TÁC ĐỘNG của QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ và đô THỊ HOÁ TRÊN LĨNH vực xã hội ở HUYỆN tân THÀNH, TỈNH bà rịa VŨNG tàu – đề XUẤT GIẢI PHÁP - Pdf 54

Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

MỤC LỤC
ššš šš

Trang
Mở đầu: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI .............……………………………………………………... 3
Chương một: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ..................……………………………. 5
I. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI...........…………………. 5
I.1. Mục tiêu nghiên cứu .........................……………………………………………………... 5
I.2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài.................................…………………... 6
II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI CỦA HUYỆN TÂN THÀNH,
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU. .............................................................................................

7

II.1. Điều kiện tự nhiên ..............................…………………………………………………….. 7
II.2. Đặc điểm xã hội .................................…………………………………………………….. 9
Chương hai: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .....................................……………………………. 14
I. QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ
HUYỆN TÂN THÀNH (1994 - 2006) ................................……………………………... 15
I.1. Công nghiệp hóa ..........................……………………………………………………...... 16
I.2. Đô thị hóa .........................…………………………………………………….................. 21
II. TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ
LĨNH VỰC DÂN CƯ VÀ VIỆC LÀM ............................................................

TRÊN
24

II.1. Thực trạng, những chuyển biến ........…………………………………………………... 24


111

VII.2. Giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn .. 112
VII.3. Giải pháp tăng tốc xây dựng và phát triển đô thị ……………………………….. 113
Chương ba: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .....................................………………………… 115
I. KẾT LUẬN ................................................................................................................. 115
II. KIẾN NGHỊ ............................................................................................................... 116
II.1. Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và các ngành liên quan..116
II.2. Kiến nghị với Ủy ban nhân dân huyện Tân Thành .....……………………………..... 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 122
I. Danh mục tài liệu chung .....……………………………................................................... 122
II. Danh mục tài liệu tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu .....…………………………….................... 123
III. Danh mục tài liệu Ban Quản lí các khu công ngiệp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ........ 128
IV. Danh mục tài liệu huyện Tân Thành ............................................................................129
V. Một số công trình của nhóm nghiên cứu

........................................................... 140

PHỤ LỤC .......................................................................................................................... 142
I. Phụ lục 1: Bản đồ .................………………………….................................................... 143
II. Phụ lục 2: Bảng biểu số liệu thống kê ..........…………………………........................ 148
III. Phụ lục 3: Một số kết quả khảo sát, điều tra thuộc lĩnh vực dân cư, việc làm .... 167

2


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”


3


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

Căn cứ Hợp đồng nghiên cứu khoa học (số 21/HĐ.SKHCN, ngày 10 tháng 8
năm 2006) giữa Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Cơ quan chủ
quản) với Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ (Đơn vị chủ trì), Chủ nhiệm đề tài
và nhóm đã triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học nêu trên trong 18
tháng (từ tháng 8 năm 2006 đến tháng 1 năm 2008).
Để giải quyết những nội dung và thực hiện mục tiêu của đề tài, nhóm nghiên
cứu đã tiến hành khai thác và tổng hợp tư liệu từ nhiều nguồn: Khảo sát đời sống
hiện thực sinh động tại các thôn/ấp và các đơn vị sản xuất (thu thập thông tin vào
1.035 phiếu theo 20 mẫu); Sưu tầm dữ liệu thư tịch (trên 350 đơn vị tài liệu); Khai
thác thông tin từ các website, các băng ghi âm hội thảo khoa học; Trao đổi kinh
nghiệm kết hợp với phỏng vấn sâu và lấy ý kiến chuyên gia...
Trên cơ sở xử lí thông tin tư liệu có được, nhóm nghiên cứu thực hiện 15
báo cáo chuyên đề, xây dựng bản đồ, tổ chức các cuộc tọa đàm khoa học, công
bố trên tạp chí một số bài viết có liên quan đến nội dung của đề tài, v.v...
Sản phẩm cuối cùng là Báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài, sau khi
nghiệm thu ở cấp cơ sở tại Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ vào cuối tháng 1
năm 2008, được tu chỉnh lần thứ nhất và đưa ra nghiệm thu chính thức tại Sở
Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào đầu tháng 4 năm 2008.
Căn cứ Kết luận của Chủ tịch Hội đồng khoa học và tiếp thu những nhận
xét, góp ý của các thành viên Hội đồng, Chủ nhiệm đề tài và nhóm nghiên cứu
tiếp tục chỉnh sửa và bổ sung nội dung sản phẩm cuối cùng của đề tài.
Báo cáo kết quả nghiên cứu này được bố cục như sau:
- Mở đầu: Giới thiệu về đề tài.
- Chương một: Tổng quan vấn đề nghiên cứu.

Hơn thế nữa, do vị trí địa lý và đặc điểm lịch sử của huyện Tân Thành, việc
giải quyết những nội dung nghiên cứu của đề tài này không chỉ có ý nghĩa khoa
học và tính thực tiễn cao đối với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam và một số địa phương khác trên cả nước, mà còn cung cấp cơ sở khoa
học cho việc tổ chức, quản lí xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa,
đồng thời góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc tổng kết lí luận về tác động
xã hội trong phát triển bền vững.

5


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

I.2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
Như tên gọi và chủ đề khoa học của đề tài đã được xác định, đề tài nghiên
cứu “Tác động của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá trên lĩnh vực xã hội ở
huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu – Đề xuất giải pháp” tập trung khảo sát,
phân tích, đánh giá những tác động tích cực và tác động tiêu cực của quá trình
công nghiệp hoá và đô thị hoá trên các lĩnh vực xã hội ở huyện Tân Thành, tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu, giai đoạn từ năm 1994 (khi thành lập huyện) đến năm 2006.
Kết quả nghiên cứu đạt được là cơ sở để đưa ra những giải pháp và đề xuất kiến
nghị với địa phương.
Xã hội là một lĩnh vực rất rộng. Những tác động của quá trình công nghiệp
hóa và đô thị hóa trên lĩnh vực xã hội cũng có nhiều chiều kích, đa dạng và phức
tạp. Căn cứ vào khả năng của mình và để tương thích với những điều kiện cho
phép, nhóm nghiên cứu đã chọn những nội dung khả thi và đuợc Hội đồng khoa
học xét duyệt đề tài chấp thuận cho thực hiện. Theo đó, 4 lĩnh vực xã hội được
khảo sát, nghiên cứu là:
1. Tác động của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá trên lĩnh vực dân cư

Thành của huyện Châu Đức và xã Hòa Long, phường Phước Hưng của thị xã Bà
Rịa về phía đông; giáp huyện Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) về phía tây; giáp
xã Long Hương (thị xã Bà Rịa) và xã Long Sơn (thành phố Vũng Tàu) về phía
nam và giáp huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai về phía bắc.
Về địa hình, huyện Tân Thành nằm cận kề cửa biển (biển Đông), có địa hình
đa dạng, thoai thỏai và thấp dần theo hướng từ bắc xuống nam và từ đông sang
tây; có núi thấp, đồng bằng hẹp, bậc thềm phù sa cổ, rừng ngập mặn,…
Về địa chất, kết quả điều tra thổ nhưỡng cho thấy, ở Tân Thành có đất thủy
thành (đất cát, mặn, phèn, phù sa, dốc tụ, đất xám trên nền phù sa cổ) và đất địa
thành (đất đỏ vàng, đất xói mòn trơ sỏi đá và đất xám granit), được phân thành 14
loại đất thuộc 8 nhóm, trong đó 3 nhóm có diện tích lớn là đất xám, đất đỏ vàng,
đất phèn.
Về nguồn nước, địa bàn Tân Thành là một trong những điểm tập trung nguồn
nước ngầm của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, mực nước ở tầng sâu từ 60 m đến 90 m,
có dung lượng nước trung bình từ 10 m 3/s đến 20 m3/s. Nguồn nước mặt chủ yếu
có thể cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện là hệ thống
1

2

Cơ sở dữ liệu thông tin cho nội dung này được khai thác từ các công trình đã công bố: Bà Rịa Vũng Tàu con số và sự kiện; Báo cáo Quy hoạch tổng thể Kinh tế - Xã hội huyện Tân Thành,
tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu giai đoạn 1996 - 2010; Báo cáo trình duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung
xây dựng Đô thị mới Phú Mỹ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020; Báo cáo Quy họach tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Tân Thành thời kì 2006 - 2015, định hướng đến năm 2020;
Báo cáo số liệu phục vụ Chương trình xây dựng đô thị mới Phú Mỹ giai đoạn 2006 - 2015; Địa
chí Bà Rịa - Vũng Tàu; Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Tân
Thành 1930 - 2000; Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; một số Website... kết hợp với
những ghi nhận của nhóm nghiên cứu qua thực tiễn khảo sát, điều tra.
Theo Nghị định này, huyện Châu Thành tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được chia thành 3 đơn vị hành
chính là: thị xã Bà Rịa, huyện Châu Đức và huyện Tân Thành.

sông Thị Vãi, sông Cái Mép và các sông rạch khác tạo thành một bộ phận của
mạng lưới giao thông đường thủy kết nối cùng hệ thống giao thông đường thủy
của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, các tỉnh
Miền Tây Nam Bộ rồi tiếp tục đi xa hơn nữa. Đặc biệt, tuyến sông Thị Vãi có
khoảng 23 km chảy dọc theo địa giới phía tây của huyện, hội tụ đầy đủ điều kiện
phát triển hệ thống cảng nước sâu một cách thuận lợi bậc nhất ở Việt Nam 3.
3

Về địa danh “Thị Vãi”: tuy hiện nay có nhiều tài liệu viết là “Thị Vải”, nhưng trong Báo cáo này,
chúng tôi thống nhất viết “Thị Vãi”, như đã được ghi trong công trình “Địa chí Bà Rịa - Vũng
Tàu” (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005). Sông Thị Vãi có chiều dài khoảng 32 km, rộng từ
500 m đến 1000 m, sâu từ 6 m đến 20 m, toàn lưu vực có 700 km2, rất thuận tiện cho việc xây
dựng các cảng lớn để đón nhận tàu có trọng tải lớn từ 50 nghìn tấn đến 60 nghìn tấn ra vào;
trên tuyến sông này có thể xây dựng được khỏang 6 km cảng với tổng công suất từ 18 triệu tấn
đến 21 triệu tấn mỗi năm; khả năng to lớn này đang được nghiên cứu khai thác. Hệ thống cảng

8


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

Về giao thông đường bộ, huyện Tân Thành có quốc lộ 51 chạy dọc qua địa
bàn 4, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành một mạng luới giao thông kết nối
với thành phố Biên Hòa, thành phố Hồ chí Minh, thị xã Bà Rịa, thành phố Vũng
Tàu.

II.2. Đặc điểm xã hội
Được thành lập trên cơ sở các xã Phú Mỹ, Hội Bài, Phước Hòa, Mỹ Xuân,
Hắc Dịch, Châu Pha, khu kinh tế mới Tóc Tiên và 800 ha diện tích tự nhiên của

9


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

sự hình thành cơ sở Đại Tòng Lâm 5, Phật giáo phát triển mạnh, nhất là tại các
khu vực ven núi Dinh và núi Thị Vãi. Công giáo có mặt trên địa bàn Tân Thành từ
năm 1954, phần lớn là giáo dân từ miền Bắc và miền Trung di cư vào, hình thành
các giáo họ, giáo xứ ven lộ 15 (nay là quốc lộ 51). Sau năm 1975, trên khắp địa
bàn Tân Thành, có thêm những nhóm dân cư thuộc nhiều thành phần dân tộc và
tôn giáo từ nhiều địa phương trên cả nước đến làm ăn, sinh sống, lập nghiệp,
tham gia vào quá trình văn hóa - xã hội trên địa bàn này.
Tân Thành, có vị trí xứng đáng trong truyền thống hào khí Đồng Nai - Gia
Định. Ở đây, trên khắp địa bàn, từ những dải rừng ngập mặn ven sông gần biển
tới cụm núi Dinh - Thị Vãi, không chỉ có sẵn những cảnh quan thiên nhiên đa
dạng, hấp dẫn và độc đáo, mà còn khắc ghi biết bao sự kiện lịch sử - văn hóa mà
những lớp dân cư thuộc nhiều thành phần dân tộc đã chung sức đồng lòng, đóng
góp của cải, trí tuệ, xương máu và tính mạng trong suốt quá trình khai phá thiên
nhiên và bảo vệ lãnh thổ. Ở đây, mỗi địa danh như Núi Dinh, Hắc Dịch, Sông
Xoài, Châu Pha, Thị Vãi, Hội Bài, Ông Trịnh, Đại Tòng Lâm, v.v... 6 đều ẩn chứa
những dấu ấn bản sắc lịch sử - văn hóa địa phương, chan chứa những tình nghĩa
đậm đà, sâu sắc trong chuẩn mực quan hệ con người với thiên nhiên, cá nhân với
cộng đồng, v.v... kết lại thành truyền thống đoàn kết dân tộc trên cơ sở không
ngừng nâng cao tình yêu quê hương đất nước. Đặc biệt trong gần 80 năm dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống đoàn kết dân tộc và tình
yêu quê hương đất nước ở đây được phát huy mạnh mẽ và nâng lên tầm cao
mới. Trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 - 1975) đánh đuổi quân Pháp và
quân Mỹ xâm lược, Tân Thành là chiến khu cách mạng, là địa bàn đứng chân của
các cơ quan lãnh đạo kháng chiến cấp Tỉnh và cấp Miền, thực sự có những đóng

hậu quả nặng nề của chiến tranh, vượt qua những khó khăn, phức tạp để phục
hồi và phát triển kinh tế - xã hội, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy vậy,
cho đến trước khi thành lập huyện vào năm 1994, địa bàn này vẫn còn thuộc
“vùng sâu, vùng xa” của huyện Châu Thành: đất hoang hóa nhiều, thưa thớt về
dân cư, lạc hậu về kinh tế, nghèo nàn về các cơ sở vật chất và nhân lực cho các
họat động văn hoá, y tế, giáo dục, v.v…
Về giáo dục - đào tạo, trong số 8 đơn vị hành chính xã và thị trấn lúc
đó, chưa có đơn vị nào hòan thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù
chữ.
Về y tế - chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Trung tâm Y tế Tân Thành lúc
mới được thành lập (ngày 18 tháng 8 năm 1994) chỉ có 7 biên chế, 16 giường
bệnh với một số trang thiết bị cũ và lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu chăm
sóc sức khỏe cho nhân dân mà việc triển khai các chương trình y tế quốc gia vẫn
bị vướng mắc ở một số xã, việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của dân cư về nước
sinh họat cũng gặp nhiều khó khăn (năm 1994 toàn huyện chỉ có 271 giếng nước
khoan dân dụng và 4 giếng khoan công nghiệp, 130 bể lọc, 19 bể chứa nước loại
4 m3) nguy cơ dịch tả và bệnh sốt rét vẫn tiềm tàng ở một số điểm . Trên quốc lộ
51 có 22 km đi qua địa bàn huyện, vẫn thường xảy ra tai nạn giao thông; mức
sống nhân dân thấp nên việc đầu tư cho y tế còn khó khăn; trình độ dân trí thấp
nên nhận thức về y tế và chăm sóc sức khỏe còn hạn chế, v.v…
Về văn hóa - xã hội, cho đến năm 1994, tổ chức xã hội ở Tân Thành cơ bản
vẫn là tổ chức xã hội nông thôn; cư dân Tân Thành hầu hết là nông dân; mức
hưởng thụ văn hoá của người dân Tân Thành lúc này vẫn còn rất thấp (chỉ đạt
khỏang 1,2 lần/người/năm).
Thực tế đã cho thấy, Tân Thành không chỉ là địa bàn có những điều kiện địa
lí - tự nhiên và nhiều tiềm năng thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đa dạng (công
nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp...), mà còn là
vùng đất có bề dày lịch sử lâu đời, có những giá trị truyền thống bền vững. Từ khi
thành lập huyện, những tiềm năng, lợi thế về địa lí - tự nhiên và những di sản, giá
trị lịch sử - văn hóa của Tân Thành được khơi dậy và phát huy tốt hơn, tích cực

ngõ giao lưu kinh tế chủ yếu của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và của Vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam với các vùng khác trong cả nước và quốc tế. Vị trí của huyện Tân
Thành trong quy hoạch phát triển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam ngày càng được nâng cao.

8

Định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 được xác định tại Hội nghị lần thứ 4 Ban
chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã chỉ rõ: Quán triệt quan điểm coi vùng duyên hải gắn với
kinh tế biển là vùng động lực để mở cửa, thúc đẩy phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc gia; Chủ
trương, giải pháp về khoa học - công nghệ phải được coi là giải pháp đi trước, mang tính đột
phá, nhằm phát huy tốt nhất tiềm năng khoa học cho kinh tế biển. Vùng biển và ven biển Đông
Nam Bộ bao gồm đơn vị cấp huyện có biển thuộc khu vực Đông Nam Bộ (từ Bà Rịa - Vũng Tàu
đến hết bờ biển của thành phố Hồ Chí Minh), diện tích 2.279,5 km, dân số năm 2005 là hơn 1,9
triệu người, với định hướng chiến lược là: “Phát triển thành phố Vũng Tàu thành trung tâm
hướng ra biển của cả vùng”; và “Hình thành các tuyến hành lang kinh tế, các khu công nghiệp,
trong đó quan trọng nhất là tuyến hành lang kinh tế dọc quốc lộ 51”.

12


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

Tân Thành được định hướng phát triển kinh tế theo cơ cấu “công nghiệp dịch vụ - nông nghiệp” để xây dựng thành một đô thị mới, một trung tâm công
nghiệp hiện đại, một trung tâm dịch vụ phát triển (có hệ thống dịch vụ cảng biển
với các cảng container, cảng tổng hợp, cảng chuyên dùng và mở rộng nhiều loại
hình dịch vụ khác theo đà phát triển của công nghiệp và dịch vụ cảng), một khu
vực nông nghiệp trọng điểm ứng dụng công nghệ cao, phát triển cây công nghiệp
dài ngày, cây ăn quả đặc sản, cây rau xanh và hoa - cảnh.

cứu đề tài này thực hiện trên cơ sở xử lí các thông tin thu thập được từ điều tra, khảo sát thực
tiễn, kết hợp với những tài liệu thư tịch (nêu trong Danh mục tài liệu tham khảo ở phần cuối Báo
cáo này). Các chuyên đề đã được nghiên cứu, thẩm định, gồm: 1/ Tổng quan về kinh tế, xã hội,
văn hóa ở huyện Tân Thành từ khi thành lập huyện (1994) đến năm 2006; 2/ Biến chuyển về dân
số, lao động, việc làm và mức sống dân cư ở huyện Tân Thành (1994 - 2006); 3/ Thực trạng và
hướng giải quyết vấn đề tệ nạn xã hội và tội phạm ở huyện Tân Thành; 4/ Biến chuyển cơ cấu
xã hội ở huyện Tân Thành (1994 - 2006) và vấn đề quản lý đô thị hiện nay; 5/ Quan hệ dân tộc
và tôn giáo ở huyện Tân Thành: thực trạng và những vấn đề đặt ra; 6/ Hoạt động của các tổ
chức chính trị - xã hội ở huyện Tân Thành: thực trạng và những vấn đề đặt ra; 7/ Hoạt động y tế
ở huyện Tân Thành: thực trạng và những vấn đề đặt ra; 8/ Giáo dục - đào tạo ở huyện Tân
Thành: thực trạng và những vấn đề đặt ra; 9/ Biến chuyển về văn hóa, lối sống của cư dân
huyện Tân Thành giai đoạn 1994 - 2006; 10/ Đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện
Tân Thành giai đoạn 1994 - 2006; 11/ Các chính sách phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Tân
Thành giai đoạn 1994 - 2006; 12/ Các chính sách phát triển văn hoá - xã hội trên địa bàn huyện
Tân Thành giai đoạn 1994 - 2006; 13/ Đánh giá tổng hợp về những thành tựu, hạn chế và thách
thức trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá ở huyện Tân Thành giai đoạn 1994 - 2006;
14/ Cơ sở phương pháp luận cho việc xây dựng luận cứ và đề xuất giải pháp cho quá trình công
nghiệp hoá và đô thị hoá; 15/ Hệ thống giải pháp phát triển bền vững cho quá trình công nghiệp
hoá và đô thị hoá ở huyện Tân Thành.

14


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

I. QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ
HUYỆN TÂN THÀNH (1994 - 2006)
Địa bàn Tân Thành có nhiều điều kiện tốt (vị trí địa lí, địa hình, địa
chất, mặt bằng...) để đầu tư phát triển các khu công nghiệp (đặc biệt là các

10

Theo Quy họach này, có 5 khu công nghiệp không nằm trên địa bàn huyện Tân Thành là: khu
công nghiệp Long Sơn, khu công nghiệp Ngãi Giao, khu công nghiệp Phước Thắng và khu công
nghiệp Bắc Vũng Tàu.

15


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

Từ khi thành lập huyện (năm 1994) đến nay, Tân Thành thường xuyên
nhận được sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư có trọng điểm của Trung ương
và của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ở đây, ngày càng có nhiều công trình lớn
được xây dựng và đưa vào vận hành, nhiều dự án lớn về giao thông quốc
tế, trong nước và nội vùng đã và đang được tổ chức thực hiện, v.v… Theo
đó, tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Tân Thành được khởi động
và phát triển tích cực.

I.1. Công nghiệp hoá
Một trong những yêu cầu của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đặt ra là xây
dựng huyện Tân Thành thành một trung tâm công nghiệp lớn.
Sau khi thành lập huyện, Tân Thành thực sự là một địa bàn trọng
điểm đầu tư phát triển công nghiệp theo phân cấp quản lí của Trung ương
và của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, số vốn đầu tư trong 10 năm (1996 - 2005)
khoảng 4 tỷ USD.
Từ năm 1996, một hệ thống các khu công nghiệp được khẩn trương
triển khai xây dựng trên địa bàn Tân Thành, thu hút được nhiều dự án có
quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát

quốc lộ 51, chủ yếu trên địa bàn xã Mỹ Xuân, kế đến là thị trấn Phú Mỹ, xã
Tân Phước, xã Phước Hòa.
Năm 2007, trên địa bàn huyện có 108 dự án còn hiệu lực (trong đó có
55 dự án đầu tư nước ngoài và 53 dự án đầu tư trong nước), tổng vốn đầu
tư đăng ký là 5,84 tỉ USD và 17.939,5 tỉ VND. Khối lượng hàng hóa thông
qua hệ thống cảng trên địa bàn là trên 5 triệu tấn…

12

.

Trong quá trình xây dựng hệ thống cảng nước sâu, công nghiệp cơ
khí, sửa chữa tàu thuyền và nhiều ngành công nghiệp gắn liền với cảng
cũng đang được hình thành ở Tân Thành, trong đó có việc tận dụng lợi thế
về cảng để xuất khẩu đá khối được khai thác từ khu vực núi trên địa bàn
huyện...
Trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2005, giá trị sản xuất công
nghiệp trên địa bàn huyện Tân Thành tăng bình quân mỗi năm 76,1 %;
trong đó công nghiệp phân theo cấp Trung ương và Tỉnh quản lý tăng
11

12

Ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian qua đã có nhiều khu công nghiệp tập trung được quy
họach xây dựng, nhưng đến cuối năm 2007 chỉ 8 khu công nghiệp là có các dự án đầu tư đi
vào họat động, trong đó ở Tân Thành có 7 (Phú Mỹ I, Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A2, Mỹ Xuân B1,
Phú Mỹ 2, Cái Mép, Đại Dương) và ở thành phố Vũng Tàu có 1 (Đông Xuyên). Bên cạnh đó,
cũng ở Tân Thành có thêm 2 khu công nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận thành lập, là khu
công nghiệp Tiến Hùng và khu công nghiệp Phú Mỹ III.
Sau đây là một vài số liệu phản ánh quy mô và tình hình hoạt động công nghiệp trên địa bàn

trình độ tiên tiến (sử dụng ít lao động, đạt được năng suất cao), khả năng
liên kết cao (tiêu biểu là các dự án khí - điện - đạm), sản xuất được khối
lượng sản phẩm lớn, có giá trị cao, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu trong
nước, và một phần cho xuất khẩu

13

.

Nếu như vào năm 1995, tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa
bàn huyện Tân Thành chỉ đạt 43,000 tỉ đồng, trong đó có 33,11 % là công
nghiệp khai thác, 66,89 % là công nghiệp chế biến, và chưa có công
nghiệp điện, nước; thì đến năm 2005, tổng giá trị sản xuất công nghiệp ở
đây đạt tới 12.337,46 tỉ đồng, trong đó có 2,42 % là công nghiệp khai thác,
33,14 % là công nghiệp chế biến, và công nghiệp điện, nước chiếm tỉ trọng
64,44 %. /xem thêm: Phụ lục 2, bảng 1/.
Cùng với sự phát triển nhanh của các khu công nghiệp tập trung phân
theo cấp Trung ương và Tỉnh quản lí, là sự phát triển không ngừng trong
lĩnh vực sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phân theo cấp Huyện
quản lí.
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phân theo cấp Huyện quản lí,
được quy hoạch với định hướng phát triển thành mạng lưới các cụm công
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Mạng lưới các cụm công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp này nhằm phục vụ trực tiếp, đắc lực cho sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp và sinh hoạt của nhân dân, góp phần tích cực vào quá trình
chuyển dịch cơ cấu lao động; được triển khai thực hiện bằng các chính
sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách khuyến
công, khuyến khích phát triển mạng lưới dịch vụ sửa chữa cơ khí nông
nghiệp, mở rộng hoạt động tiểu, thủ công nghiệp ở các vùng nông thôn.
Nếu như vào năm 1994, toàn huyện có 167 cơ sở sản xuất, thì đến năm

hoạch, lập dự án, v.v…
Các hoạt động sản xuất tiểu - thủ công nghiệp ở Tân Thành đang khơi
dậy những tiềm năng đa dạng về khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng
trên địa bàn, như gạch, đá, cát, vật liệu san lấp, vật liệu mới (gạch không
nung, gốm mỹ nghệ, gia công đá chẻ, đá tẩy, đá mỹ nghệ...), gia công cơ
khí xây dựng (những cấu kiện bằng sắt phục vụ cho các công trình công
nghiệp và xây dựng dân dụng), cơ khí nông nghiệp (các công cụ phục vụ
sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản - thực phẩm, chế biến thức ăn
gia súc, sản xuất đồ gia dụng, sửa chữa ô tô, xe máy và các phương tiện
vận tải, phương tiện thi công, sửa chữa, đóng mới tàu thuyền, cưa xẻ gỗ,
mộc dân dụng, gia công may mặc, v.v...).
Ngày nay, có thể nói đến một Tân Thành công nghiệp và hiện đại đã
hình thành bước đầu, như một “thương hiệu” mới và thành đạt của Vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam.
Bên cạnh những thành tựu cơ bản nêu trên, quá trình công nghiệp
hóa ở Tân Thành cũng có những hạn chế và thách thức lớn, như:
Đến năm 2006, tỉ lệ lấp đầy các khu công nghiệp trên địa bàn huyện
Tân Thành còn khiêm tốn, ở mức dưới 50 %, thấp hơn so với tỷ lệ chung
của cả nước (50 %) và các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

19


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

(Đồng Nai: 57,7 %, thành phố Hồ Chí Minh: 81,9 %, Bình Dương: 55 %,...).
Lời giải cho vấn đề khai thác một cách tối ưu những lợi thế và tiềm năng
vốn có để tiếp tục phát triển công nghiệp vẫn đang là bức thiết.
Có nhiều nguyên nhân khiến cho tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp

Trong khi công nghiệp theo phân cấp Trung ương và Tỉnh quản lí phát
triển mạnh thì sự phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp theo phân
cấp Huyện quản lí tuy có tiến bộ, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, vì chưa
tận dụng được những lợi thế ảnh hưởng lan tỏa từ các dự án công nghiệp
lớn của Trung ương và đầu tư nước ngoài triển khai trên địa bàn, nên vẫn
chưa tạo được những điều kiện đủ để hình thành một ngành công nghiệp
đa dạng với quy mô vừa và nhỏ, tương thích với tiềm năng hiện hữu của
Tân Thành.

14

Chẳng hạn, diện tích khu công nghiệp Phú Mỹ I rộng tới gần 955 ha.
Do có những bất hợp lí trong việc tổ chức thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng và đầu tư
cơ sở hạ tầng, hoặc do nhận thức chưa đầy đủ mà người dân đưa ra rất nhiều lý do để trì hoãn
không cho kiểm kê, không nhận tiền bồi thường, hoặc nhận tiền bồi thường nhưng không giao
mặt bằng, rồi gửi đơn khiếu nại đến nhiều nơi đề nghị giải quyết…
16
Ngoài việc sản xuất một số đĩa CD và tập gấp để kêu gọi đầu tư, các hoạt động khác cho kêu
gọi đầu tư còn rất hạn chế…; Thời gian qua, phần lớn các dự án đã đầu tư vào các khu công
nghiệp ở Tân Thành là do nhà đầu tư tự thăm dò, chủ động tìm hiểu và đi đến quyết định đầu tư.
15

20


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

Hiện nay, trước định hướng chiến lược vùng biển và ven biển Đông
Nam Bộ (Bà Rịa - Vũng Tàu – thành phố Hồ Chí Minh) theo tinh thần Nghị

và hệ thống hạ tầng đô thị cũng được đầu tư từng bước theo qui hoạch,
đặc biệt là hệ thống giao thông đô thị gắn liền với mạng lưới giao thông

21


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

nông thôn được hình thành và ngày càng phát triển ở Tân Thành, có thể
kể đến một số tuyến đường:
Quốc lộ 51 (nối thành phố Vũng Tàu với thành phố Biên Hòa, rồi đi
tiếp tới thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và các địa phương khác)
có 22 km chạy qua thị trấn Phú Mỹ và các xã Mỹ Xuân, Tân Phước, Phước
Hòa, Tân Hòa, Tân Hải thuộc địa bàn huyện là đường cấp I đồng bằng.
Tuyến đường Phú Mỹ - Tóc Tiên, nối quốc lộ 51 với tuyến đường Hắc
Dịch - Tóc Tiên - Châu Pha, dài 7,5 km, xây dựng năm 1996, mặt đường
rộng 7 m, nền đường rộng 9 m.
Tuyến đường Tóc Tiên - Hội Bài, nối quốc lộ 51 với tuyến đường Hắc
Dịch - Tóc Tiên - Châu Pha, dài 10 km xây dựng năm 1996, mặt đường
rộng 7 m, nền đường rộng 9 m.
Tuyến đường Mỹ Xuân - Ngãi Giao, nối thị trấn Phú Mỹ với thị trấn
Ngãi Giao và Bình Giã - Xuân Sơn, dài 17 km, xây dựng xong năm 1999,
mặt đường rộng 7 m, nền đường rộng 9 m.
Tuyến đường Châu Pha - Tóc Tiên - Hắc Dịch, nối Châu Pha - Tóc
Tiên - Hắc Dịch với tuyến đường Mỹ Xuân - Ngãi Giao, dài 7,8 km, mặt
đường rộng 7 m, nền đường rộng 9 m.
Tuyến đường Châu Pha - Bàu Phượng - Hắc Dịch, dài 8,2 km, mặt
đường rộng 6 m, nền đường rộng 9 m.
Tuyến đường Sông Xoài - Cù Bị, dài 5,8 km, có mặt đường rộng 7 m,

Có nhiều nguyên nhân khiến cho tiến độ xây dựng và phát triển đô thị
trên địa bàn diễn ra chậm, không tương xứng với tốc độ phát triển công
nghiệp ở Tân Thành, như:
Tính tích cực chủ động của địa phương chưa cao, nên việc xây dựng
và phát triển hệ thống hạ tầng đô thị chưa được quan tâm đúng mức, làm
cho kết cấu hạ tầng đô thị phát triển chậm. Hệ thống hạ tầng đô thị ở Tân
Thành chưa đáp ứng yêu cầu đẩy nhanh quá trình phát triển dịch vụ đô thị,
nhất là các dịch vụ cao cấp (dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu
chính viễn thông, cho thuê văn phòng, nhà ở, du lịch, văn hóa vui chơi, giải
trí… ).
Chất lượng quy hoạch đô thị chưa cao; trình độ quản lý đô thị còn
chưa tương thích, bởi vì công tác quản lý hành chính trên địa bàn mà quá
trình công nghiệp hóa mạnh và đang đô thị hóa có nhiều điểm khác và mới
so với thực trạng quản lý hành chính đối với một huyện mà trước đó vốn
có nền kinh tế lạc hậu, đậm sắc thái nông nghiệp. Hiện trạng, thị trấn Phú
Mỹ là nơi tập trung phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện, nơi đặt
bộ máy quản lý hành chính của chính quyền huyện Tân Thành, vẫn chỉ
được xếp hạng là một đô thị loại 5, các đơn vị dân cư trực thuộc thị trấn
này vẫn được gọi là “thôn”.

23


Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

Rõ ràng là: việc khắc phục những bất cập trong quy hoạch đô thị,
quản lí xây dựng và phát triển đô thị ở Tân Thành hiện nay đang còn là
một vấn đề lớn.




Đề tài nghiên cứu khoa học
“TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI Ở HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ”

Đến năm 2006, dân số trung bình của huyện là 111.274 người, tổ
chức thành 666 tổ dân cư, trong 60 thôn/ấp, thuộc 10 đơn vị hành chính
cấp xã nêu trên.
So sánh quy mô dân số dân số của huyện Tân Thành trong dân số
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sau 10 năm (1996 - 2006), cho thấy: Dân số trung
bình năm 1996 của huyện Tân Thành là 80.846 người/ toàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu là 719.003 người (chiếm tỉ lệ 11,24 %); đến năm 2006, huyện
Tân Thành có 111.274 người/ toàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là 952.583
người (chiếm tỉ lệ 11, 68 %). Điều này cho thấy: trong tình hình tăng dân
số chung của toàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, dân số huyện Tân Thành cũng
gia tăng, nhưng mấy năm gần đây (2004, 2005, 2006), nhịp độ tăng dân
số ở Tân Thành có chuyển dịch nhích lên đáng kể so với nhịp độ tăng dân
số chung của toàn tỉnh. /xem thêm: Phụ lục 2, bảng 2/.
So sánh với huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, là một huyện có cùng
thời gian được thành lập và bước vào quá trình công nghiệp hoá và đô thị
hoá như ở Tân Thành

17

, cho thấy Tân Thành có nhịp độ tăng dân số cơ

học cao hơn: vào năm 1995, dân số ở Tân Thành là 80.662 người, ở
Nhơn Trạch là 104.587 người; đến năm 2006, dân số ở Tân Thành đạt
111.274 người, trong khi dân số ở Nhơn Trạch là 118.148 người.
Sự nâng cao nhịp độ tăng dân số cơ học và giảm nhịp độ tăng dân số
tự nhiên là một chỉ báo của tiến trình đô thị hóa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status