, các nhà sáng lập tôn giáo.
Trí thông minh xã hội: Sự hiểu biết tường tận về mọi hoàn cảnh xã hội, lý
phát hiện ra vấn đề.
Người học từ chi tiết (từ chi tiết đến tổng thể): Những người học theo
phong cách này thì họ thích thông tin được
trình bày rõ ràng và trật tự. khi một
vấn đề lớn hiện ra, họ sẽ sắp xếp các chi tiết theo một trật tự để hiểu nó.
Người học từ tổng thể (từ tổng thể đi vào chi tiết): Những người học theo
cách này là những người thích tiếp cận vấn đề một cách chính diện và hệ thống.
Họ nhì
n tổng thể trước sau đó mới đi vào chi tiết.
1.3.3.2. Lý thuyết về sự đa dạng của phong cách tư duy [21]
Những nghiên cứu gần đây cho thấy có ít nhất 4 kênh hay 4 phong cách tư
duy điển hình của người trưởng thành đại diện cho những người có sự phát triển
trội các chức năng tư duy ở một trong hai bán cầu não nhờ tác động giáo dục và
hoạt động thực tiễn.
Kênh cụ thể - tuần tự.
Kênh trừu tượng - tuần tự.
Kênh cụ thể - ngẫu hứng.
Kênh trừu tượng - ngẫu hứng.
Theo nghiên cứu này thì mỗi cá nhân đều có các khả năng trí tuệ trên mỗi
nhưng cá nhân lại có thiên hướng sử dụng một hoặc hai kênh tư duy nà
o đó tốt
hơn những kênh khác. Ðó là khuynh hướng tự nhiên khiến chúng ta khác nhau.
Cụ thể - Tuần
tự
Trừu tượng -
Tuần tự
Cụ thể - Ngẫu
hứng
Có kiểu tư duy
tuần tự nhưng hệ
thống (hai chiều,
kiểu nhánh cây)
Có kiểu tư duy
ngẫu hứng, mạng
lưới.
Có kiểu tư duy 3
chiều, ngẫu hứng.
Sản
phẩm
hoạt
động
Có khả năng tạo
ra những sản
phẩm sao chép,
trao chuốt.
Có khả năng tạo
ra những lý
thuyết, mô hình
…
Có khả năng tạo
ra các sản phẩm
từ trí tưởng tượng,
óc mỹ thuật, có
khả năng dựng
các mối quan hệ.
Có bẩm sinh sáng
tạo, phát minh.
Ngôn
gian, không gian
là yếu tố do con
người quyết định.
Hiện tại là tổng
thể của quá khứ
và là mầm móng
của tương lai.
Khuynh
hướng
đối với
ngoại
cảnh
Xu hướng chấp
nhận ngoại cảnh.
Xu hướng bên
ngoài là chấp
nhận ngoại cảnh
nhưng tinh thần
bị kích thích.
Xu hướng tự do,
năng động thích
thay đổi, …
Xu hướng không
chấp nhận ngoại
cảnh, nhiều kích
thích, ganh đua
…
Trung
tâm chú
ý
được những kinh nghiệm mới trong cuộc sống.[29].
Yếu tố cơ bản của dạy học kiến tạo:[29]
Học là tự tìm kiếm kiến thức. Học phải bắt đầu với việc phát hiện ra những
gì đang diễn ra xung quanh, người học phải cố gắng để xây dựng nê
n kiến thức.
Ý nghĩa của kiến thức đòi hỏi phải hiểu nguyên vẹn từng phần trong kiến
thức. Những phần của kiến thức phải được hiểu và vận dụng trong những tình
huống (ngữ cảnh) khác nhau. Quá trình học là trọng tâm của những khái niệm ban
đầu chứ không phải là những yếu tố riêng lẻ.
Ðể dạy tốt, chúng ta cần phải hiểu biết về tiến trình của phát triển trí tuệ,
học sinh phải có hiểu biết về thế giới và đưa giả thuyết để bổ su
ng và hỗ trợ cho
thế giới thực.
Mục đích của việc học là xây dựng từ cái riêng lẻ thành những khái niệm
có ý nghĩa cho bản thân chứ không nên nhớ để trả lời câu hỏi đúng hay sai và
không nên nhớ những ý nghĩa riêng lẻ, độc lập. Từ lúc giáo dục gắn liền với nhiều
ngà
nh học, cách duy nhất để đánh giá việc học là đánh giá từng phần của quá trình
học, điều đó làm cho học sinh có hình thức học chất lượng hơn. Hiện nay có nhiều
cách đánh giá kết quả học của học sinh một cách chất lượng hơn.
Có 5 phần cơ bản thể hiện tính đa dạng của thuyết dạy học kiến tạo:
Hoạt động tích cực.
Làm việc có trật tự.
Tự khẳng định mình.
Có mối liên hệ với xã hội.
Có sự phát triển trong khoảng thời gian của cuộc đời.
Dạy học kiến tạo là một trong những học thuyết giáo dục được chú ý nhiều
nhất hiện nay. Nó có một tiềm năng làm cho dạy học truyền thống phải cấu t
kiến, kinh nghiệm đã có sẵn, có thể thay đổi n
hững gì chúng ta tin hay cũng có thể
loại bỏ những thông tin mới không thích hợp. Tự mỗi người tìm ra kiến thức riêng
cho bản thân.
Trong lớp, quan điểm dạy học kiến tạo có thể chỉ ra sự khác nhau của
hoạt động dạy. Dạy học kiến tạo thường khuyến khích học sinh sử dụng kỹ năng
hoạt động (kinh nghiệm, giải quyết vấn đề của cuộc sống), để tạo ra nhiều kiến
thức hơn và có sự tương phải lại, thảo luận về những gì chúng ta đang làm
và
chúng ta hiểu sự thay đổi đó là như thế nào. Giáo viên sẽ làm cho hiểu chắc hơn
những khái niệm có sẵn và hướng hoạt động của học sinh đi thẳng đến vấn đề cần
thiết.
Giáo viên dạy học theo kiểu kiến tạo khuyến khích học sinh không
những đá
nh giá hoạt động mà giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức bằng những
câu hỏi và chiến lược, học sinh trở thành người tinh thông. Ðó là công cụ giúp học
sinh luôn mở rộng tầm nhìn để tiếp thu kiến thức. Hãy coi kiến thức như là đường
xoắn ốc. Khi kiến thức tương phản với kinh nghiệm, học sinh tìm ra ý kiến riêng
trong mớ kiến thức hỗn độn và kiến thức tăng dần kỹ năng tổng hợp thà
nh thông
tin mới. Một trong những vai trò chính của giáo viên là trở thành người khuyến
khích và là một quá trình tương phản.