VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG BỔNG
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 934 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. NGUYỄN QUANG THUẤN
TS. NGUYỄN TUẤN ANH
HÀ NỘI – 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình nghiên cứu khoa học
độc lập của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong bản luận án là trung thực
có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Hoàng Bổng
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................142
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ACCA
The Association of Chartered Hiệp hội Kế toán công chứng
Certified Accountants
Anh quốc
ASEANSAI
ASEAN Supreme audit
Institutions
Tổ chức các cơ quan Kiểm toán
tối cao khu vực Đông Nam Á
CMKTNN
Chuẩn mực kiểm toán
nhà nước
CNH
ISSAI
International Stadards of
Supreme Audit Institutions
Chuẩn mực quốc tế của các cơ
quan Kiểm toán tối cao
KTV
Kiểm toán viên
KTVNN
Kiểm toán viên nhà nước
KSCLKT
Kiểm soát chất lượng
kiểm toán
NNL
Nguồn nhân lực
NSNN
Ngân sách nhà nước
SAI
Bảng 3.10:
Bảng 3.11:
Bảng 3.12:
Bảng 3.13:
Bảng 3.14:
Bảng 4.1:
Bảng 4.2:
Bảng 4.3:
Bảng 4.4:
Biểu 3.1:
Biểu 3.2:
Sơ đồ 1.1:
Hình 2.1:
Phân loại sức khỏe theo thể lực
Thống kê số lượng các cuộc kiểm toán do KTNN
thực hiện (giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018)
Tổng hợp kết quả kiểm toán (từ năm 1994 đến năm
2017)
35
61
64
Số lượng công chức, viên chức KTNN qua các năm
Cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức theo lĩnh vực
công tác và theo ngạch công chức (tính đến ngày
31/3/2018)
74
121
Nhu cầu công chức, viên chức theo chuyên môn đào
tạo của KTNN đến năm 2030
122
Nhu cầu sử dụng công chức tại các đơn vị thực hiện
nhiệm vụ kiểm toán của KTNN đến năm 2030
124
Cơ cấu nhân lực theo chuyên ngành đào tạo
Cơ cấu nhân lực theo giới tính
Khung nghiên cứu của luận án.
Hệ tiêu chí đánh giá chất lượng NNL KTNN
78
81
20
30
75
82
PHỤ LỤC
nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về Chiến lược cán bộ
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướctiếp tục nhấn mạnh:
“Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận
mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây
dựng Đảng” [12].
Trong tổ chức, nguồn nhân lực với vai trò là nguồn lực trọng tâm quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức, vì vậy nhiệm vụ quan trọng sống
còn trong công tác phát triển nguồn nhân lực của mỗi tổ chức là phải làm thế
nào để xây dựng, phát triển và duy trì nguồn nhân lực có chất lượng cao, đảm
bảo hoàn thành các mục tiêu chiến lược của tổ chức. Nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực sẽ tạo ra nguồn nhân lực có khả năng cao hơn về năng lực,
trình độ, phẩm chất, uy tín, góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả,
sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững của tổ chức trong tiến trình hội
nhập quốc tế. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các tổ chức là tổng
thể các nội dung, cách thức, phương pháp làm biến đổi các yếu tố cấu thành
chất lượng nguồn nhân lực một cách hợp lý về quy mô và trình độ đáp ứng
yêu cầu, mục tiêu phát triển của tổ chức với hiệu quản ngày cành cao.
Kiểm toán là một nghề đòi hỏi người làm kiểm toán phải đáp ứng các
yêu cầu cao về đạo đức, trình độ, năng lực, kinh nghiệm và khả năng xét đoán
nghề nghiệp. Tổ chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao đã khuyến nghị:
1
“Cán bộ và nhân viên kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao phải có đủ
năng lực cần thiết và đạo đức để hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ của mình. Ngay
từ lúc tuyển dụng vào biên chế của cơ quan kiểm toán tối cao phải quan tâm
đến trình độ kiến thức và năng lực trên mức độ trung bình cũng như thực tế
nghiệp vụ ở mức thỏa đáng của các ứng viên. Cần quan tâm ở mức cao nhất
đến việc bồi dưỡng lý luận và thực tế nghiệp vụ trên bình diện nội bộ, đại học
và quốc tế cho tất cả các công chức kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao
nghiệp kiểm toán và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Do vậy, việc nghiên
cứu thực trạng chất lượng NNL của KTNN cũng như tìm kiếm các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng NNL cho ngành KTNN là công việc thực sự cần
thiết hiện nay.
Chính vì lẽ đó mà tác giả đã chọn đề tài "Nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam" làm luận án tiến sĩ chuyên ngành
quản trị kinh doanh.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung làm rõ thực trạng chất lượng NNL và các hoạt động
nâng cao chất lượng NNL KTNN Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL KTNN Việt Nam trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, nghiên cứu, hệ thống hóa những công trình khoa học đã được
công bố ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án; trên cơ sở xác
định khoảng trống mà luận án cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu làm rõ.
Hai là, phân tích làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng NNL KTNN: Khái
niệm, đặc điểm NNL KTNN; làm rõ các tiêu chí và luận giải các nhân tố ảnh
hưởng đến chất lượng NNL KTNN; nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động nâng
cao chất lượng NNL KTNN của một số nước trên thế giới và rút ra bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam.
Ba là, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượngNNL và hoạt động nâng
cao chất luwong NNL KTNN ở Việt Nam hiện nay, làm rõ những ưu điểm,
3
hạn chế và rút ra nguyên nhân của những hạn chế đó.
Bốn là, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
NNL KTNN ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
và hoạt động nâng cao chất lượng NNL KTNN, tác giả đã tiến hành khảo sát 2
đối tượng khác nhau ở trong và ngoài KTNN; trong đó:
- Đối tượng trong cơ quan KTNN: Công chức hành chính (150 người);
viên chức sự nghiệp (50 người); KTV nhà nước (200 người);
- Đối tượng ngoài KTNN: Tác giả khảo sát 150 người thuộc các đơn vị
được kiểm toán.
b. Phƣơng pháp xử lý và phân tích dữ liệu
- Phương pháp xử lý và phân tích các dữ liệu thứ cấp.
Trên cơ sở dữ liệu từ các tài liệu được cung cấp bởi cơ quan KTNN, các
cơ quan có liên quan và các tài liệu thứ cấp khác được tác giả thu thập từ sách
báo, tạp chí chuyên ngành, mạng internet…Luận án sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu cụ thể, trong đó bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp
để hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn; phương pháp khảo sát,
tổng quan tài liệu, nghiên cứu kiểm chứng, phân tích và tổng kết thực tiễn,
làm nổi bật những đặc điểm của thực trạng, xác định rõ những nguyên nhân
làm cơ sở đề xuất những định hướng và giải pháp; phương pháp thống kê, so
sánh: sử dụng các số liệu thống kê để phân tích, so sánh, tổng kết và rút ra các
kết luận.
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu sơ cấp: Thông qua số liệu thu
thập được từ điều tra, khảo sát, tác giả tập hợp, thống kê và tổng hợp mô tả
thành các bảng số liệu, các biểu đồ,... để đánh giá thực trạng chất lượng NNL
KTNN và các hoạt động nâng cao chất lượng NNL KTNN.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Trên cơ sở khảo cứu các lý thuyết về chất lượng nguồn nhân lực và nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán, phân tích thực trạng chất lượng và giải
pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán Việt Nam thời gian
5
qua, nghiên cứu bối cảnh thế giới và Việt Nam, xu hướng và yêu cầu về chất
tuyển công chức nhằm đảm bảo tối đa nguyên tắc cạnh tranh khách quan,
công bằng, minh bạch, chống được tiêu cực trong thi cử, lựa chọn được những
người thực sự có trình độ vào làm việc trong cơ quan KTNN;
+ Xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng NNL KTNN phù hợp với
những thay đổi môi trường quản lý nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới
của Thế kỷ 21
- Những đề xuất có tính ứng dụng trong những năm tới:
+ Luận án nghiên cứu đề xuất thành lập Học viện Kiểm toán để nâng
cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kiểm toán nói chung và NNL KTNN
nói riêng. Học viện Kiểm toán sẽ là cơ sở đào tạo và nghiên cứu chuyên
ngành đảm nhiệm chức năng nghiên cứu và đào tạo về kiểm toán đáp ứng yêu
cầu phát triển của KTNN tại Việt Nam và có khả năng hội nhập với thế giới.
+ Đề xuất chính sách, chế độ đãi ngộ phù hợp đặc thù hoạt động kiểm
toán, nhằm tạo động lực thu hút nhân tài; đồng thời, tạo sự gắn bó và động lực
cống hiến hết mình của NNL hiện đang làm việc tại cơ quan KTNN.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn:
- Ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần làm phong phú thêm lý luận về
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở các tổ chức nhà nước nói chung và
trong lĩnh vực cụ thể còn khá mới mẻ ở Việt Nam, đó là lĩnh vực kiểm toán
nhà nước.
- Ý nghĩa thực tiễn: KTNN là công cụ quan trọng để kiểm soát thực
hiện quyền lực nhà nước trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.
Để đáp ứng yêu cầu hiến định, nhu cầu nhân lực của KTNN cần phải được
tăng cường cả về số lượng và chất lượng, nhưng thực tế hiện nay nguồn nhân
lực của KTNN hiện đang còn thiếu về số lượng, chất lượng còn hạn chế chưa
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Do đó, kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu
tham khảo có giá trị và đáng tin cậy đối với các nhà quản lý của KTNN, các
7
chuẩn mực kiểm toán quốc tế (địa vị pháp lý, tính độc lập của cơ quan kiểm
toán tối cao), chưa đi sâu phân tích về những giải pháp nâng cao chất lượng
đội ngũ kiểm toán viên của các cơ quan kiểm toán tối cao của các nước trên
thế giới [81].
- Josef Moser (2012), trong tham luận“Kinh nghiệm và sự cần thiết của
việc đưa địa vị pháp lý của Cơ quan kiểm toán tối cao vào Hiến pháp” tại Hội
tảo quốc tế “Nâng cao địa vị pháp lý, đảm bảo sự độc lập trong hoạt động
của các cơ quan kiểm toán tối cao”, đã phân tích về tính độc lập và sự cần
thiết phải quy định địa vị pháp lý của Cơ quan kiểm toán tối cao vào Hiến
pháp theo Tuyên bố Li-ma và Tuyên bố Mê-hy-cô của INTOSAI. Trên cơ sở
đó, tác giả đã minh chứng việc vận dụng các nguyên tắc cốt lõi trong hai bản
tuyên bố quan trọng này của INTOSAI tại Áo: Là cơ quan kiểm toán tối cao
độc lập, Tòa Thẩm kế Áo được quy định thẩm quyền trong Hiến pháp thực
hiện kiểm toán tất cả hoạt động tài chính của nhà nước. Khi thực hiện các
9
hoạt động đó, Tòa Thẩm kế Áo độc lập về tổ chức, không bị ràng buộc vào bất
kỳ chỉ dẫn nào, độc lập về nhân sự và ngân sách của mình, tự thông qua chương
trình kiểm toán và lựa chọn chủ đề, phương thức kiểm toán cũng như trong việc
báo cáo kiểm toán. Là cơ quan độc lập với Hội đồng quốc gia Áo và nghị viện
các bang, Tòa Thẩm kế Áo có trách nhiệm đánh giá hoạt động của các cơ quan
công. Phạm vi kiểm toán của Tòa thẩm kế gồm cả cơ quan hành chính công và
doanh nghiệp công. Mọi vấn đề liên quan đến nhân lực của Tòa Thẩm kế Áo đều
được quản lý trên cơ sở độc lập nhưng trong khuôn khổ các quy định áp dụng
chung đối với nhân viên Liên bang. Ngoài ra, Chủ tịch Tòa Thẩm kế Áo được
quyền tham gia và phát biểu tại Ủy ban ngân sách, tại các cuộc thảo luận về báo
cáo tài chính liên bang, cũng như các cuộc thảo luận về phân bổ Dự luật Tài
chính liên bang liên quan đến Tòa Thẩm kế Áo [91].
hoàn thành tốt hơn chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân
giao phó. Đây là một mốc lịch sử trong tiến trình 20 năm xây dựng và phát
triển của cơ quan KTNN. Sự kiện quan trọng này đã nâng tầm KTNN từ cơ
quan do “Luật định” thành “Hiến định”, nâng cao vị thế, vai trò, trách nhiệm
của KTNN trong kiểm toán hoạt động quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.
Đồng thời, đề cập đến một số các giải pháp để triển khai thực hiện quy định
về KTNN trong Hiến pháp; trong đó nhấn mạnh: Kiện toàn lại tổ chức và tăng
cường năng lực cho các đơn vị có chức năng tham mưu. Xây dựng đội ngũ
công chức, KTV nhà nước bảo đảm đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn
nghiệp vụ và đặc biệt là phải có đạo đức nghề nghiệp trong sáng, công minh,
chính trực, nghệ tinh, tâm sáng. Tích cực thực hiện chiến lược đào tạo để
trong thời gian không dài có một đội ngũ chuyên gia đầu ngành đối với từng
lĩnh vực chuyên môn, tiếp cận trình độ kiểm toán của các nước tiên tiến trong
khu vực và trên thế giới. Xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ
chất lượng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của KTV nhà nước. Xử lý
nghiêm minh các trường hợp vi phạm Quy chế hoạt động kiểm toán, vi phạm
đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật để công tác kiểm toán đi vào kỷ
11
cương, nề nếp, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng lòng tin của Đảng, Nhà nước và
nhân dân đối với KTNN.
- Đoàn Xuân Tiên (2016) trong bài “Tăng cường năng lực nội bộ để thực
hiện Chiến lược đổi mới của KTNN Việt Nam” [76] đã làm rõ bối cảnh KTNN
Việt Nam xây dựng Chiến lược đổi mới, nâng cao năng lực để nâng cao chất
lượng kiểm toán theo Nghị quyết số A/66/209 của Liên Hợp Quốc (12/2011)
kêu gọi các quốc gia tăng cường tính độc lập cho các cơ quan kiểm toán tối
cao. Đây là lần đầu tiên KTNN xây dựng Kế hoạch chiến lược phát triển
KTNN một cách bài bản, toàn diện, cụ thể theo từng mục đích, mục tiêu, các
chỉ số đo lường gắn với từng hoạt động và thời gian thực hiện...Toàn bộ nội
doanh nghiệp kiểm toán), chưa quan tâm nhiều đến lĩnh vực KTNN [2].
- Phạm Văn Sơn(2018), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong
các doanh nghiệp xây dựng”, Luận án của Tiến sĩ [69]. Tác giả đãthành công
trong việc vận dụng lý thuyết bộ ba tiêu chí về Trí lực - Thể lực - Tâm lực làm
nền tảng để xây dựng khung lý thuyết, phân tích đánh giá thực trạng chất
lượng NNLvà đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng NNL trong các
doanh nghiệp xây dựng thuộc Bộ Xâydựng Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên,
những phân tích đánh giá này có thể là điển hình đại diện cho lĩnh vực hoạt
động kinh tế (các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế), song cần phải được điều
chỉnh cho phù hợp mục tiêu nghiên cứu và phù hợp với đối tượng là cán bộ,
công chức, viên chức nhà nước.
- Nguyễn Bắc Son (2005), “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa” Luận án
tiến sĩ. Đề tài đã đi sâu phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công
chức trong khu vực quản lý nhà nước dựa trên 3 nhóm tiêu chí đó là: Năng
lực trình độ bao gồm: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề
nghiệp, kinh nghiệm công tác và sức khỏe. Năng lực thực thi nhiệm vụ bao
gồm: mức độ hoàn thành nhiệm vụ, mức độ đảm nhận chức trách nhiệm vụ.
14
Khả năng nhận thức bao gồm: mức độ nhận thức về sự thay đổi công việc
trong tương lai, mức độ sẵn sàng đáp ứng sự thay đổi trong công việc... để
thấy rõ những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại của đội ngũ nguồn nhân lực này,
đồng thời tìm ra những nguyên nhân có được các ưu điểm cũng như những
tồn đọng trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ quản lý Nhà
nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [69].
- Đặng Thị Hồng Hoa (2016), "Chất lượng và tiêu chí đánh giá chất
lượng đội ngũ cán bộ hiện nay", Tạp chí Cộng sản số 5/2016. Trên cơ sở quan
điểm của Đảng về đánh giá cán bộ và quy định của pháp luật, tác giả đề xuất hệ
thể để thực hiện giải pháp [30].
- Đoàn Xuân Tiên (2013), “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào
tạo, bồi dưỡng công chức, kiểm toán viên theo định hướng Chiến lược phát
triển cơ quan Kiểm toán nhà nướcđến năm 2020”,Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ của KTNN,đã có những đóng góp quan trọng trong việc hoàn thiện cơ
sở khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi
dưỡng của KTNN; trên cơ sở xác định được những vấn đề đặt ra đối với công
tác đào tạo, bồi dưỡng công chức theo mục tiêu chiến lược, đề tài đã đề xuất
các giải pháp về nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡngcông chức, KTVNN
theo định hướng chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020 [73].
- Hà Thị Mỹ Dung (2015), “Nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán
viên của Kiểm toán nhà nước”, Luận án Tiến sĩ, đã có nhiều thành công trong
việc nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao chất lượng đội ngũ
KTV nhà nước. Tác giả đã chỉ rõ các yếu tố cấu thành chất lượng đội ngũ
KTV nhà nước và đã đề xuất các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ KTV
nhà nước: (1) Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của mỗi KTV nhà
nước: Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của KTV nhà nước; (2) Số
lượng và cơ cấu đội ngũ KTV nhà nước: Số lượng KTV nhà nước, cơ cấu về
ngạch, cơ cấu về ngành nghề đào tạo; (3) Năng lực của KTV nhà nước: Trình
độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, tình
trạng sức khỏe (thể chất tâm lý); (4) Khả năng hoàn thành nhiệm vụ của KTV
16
nhà nước [8]. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của Luận án chỉ giới hạn những
vấn đề liên quan tới kiểm toán viên nhà nước (tức là những người trực tiếp thực
hiện công tác kiểm toán của cơ quan Kiểm toán nhà nước), chưa đề cập toàn diện
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Kiểm
toán nhà nước. Điểm khác biệt cơ bản giữa luận án của tác giả với luận án này là
- Chưa có những khảo cứu toàn diện về thực trạng chất lượng nguồn
nhân lực trong khu vực công, cụ thể là nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước
theo bộ 3 tiêu chí: Trí lực, thể lực, tâm lực.
- Các công trình nghiên cứu vẫn chưa có những đánh giá xác thực về
chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước phù hợp với điều kiện môi
trường kinh tế xã hội đang có nhiều chuyển biến, nhất là về chính sách tài
chính công, về quản lý các khoản đầu tư công và yêu cầu nâng cao hiểu quả
sử dụng tài sản công. Những chuyển biến này đang đặt ra những đòi hỏi khách
quan về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ trong dài hạn.
- Các công trình đã công bố cũng không đi sâu vào nghiên cứu các giải
pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán theo các tiêu
chí chi tiết về tâm lực, thể lực và trí lực.
Với những khoảng trống về lý luận và thực tiễn trên đây, chủ đề nghiên
cứu “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam”
sẽ đi sâu nghiên cứu về hoạt động nâng cao chất lượng NNL dựa trênnền tảng
lý thuyết bộ ba tiêu chí về Trí lực - Thể lực - Tâm lực; trong đó, làm rõ các
tiêu chuẩn cụ thể của từng tiêu chí cho phù hợp đặc thù NNL khu vực công và
đặc thù của KTNN; đồng thời, lấy đó làm thước đo để phân tích, đánh giá
thực trạng chất lượng NNL và hoạt động nâng cao chất lượng NNL KTNN
Việt Nam hiện nay.
18
1.4. Câu hỏi nghiên cứu và khung nghiên cứu của luận án
1.4.1. Câu hỏi nghiên cứu của luận án
Để làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến chất lượng NNL KTNN Việt