ĐỊNH HƯỚNG và GIẢI PHÁP đẩy MẠNH đầu tư RA nước NGOÀI của tập đoàn VIỄN THÔNG QUÂN đội - Pdf 54

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI
PHÁP ĐẨY MẠNH ĐẦU
TƯ RA NƯỚC NGOÀI
CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN
THÔNG QUÂN ĐỘI

1


- Bối cảnh kinh tế mới và định hướng đẩy mạnh đầu
tư ra nước ngoài của Viettel
- Bối cảnh kinh tế mới- Cơ hội và thách thức đối đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài của Viettel
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Viettel được đặt ra
theo xu hướng mở cửa và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt
Nam. Mô hình kinh tế mới tạo điều kiện thuận lợi hơn trong
việc phát huy sức mạnh tổng hợp, huy động nguồn lực, sức
sáng tạo của toàn dân để đẩy mạnh phát triển công nghiệp trong
vùng. Các cơ chế, chính sách tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ là
tiền đề để phát huy hơn nữa việc sử dụng các nguồn lực, các
tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư ra nước ngoài.
Chương trình hành động của Chính phủ Việt Nam trong
những năm tới tập trung chủ yếu vào việc thay đổi mô hình
tăng trưởng, chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng, dựa chủ
yếu vào các yếu tố lợi thế so sánh sẵn có sang khai thác các
yếu tố cạnh tranh trên cơ sở công nghệ cao, chất lượng cao
của nguồn nhân lực và tính hiện đại của cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội. Đây là cơ sở để duy trì tốc độ tăng trưởng của các
ngành kinh tế, trong đó có lĩnh vực viễn thông.
2


60%). Trừ thị trường chưa phát triển, thì dù ở đâu, viễn thông
cũng là lĩnh vực cạnh tranh cao và khá rủi ro. Trên thế giới có
1.500 công ty đang nắm giữ giấy phép, nhưng chỉ 500 công ty
có lãi. Thị trường dưới 20% hiện chỉ còn Myanmar, Cuba,
Triều Tiên. Trong khi đó, thị trường có độ phủ 20 - 60% còn
khá nhiều, nhất là tại châu Phi. Như vậy, để đầu tư vào các thị
trường nước ngoài, các DNVT Việt Nam không thể lựa chọn
các thị trường phát triển vì hết giấy phép trong khi các thị
trường chưa phát triển thì khả năng thu hồi vốn không cao;
cạnh tranh và rủi ro lớn (vấn đề ổn định chính trị; chính sách
bao vây cấm vận, khả năng đổi mới của nền kinh tế các thị
trường này.).
Việc xác định thị trường mục tiêu là các thị trường đang
phát triển đang là xu hướng của các DNVT thế giới và đây
cũng sẽ là hướng đi của các DNVT Việt Nam nếu muốn mở
rộng ra ĐTRNN. Bên cạnh đó, việc triển khai đầu tư bằng
hoạt động M&A (mua-bán sáp nhập doanh nghiệp) cũng là
4


một cửa hẹp cho các DNVT Việt Nam phải tính toán nếu
muốn thâm nhập vào các thị trường phát triển. Viettel đã phải
“tìm đường tắt” đầu tư vào thị trường Myanma bằng kế hoạch
góp 800 triệu USD để phát triển viễn thông với một đối tác
Myanmar vào cuối năm 2014. Tháng 3/2015, lãnh đạo của
Viettel Global cho biết Công ty đã hoàn tất vụ sáp nhập giữa
công ty con tại Campuchia là Metfone với thương hiệu
Beeline Campuchia. Cho dù giá trị của hợp đồng do đã ký bảo
mật với đối tác, đại diện Viettel Global cho biết việc mua lại
sẽ giúp Metfone gia tăng mạng lưới tại đây. Bên cạnh đó,

Một thách thức khác đó là chuẩn bị nhân lực cho việc
ĐTRNN của Viettel. Với đòi hỏi phải am hiểu địa bàn đầu tư;
phong tục, tập quán; môi trường pháp luật và đầu tư... thì rõ
ràng việc chuẩn bị nhân lực để đưa ra nước ngoài từ giai đoạn
6


tìm hiểu đến giai đoạn triển khai là một thách thức không dễ
vượt qua của các DNVT Việt Nam nói chung, Viettel nói
riêng so với các đối thủ là các DNVT thế giới. Những bài học
về thành công và thất bại của các DNVT Việt Nam suốt thời
gian qua cần được đúc rút; chia sẻ để cùng hướng đến sự
thành công.
- Định hướng đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước
ngoài của Tập đoàn Viễn thông Quân đội
Năm 2016, Viettel phấn đấu tăng trưởng 20%, doanh thu
đạt 230.000 tỷ đồng, lợi nhuận tăng 15%, năng suất lao động
tăng 15%. Định hướng của Viettel là duy trì mức tăng trưởng
này liên tục đến năm 2020 để có thể đạt tới doanh thu gấp đôi
hiện nay, khoảng trên 400.000 tỷ đồng, đầu tư ra 30 đến 35
nước, hàng năm chi 200 đến 400 triệu USD cho nghiên cứu phát triển, sáng tạo công nghệ, phấn đấu vào top 10 Công ty
Viễn thông lớn nhất thế giới và trở thành một doanh nghiệp
toàn cầu. Mục tiêu của Viettel là chuyển mô hình từ một
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sang mô hình doanh nghiệp
nghiên cứu - sản xuất với phương châm “phải nhanh hơn,
thông minh hơn, hiệu quả hơn, phải xuất sắc, luôn khác biệt
và không chấp nhận sự trung bình”.
7





VNĐ

VNĐ

Với thị trường Campuchia, mặc dù cơ hội đầu tư, kinh
doanh ở thị trường này còn rất ít nhưng VTG quyết tâm duy
trì vị trí số một trên thị trường viễn thông tại Campuchia.
Mạng 3G được coi là sẽ làm thay đổi diện mạo dịch vụ
Internet tại thị trường này, chính vì thế mà VTG dự kiến sẽ bổ
sung thêm 400 trạm bao gồm: 74 trạm phủ kín tại trung tâm
tỉnh, 92 trạm phủ kín tại trung tâm các huyện có điện, 54 trạm
phủ sóng quốc lộ, 180 trạm bổ sung cho Phnom Pênh. Về
Internet băng rộng tới năm 2016 có 250 nghìn thuê bao chiếm
80% thị phần phát triển mới. Bên cạnh việc đẩy mạnh hoạt
động phát triển đầu tư mạng lưới viễn thông tại thị trường này
thì Viettel cũng đang đặt ra mục tiêu phát triển trong thời gian
tới sẽ tham gia vào việc tìm hiểu và đẩy mạnh phát triển sang
một lĩnh vực mới như bất động sản.
Là thị trường nước ngoài thứ 4, thứ 5 Viettel tham gia
đầu tư gần đây, thị trường Mozambique và Peru được đánh
giá là nơi thị trường viễn thông đang có những dấu hiệu phát
triển tốt với tỷ lệ thâm nhập vào thị trường này còn thấp nên 2
9


thị trường này được xem như một mỏ vàng về số lượng thuê
bao chưa được khai phá đối với nhà đầu tư về viễn thông như
Viettel. Viettel đang có kế hoạch và mục tiêu đầu tư phát triển

chóng (hiện tương đương với Việt Nam, khoảng 2
USCent/phút), sự cạnh tranh khốc liệt của các nhà mạng tại
Myanmar… Đó là những thách thức lớn đối với Liên doanh
mới, song với kinh nghiệm từ việc đầu tư tại 10 thị trường
nước ngoài, cùng với chiến lược kinh doanh linh hoạt, hiệu
quả, Viettel tự tin và kỳ vọng tiếp tục thành công tại thị
trường Myanmar.
Theo thông tin từ Viettel, 2 đối tác đang đàm phán liên
doanh với Viettel sẽ chiếm 51% cổ phần, bao gồm một công
ty trung gian địa phương (SPV) là The Myanmar. National
Holding Public Limited và một công ty nhà nước là Star High
Public Company Limited. SPV sẽ chiếm 28% cổ phần và Star
11


High Public Company Limited chiếm 23% cổ phần. Trong
Liên doanh, Viettel sẽ nắm cổ phần chi phối. Dự kiến, Liên
doanh sẽ có chủ tịch của 2 đối tác Myanmar đề cử và tổng
giám đốc điều hành sẽ của Viettel.
Đối thủ của Viettel tại Myanmar là Tập đoàn Bưu chính
- Viễn thông Myanmar (MPT), Ooredoo và Telenor. Ba nhà
mạng này hiện sở hữu gần 36 triệu thuê bao (MPT chiếm 18
triệu thuê bao, Telenor 12 triệu thuê bao và Ooredoo 5,8 triệu
thuê bao).
Hiện nay, với mạng lưới rộng khắp, chất lượng ngày một
nâng cao Viettel được biết đến như một thương hiệu mạnh sẽ
tạo được đà cho sự phát triển trong giai đoạn tiếp theo. Trong
thời gian tới, sẽ có nhiều khó khăn, trở ngại nhưng tin rằng
Viettel vẫn sẽ có những bước đi vững chắc trên con đường trở
thành một tập đoàn kinh thế lớn của quân đội và đất nước để



vững chắc cho các doanh nghiệp này tiến đến đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài.
Bậc thầy marketing Philip Kotler từng khẳng định: “Các
nhà tiếp thị sẽ phải chuyển từ chỗ tập trung vào những phân
khúc lớn sang chỗ nhắm vào các khu vực riêng biệt. Ta làm
giàu được là với các khu vực riêng biệt”; do đó, bên cạnh việc
đa dạng hóa thị trường thì Viettel cần phải tập trung vào thị
trường trọng điểm, thị trường có tỷ lệ thị phần cao - những
nơi mà được định hướng là thị trường tiêu thụ sản phẩm lâu
dài, có khả năng lớn để trở thành nơi ta đầu tư sang. Đồng
thời chú trọng vào chuyên môn hóa về một sản phẩm mà
mình có lợi thế nhất trên cơ sở phù hợp với tập quán, điều
kiện xã hội của từng thị trường.
Những ví dụ điển hình có thể thấy tại các tập đoàn lớn
đang sản xuất tại Việt Nam như Unilever, Pepsi... Ban đầu khi
tấn công vào thị trường Việt Nam, họ chỉ tung sản phẩm được
coi là thế mạnh của mình như các sản phẩm dầu gội đầu, xà
phòng (Unilever) hay coca (Pepsi). Sau khi chiếm được lòng
tin của người tiêu dùng Việt Nam, họ mới tiếp tục tung ra
nhiều sản phẩm mới như bột nêm Knorr, nước mắm Knorr
(Unilever) và nước khoáng Aquafina, bánh snack Poca
14


(Pepsi), trong cùng thương hiệu của Unilever và Pepsi. Từ
đây chúng ta có thể thấy được một phương cách mới để tiếp
cận thị trường nhanh chóng hơn, đó là các doanh nghiệp có
tiềm lực tài chính sẽ mua lại thương hiệu sản phẩm và dây

doanh phù hợp. Đối với các đại gia như châu Âu, Hoa Kỳ,
Nhật Bản và một số nước phát triển châu Á khác thì cần phải
xem kỹ luật ứng xử với các sản phẩm nhập khẩu tại nước này
và cần phải có những chiến lược dự phòng thị trường để tránh
bị động trong trường hợp bị các nước lớn này chèn ép. Còn
đối với các thị trường khác, một mặt cần phải giữ uy tín trong
kinh doanh, mặt khác cần khéo léo tranh thủ khoảng trống của
luật trong điều kiện có thể, để sản phẩm chúng ta nhanh
chóng chiếm giữ thị trường. Đa số doanh nghiệp đồng ý rằng
bảo vệ thương hiệu và hoạch định chiến lược marketing tại
nước ngoài là cần thiết, điều này càng khẳng định thêm rằng
16


hoạch định và vận dụng chiến lược marketing quốc tế của
Viettel trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài để có thể thâm nhập
và tiến hành đầu tư trực tiếp.
- Huy động tích tụ vốn và lựa chọn nhiều hình thức
đầu tư thích hợp để mở rộng tái đầu tư, tăng sức cạnh
tranh trên thương trường quốc tế
Năng lực của doanh nghiệp Việt Nam về vốn không
mạnh, bên cạnh đó kinh nghiệm quản lý còn hạn chế nên
việc cạnh tranh đối với các doanh nghiệp kinh doanh cùng
lĩnh vực tại nước tiếp nhận đầu tư là rất khốc liệt. Khảo sát
cho thấy có 30% doanh nghiệp chưa chuẩn bị vốn để sẵn
sàng đầu tư ra nước ngoài. Hầu hết các dự án đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài của Việt Nam đều là những dự án mới bắt
tayvào thực hiện, nên cần phải tập trung một lượng vốn lớn
đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị. Hoạt động sản xuất



hình thức 100% vốn nước ngoài dù vẫn còn hạn chế nhất
định, nhưng các nhà đầu tư Việt Nam nên ưu tiên lựa chọn để
được tự mình quản lý dự án. Hình thức đầu tư này cũng
thường được áp dụng cho các dự án vừa và nhỏ, phù hợp với
khả năng tài chính non trẻ của các doanh nghiệp Việt Nam,
nhất là doanh nghiệp tư nhân. Hình thức liên doanh phù hợp
với các doanh nghiệp Việt Nam trong việc giảm thiểu rủi ro
khi tiếp cận thị trường mới. Kinh nghiệm của Trung Quốc,
Đài Loan, Thái Lan cho thấy trong thời kỳ mới bắt đầu đầu tư
ra nước ngoài, doanh nghiệp các nước này thường áp dụng
hình thức liên doanh hơn là đầu tư 100% vốn nhằm tận dụng
sự thông thuộc thị trường, pháp luật của bên đối tác nước sở
tại và giảm chi phí đầu tư. Tuy nhiên, thời gian qua hình thức
này không đạt được hiệu quả như mong đợi do xảy ra nhiều
tranh chấp. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh thường là
kết quả của sự hợp tác giữa chính phủ Việt Nam với chính
phủ nước tiếp nhận thông qua các hiệp định. Hình thức này
bước đầu đã tỏ ra khá hiệu quả, đem lại nguồn lợi lớn cho
Việt Nam vì nhận được nhiều ưu đãi từ chính phủ nước tiếp
nhận. Ngoài ra, Viettel cũng nên khai thác đầu tư theo hình

19


thức BOT với các đối tác truyền thống như Lào và Campuchia
trong các dự án phát triển cơ sở hạ tầng.
- Tận dụng quyền thường trú tại một số quốc gia phát
triển

mang kinh doanh rất hiệu quả từ hai phía, cả ở thị trường
nước ngoài lẫn thị trường bản xứ của họ. Những tư cách
thường trú đó hoàn toàn không có gì bất tiện cho công việc
điều hành kinh doanh thường xuyên ở Việt Nam. Bởi lẽ,
doanh nhân có thể tận hưởng những ưu thế thường trú tại
Canada để mở rộng kinh doanh ở Bắc Mỹ và Tây Âu, mà vẫn
có thể tiếp tục sinh sống và điều hành cơ ngơi làm ăn tại Việt
Nam. Hơn nữa, họ còn có thể tiếp cận những hình thức đầu tư
tài sản có lợi và an toàn ở Bắc Mỹ, để bảo vệ tương lai tài
chính khỏi những bất trắc ngoài dự kiến.

21


- Nghiên cứu kỹ các tập quán và môi trường đầu tư tại
các nước mà Viettel đang đầu tư
Việc nghiên cứu kỹ tập quán, tìm hiểu môi trường đầu tư
ở nước định đầu tư là một trong những điều cần thiết đối với
một Doanh nghiệp khi muốn đầu tư ra nước ngoài. Do mỗi
quốc gia có một nền văn hóa riêng với những thói quen và tập
quán khác nhau, nếu không nắm được điều này thì Doanh
nghiệp sẽ rất khó khăn khi muốn thâm nhập, mở rộng vào thị
trường mới bằng cách xác định nhu cầu và tiềm năng của thị
trường đó. Vì vậy, muốn mở rộng đầu tư ở 5 thị trường mà
Viettel đã tham gia đầu tư cũng như các thị trường tiềm năng mà
Viettel đã có kế hoạch sẽ đầu tư vào thì cần phải nghiên cứu kỹ
các tập quán và môi trường đầu tư để từ đó đưa ra các phương
thức quản lý, nâng cao được hiệu quả, năng suất công việc góp
phần tăng lợi nhuận, mang khoản lợi nhuận này từ các thì trường
nước ngoài này về cho Viettel. Nghiên cứu tập quán, môi


Như tại các trung tâm kỹ thuật ở các chi nhánh mà
Viettel đã đầu tư, hàng tháng cần có kế hoạch và tổ chức bảo
quản, bảo dưỡng, bảo trì các trạm BTS, các Node truyền dẫn,
tổng đài DISLAM… để nâng cao chất lượng của mạng lưới.
Ngoài ra, cần mở rộng hơn các mạng lưới cơ sở hạ tầng và
vùng phủ sóng bằng cách tăng các trạm BTS cho tương xứng
với sự phát triển của nhà mạng Viettel, đảm bảo chất lượng
cuộc gọi ngày càng được nâng cao. Cần phải liên tục theo dõi
xu hướng biến động công nghệ của thế giới để có hướng đi
thích hợp tránh lạc hậu về công nghệ mang đi đầu tư.
Cuối cùng, cần tập trung vào các thị trường tiềm năng.
Hiện tại các nước mà Viettel đầu tư vào đều là những
nước nghèo, những nước đang phát triển, chính vì thế mà
Viettel cần tập trung nghiên cứu thị trường thật kỹ tránh
trường hợp mất tiền của, công sức đi đầu tư mà không mang
lại hiệu quả cao. Ngoài ra, khi đã đầu tư cần nghiên cứu xem
tại thị trường tiềm năng đó đâu là khách hàng tiềm năng mà
Viettel muốn hướng tới để khai thác tốt khu vực này. Khi khai
thác tốt mới mang lại được hiệu quả cao. Viettel muốn mở
rộng hơn việc đầu tư ra nước ngoài thì trước hơn cần phải có
phương pháp nghiên cứu thị trường ổn thỏa, thỏa mãn được
24


những nhu cầu mà Viettel có khả năng làm được để đầu tư
chứ không phải cứ đầu tư tràn lan nước nào cũng đầu tư như
thế việc mang lại hiệu quả sẽ không cao mà tốn rất nhiều chi
phí đầu tư. Trong thời gian qua Viettel đã làm tốt công việc là
tìm kiếm được 5 thị trường tiềm năng nhưng muốn mở rộng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status