HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ QUỐC BANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
KINH TẾ BIỂN CỦA TỈNH THANH HOÁ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ QUỐC BANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
KINH TẾ BIỂN CỦA TỈNH THANH HOÁ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 62.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS KIM VĂN CHÍNH
HÀ NỘI – 2019
i
2.2. Quản lý nhà nước về kinh tế biển của chính quyền cấp tỉnh ..................... 47
2.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về kinh tế biển của một số địa phương . 66
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ BIỂN CỦA TỈNH
THANH HOÁ................................................................................... 80
3.1. Thực trạng kinh tế biển tỉnh Thanh Hoá .......................................... 80
3.2. Phân tích thực trạng quản lý kinh tế biển của tỉnh Thanh Hoá ......... 96
3.3. Đánh giá thực trạng quản lý kinh tế biển của tỉnh Thanh Hoá ........ 106
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ KINH TẾ BIỂN CỦA TỈNH THANH HOÁ ....................... 117
4.1. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh tế biển của
tỉnh Thanh Hoá ............................................................................. 117
4.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh tế biển của tỉnh
Thanh Hoá .................................................................................... 127
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 154
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN KHOA HỌC CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
TÁC GIẢ LUẬN ÁN ....................................................................... 158
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 159
PHỤ LỤC
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH
: Bảo hiểm xã hội
: Ngân sách Nhà nước
ODA
: Hỗ trợ phát triển chính thức
QLNN
: Quản lý nhà nước
TN-MT
: Tài nguyên và Môi trường
UBND
: Ủy ban nhân dân
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Các ngành kinh tế biển đã thiết lập và mới nổi .......................... 41
Bảng 2.2: Mức tăng doanh thu du lịch, hiện tại và đến năm 2020.............. 73
Bảng 3.1 : Số lượng tàu thuyền và sản lượng khai thác ............................. 85
Bảng 3.2. Số lượt khách du lịch đến Thanh Hóa ngày càng tăng ............... 92
Bảng 3.3. Dân số và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động ............................ 95
quyết về mục tiêu, chủ trương của phát triển kinh tế biển bền vững.
Trong bối cảnh mới của tình hình các nước trong khu vực, kinh tế biển
chịu nhiều tác động của yếu tố bên ngoài, sự ảnh hưởng của các nước liên
quan đến biển. Do vậy, muốn kinh tế biển phát triển, quản lý nhà nước
(QLNN) phải được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, đi tiên phong để hỗ trợ,
thúc đẩy các yếu tố khác cùng tham gia phát triển kinh tế biển. Chính vì vậy,
nhiệm vụ QLNN về kinh tế biển là một nhiệm vụ mang tính chiến lược trong
phát triển kinh tế biển nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.
Quản lý nhà nước về kinh tế biển là yếu tố không thể thiếu ở cấp quốc
gia và ở các địa phương, đặc biệt là các địa phương ven biển. Thanh Hoá là
một tỉnh nằm trong số 28 tỉnh ven biển của cả nước, có 102 km bờ biển,
chiếm hơn 3% chiều dài bờ biển cả nước. Trên địa bàn Tỉnh có 6 huyện,
thành phố tiếp giáp với biển, trong số 138 huyện, thị xã và thành phố tiếp giáp
với biển, chiếm 4,3%. Thanh Hoá có vùng ven biển rộng lớn với diện tích
110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn tỉnh với các bãi tắm nổi tiếng như:
Hải Tiến- Hoằng Hoá; Hải Hoà- Tĩnh Gia, đặc biệt có khu nghỉ mát Sầm Sơn
là nơi thu hút rất nhiều du khách thường xuyên lui tới. Cảng Nghi Sơn là một
trong các hải cảng nước sâu quan trọng của tỉnh và của cả nước, là một cảng
có nhiều lợi thế, là cửa ngõ để đón tàu thuyền lớn trong nước cũng như quốc
2
tế. Đặc biệt khu kinh tế (KKT) Nghi Sơn được đầu tư và hoạt động với đủ
quy mô quy hoạch. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn, thuận tiện cho các đoàn
thuyền đánh cá của nhân dân các huyện, thành phố ra vào. Thanh Hóa còn có
vùng lãnh hải rộng 17.000 km2 với nhiều khu vực có cá, tôm và các loại hải
sản quý, hiếm, có giá trị kinh tế cao, cung cấp nguồn hải sản phục vụ phát
triển ngành khai thác.
Trong những năm gần đây, tỉnh Thanh Hóa đã xây dựng cơ chế và
phương thức quản lý nhà nước nhằm khuyến khích phát triển kinh tế biển.
công trình nghiên cứu khoa học, tìm hiểu về mô hình QLNN về kinh tế biển ở
cấp tỉnh, các nội dung phân cấp QLNN về kinh tế biển đối với chính quyền
tỉnh, rà soát lại toàn bộ hoạt động QLNN của tỉnh về kinh tế biển, làm rõ
những điểm mạnh để phát huy, điểm yếu để khắc phục, từ đó có cơ sở luận
chứng các giải pháp xây dựng và hoàn thiện QLNN về kinh tế biển của tỉnh
Thanh Hóa. Đó chính là lý do nghiên cứu sinh chọn đề tài “Quản lý nhà
nước về kinh tế biển của tỉnh Thanh Hoá” làm đề tài nghiên cứu luận án
tiến sĩ.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực
tiễn của nội dung QLNN về kinh tế biển trên địa bàn tỉnh, làm rõ tiềm năng
và thực trạng QLNN về kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua,
đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện nội dung QLNN về kinh tế biển
của tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN về kinh
tế biển của chính quyền cấp tỉnh.
- Tổng hợp kinh nghiệm QLNN về kinh tế biển của một số tỉnh trong
nước, rút ra bài học cho Thanh Hóa.
4
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện QLNN về kinh tế biển của
tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2016, chỉ ra thành công, hạn
chế và nguyên nhân.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN về kinh tế biển
của tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn đến 2020 và tầm nhìn 2025.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
quản lý của chính quyền tỉnh Thanh Hóa. Các vùng ven biển và các KKT ven
biển đã được thống nhất trong các số liệu thống kê, báo cáo của tỉnh Thanh
Hóa theo các chuẩn mực quy định.
- Phạm vi về thời gian: Thực trạng QLNN về kinh tế biển của tỉnh Thanh Hoá
trong giai đoạn 2010- 2016, các đề xuất dự kiến đến 2025, tầm nhìn đến 2030.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Luận án tiếp cận nội dung quản lý nhà nước về kinh tế biển và sử dụng
phương pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa, kế thừa có
chọn lọc các công trình nghiên cứu đã có và bổ sung các ý tưởng mới về quản
lý của tác giả. Chủ đạo ở đây là phương pháp nghiên cứu tài liệu bằng việc
tổng hợp các kết quả nghiên cứu có trước đã công bố và được thừa nhận rộng
rãi, đúc kết ra những kết luận cần thiết cho Luận án. Các quy định pháp lý,
hành chính cũng là nguồn quan trọng để kết luận về các nội dung học thuật về
QLNN được nghiên cứu.
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Kế thừa có chọn lọc, phân tích hệ thống, thống kê, so sánh trên cơ sở
các tài liệu, số liệu thực tế của các ngành địa phương để tổng hợp, đánh giá
thực tiễn đã có và dữ liệu thống kê chính thức đã được tổng hợp báo cáo.
- Phương pháp phân tích. Các phân tích về tình hình phát triển kinh tế
biển, về các khía cạnh QLNN của tỉnh Thanh Hóa được thực hiện theo lát cắt
6
theo thời gian để làm rõ sự thay đổi, biến chuyển. Luận án còn phân tích theo
thời gian, so sánh với kinh nghiệm địa phương khác dựa trên số liệu thống kê
và báo cáo của các Sở, ban ngành của tỉnh đối với quản lý nhà nước về kinh tế
biển ở tỉnh Thanh Hóa.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, tài liệu, lấy ý kiến
của 600 cán bộ quản lý và nhân dân trên địa bàn 6 huyện, thành phố ven biển
nhân rộng cho các tỉnh tương đồng. Đó là: tăng cường phối hợp chính sách,
lồng ghép các chương trình đầu tư phát triển giữa các ngành và cơ quan trong
phát triển kinh tế biển, nâng cao chất lượng và tăng cường tính tuân thủ quy
hoạch, kế hoạch về kinh tế biển.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận án được trình bày trong 4 chương, 11 tiết.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Những nghiên cứu về khái niệm kinh tế biển
Quan niệm và khoa học và pháp luật trên thế giới về những vấn đề như
kinh tế biển, sở hữu vùng biển, thềm lục địa, đặc quyền kinh tế mới xuất hiện
vài chục năm trở lại đây đang là những nội dung tranh luận, chưa đưa ra được
sự thống nhất. QLNN về kinh tế biển và phát triển kinh tế biển lại càng là lĩnh
vực khá chuyên sâu nên chưa được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Tuy nhiên, trên thế giới diễn đàn lý luận cũng đã xuất hiện một số công trình
bàn về lĩnh vực này. Có thể nêu ra một số thành tựu đã đạt được và các công
trình tiêu biểu được ghi nhận như sau:
Các nhà khoa học bàn luận khá nhiều về khái niệm kinh tế biển. Yang
Jinsen. Bàn về khái niệm kinh tế biển, ông cho rằng: “kinh tế biển là tổng hợp
các hoạt động hàng hải hoặc cho sự phát triển của nguồn tài nguyên biển và
đối tượng của hoạt động kinh tế khác nhau” [110]. Theo quan điểm này, tác
giả nhìn nhận kinh tế biển theo quan điểm chủ yếu là lấy ngành vận tải biển
làm trục trung tâm.
Một định nghĩa tương tự được Park, đề xuất sau khi tiến hành một
nghiên cứu rộng về các định nghĩa và nhận thức khác nhau trên thế giới về
kinh tế biển. Theo họ, “Kinh tế biển là các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển
và cả các hoạt động cung cấp hàng hóa và dịch vụ liên quan đến biển” [113].
Nói cách khác, kinh tế biển có thể được định nghĩa là các hoạt động kinh tế
trực tiếp hoặc gián tiếp diễn ra trên biển, khai thác đại dương để tạo ra hàng
hoá và dịch vụ.
Theo quan điểm của OECD, bất cứ một định nghĩa nào về kinh tế biển
được coi là đầy đủ cũng cần phải bao gồm các nguồn dự trữ tài nguyên thiên
nhiên không thể định lượng và các hàng hóa và dịch vụ phi thị trường của hệ
sinh thái biển (Hình 1.1).
10
Hình 1.1. Khái niệm về kinh tế biển
Nguồn: OECD, The Ocean Economy in 2030
Richard Bunroughs trong công trình Coastal Grovermance - Quản trị
vùng ven biển,[106] đã chỉ ra những thách thức đối với vùng ven biển trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội, những hoạt động sản xuất không gắn liền
với kinh tế ven biển cũng được phân tích, chỉ ra các yếu tố liên quan đến việc
quản lý đối với sự phát triển của kinh tế ven biển như khai thác dầu, đánh cá,
quản lý nước thải…nghiên cứu này cũng đề cập đến quá trình quản lý thực thi
chính sách và áp dụng đối với việc phát triển kinh tế biển.
William H.Arery trong công trình “Năng lượng có thể thay mới từ Đại
dương” (Renewwable Energy From the Ocean) ) [117] đã nghiên cứu các
hoạt động công nghệ thông tin trên biển, khẳng định việc sử dụng năng lượng
tái tạo đang phát triển và mở rộng ứng dụng trên toàn cầu.
Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Nghiên cứu và quản lý vùng ven biển
Việt Nam” tháng 12/1992, Giáo sư Joe Baler của Viện Khoa học biển Autralia
sản từ đánh bắt, nuôi trồng tới chế biến và xuất khẩu thủy sản.
12
David K.Y.Chu trong công trình “Friyian: Tỉnh ven biểu trong quá
trình chuyển đổi và biến đổi” (Fiyian: A coastal Province in Transition an
Transformation) )[113] đã khái quát quá trình quản lý phát triển kinh tế biển
ở Fiyian trên các khía cạnh nông nghiệp, phát triển kinh doanh và thu hút vốn
đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài vào phát triển khu vực này. Các chiến
lược chính sách được thực thi đối với việc phát triển kinh tế ven biển ở khu
vực này đã được các tác giả phân tích về phương diện thực tiễn của Fiyian.
“The Asian experiencein developing the marintime sector: Some case
studies and lessons for Malaysia - Kinh nghiệm quản lý, phát triển kinh tế biển
của một số nước Châu Á và bài học cho Malaysia” của Nazery Khalid, Armi
Suzana Zamil và Farida Farid [113] đã nêu bật vai trò và tầm quan trọng của
ngành khai thác tài nguyên biển, đặc biệt là khai thác dầu khí. Một trong các vấn
đề quan trọng mà công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra là khai thác khoáng sản là
ngành rất dễ gây ô nhiễm môi trường. Do đó, Nhà nước phải có chính sách về
quản lý khai thác nguồn tài nguyên biển để sao cho hoạt động khai thác vừa có
hiệu quả lại không ảnh hưởng tới vấn đề ô nhiễm môi trường.
Các nhà kinh tế Trung Quốc đã có nhiều công trình nghiên cứu về các
khu kinh tế ven biển. Các tác giả này coi các khu kinh tế ven biển như là cực
tăng trưởng tạo động lực cho sự phát triển các ngành kinh tế khác trong nội
địa. Theo họ, vai trò của các khu kinh tế ven biển như là “cửa sổ” để mở cửa
ra với bên ngoài thông qua thu hút FDI và đẩy mạnh xuất khẩu, “cực tăng
trưởng” để lôi kéo các vùng khác trong cả nước phát triển, “phòng thí
nghiệm” của cải cách thể chế trong cả nước. Các tác giả này đã chỉ ra chiến
lược chính sách quản lý để phát triển khu kinh tế ven biển thông qua một số
bước như: (1) Xây dựng các đặc khu kinh tế; (2) Tăng cường mở cửa thành
phố cảng ven biển; (3) xây dựng khu kinh tế tự do ven biển.
không tương xứng cao cho nền kinh tế nước này. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu
giai đoạn 2010-2014 để phân tích, đánh giá sự phát triển nền kinh tế biển,
kinh tế ven biển của Mỹ. Trong chương 2 nghiên cứu về nền kinh tế ven biển,
14
nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn 2010-2014, nền kinh tế Mỹ phục hồi từ
cuộc suy thoái nghiêm trọng của giai đoạn 2007-2009. Tăng trưởng GDP cả
nước trung bình 1,8%/năm, việc làm tăng trưởng trung bình 1,6%/năm. Nhờ có
mô hình phát triển kinh tế phù hợp mà tốc độ tăng trưởng việc làm ở các khu
vực ven biển là rất lớn, tăng nhanh hơn tỷ lệ tăng trưởng của dân số. Tuy nhiên,
đây chỉ là một đánh giá đơn thuần dựa trên số liệu thực tế, chưa có sự phân tích
sâu sắc tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự quản lý để phát triển kinh
tế biển, kinh tế ven biển của Mỹ giai đoạn 2010-2014.
“The estimation of the ocean economy and coastal economy in South
Korea - Dự báo kinh tế biển và kinh tế ven biển ở Hàn Quốc” của tác giả
Kwang Seo Park khẳng định rằng, Hàn Quốc có ngành công nghiệp biển,
công nghiệp tàu thủy hàng đầu thế giới, dịch vụ vận tải biển và dịch vụ cảng
biển cũng có khả năng cạnh tranh đẳng cấp thế giới. Tuy nhiên, tác giả cho
rằng, rất khó để biết được quy mô và tình trạng của các ngành công nghiệp
đại dương trong nền kinh tế quốc gia Hàn Quốc vì nước này chưa có thống kê
riêng đối với kinh tế biển, kinh tế ven biển.
Như vậy, các học giả nước ngoài đã có những nghiên cứu có giá trị về
các khái niệm, quan điểm đối với kinh tế biển. Nhìn chung có thể khái quát
rằng mặc dù còn có những khác biệt về quan điểm luật pháp cũng như chính
sách đối với một số đối tượng thuộc về kinh tế biển nhưng các học giả thống
nhất với nhau ở điểm chung cho rằng, kinh tế biển là một phạm trù có vị trí
vai trò riêng, đủ để phân lập thành một lĩnh vực riêng để nghiên cứu, ra những
quy định pháp lý và có những biện pháp chính sách riêng. Nội hàm kinh tế
biển có thể quan niệm rộng hẹp khác nhau nhưng ít nhất nó bao gồm tất cả
liền[78].
Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật của những thập kỷ
gần đây làm cho con người có thể khai thác, sử dụng nhiều loại tài nguyên
thiên nhiên của biển và đại dương .
Theo Bùi Tất Thắng trong bài viết về “Chiến lược kinh tế biển: Cách
tiếp cận và những nội dung chính” [65] thì cho rằng khái niệm kinh tế biển
16
vẫn là khái niệm còn chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, trên thực tế, trong
phân tích và thống kê kinh tế, việc quy ước nội dung kinh tế biển lại không
phải vấn đề gây nhiều tranh cãi về mặt học thuật. Về cơ bản, kinh tế biển là
khái niệm mang tính thực tiễn, nghĩa là người ta có thể không tranh cãi nhiều
về bản thân các ngành nghề thuộc kinh tế biển, mà phần phải bàn cãi nhiều
hơn lại thuộc về lĩnh vực liên quan và không phải diễn ra trên biển. Do tính
đặc thù của môi trường biển, mọi hoạt động kinh tế biển đều liên quan mật
thiết và được quyết định từ trong đất liền, nên không thể nói về kinh tế biển
mà không tính tới những hoạt động kinh tế liên quan đến biển ở vùng duyên
hải- vùng ven biển. Vùng ven biển phải được coi như một khu vực gắn với
biển và kinh tế biển.
Trong báo cáo khoa học của Ủy ban Quốc gia về biển của Việt Nam
(IOC), Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các Chương trình điều tra nghiên cứu
biển của Việt Nam giai đoạn 1977-2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven biển
như sau: Vùng ven biển Việt Nam chạy dài trên 3260 km bờ biển của đất
nước, bao gồm 24/50 tỉnh và thành phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼
dân số cả nước Vùng ven biển phải được coi như một khu vực gắn với biển và
kinh tế biển.
Như vậy, các học giả Việt Nam cũng đã bước đầu nghiên cứu và có kết
quả khẳng định về những khái niệm cơ bản về kinh tế biển. Các nghiên cứu
này có kế thừa rõ rệt các nghiên cứu quốc tế và do vậy không có sự khác biệt
cho sự phát triển của khu kinh tế ven biển Việt Nam” [13] tổ chức tại Thành
phố Nha Trang. Tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Nguyễn Văn Đức khẳng định: “Chúng ta cũng chưa có được nguồn nhân lực
mạnh và một hạ tầng kỹ thuật cần thiết, nhất là các thiết bị công nghệ hiện đại
khảo sát nghiên cứu để phục vụ cho sự phát triển kinh tế biển. Bên cạnh đó,
cuộc sống của phần lớn cư dân ven biển, những người trực tiếp tham gia vào
việc khai thác tài nguyên biển còn gặp nhiều khó khăn, chịu nhiều rủi ro từ
18
thiên tai, có nhiều bấp bênh”. Hội thảo cho rằng để phát triển kinh tế biển
trong giai đoạn tới một trong các giải pháp là tập trung nguồn lực xây dựng
các tuyến giao thông ven biển nối liền các khu kinh tế làm cơ sở tạo mối liên
kết, tương hỗ lẫn nhau giữa các khu kinh tế ven biển, làm tiền đề hình thành
trục động lực phát triển ven biển.
Cuốn sách “Vấn đề phát triển các khu kinh tế mở hiện đại vùng ven
biển Việt Nam” của Nguyễn Quang Thái, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà
Nội [74] đã chỉ ra những thành công trong việc phát triển các khu kinh tế đặc
biệt nói chung, các khu kinh tế mở hiện đại ven biển nói riêng. Tác giả cho
rằng, để tiếp tục triển khai mạnh mẽ hơn nữa việc phát triển các khu kinh tế
mở hiện đại ven biển cần quan tâm tới hai vấn đề then chốt đó là 1) Cần đầu
tư tập trung hơn, hiện đại hơn để phát huy các lợi thế ven biển; 2) Có cơ chế
quản lý mở vùng ven biển để thích ứng với tình hình mới.
Cuốn sách “Phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam”
của Đào Huy Quát và Phạm Văn Linh [52], đã tập trung nghiên cứu các vấn
đề về quản lý, điều tra, khai thác tài nguyên biển đảo, phát triển kinh tế hàng
hải, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam.
Nguyễn Bá Diến với nghiên cứu: “Chính sách, pháp luật biển của Việt
Nam và chiến lược phát triển bền vững” được thực hiện trong khuôn khổ Dự án
“các nguyên tắc trong thực tiễn quản lý biển và đới bờ”,[14] giữa Đại học