i
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
**********
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở
CÁC TỈNH VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CNH, HĐH
ĐẨY MẠNH CNH, HĐH
Chủ nhiệm đề tài: TS. Võ Thành Khối
Thành viên tham gia đề tài:
1. TS. Lê Anh Dũng
2. Ths. Nguyễn Tấn Vinh
3. TS. Hoàng Thị Ngọc Loan
4. Ths. Võ Hữu Phước
5. Ths. Hoàng Thị Hương
6. Ths. Nguyễn Thị Hằng
7. Ths. Ngô Quang Thành
8. Ths. Phan Thị Kim Phương
9. Ths. Đoàn Hùng Nam
TP.Hồ Chí Minh năm 2010
i
MỤC LỤC
Phần mở đầu 1
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 9
2.2.1. Khả năng đáp ứng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 51
2.2.2. Khả năng cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao 58
2.3. Nhận dạng lợi thế nguồn nhân lực của Vùng ĐNB 59
2.3.1. Về đội ngũ khoa học - kỹ thuật 59
ii
2.3.2. Đội ngũ doanh nhân 61
2.3.3. Khả năng thu hút nguồn nhân lực 62
2.4. Đánh giá nguồn nhân lực 63
2.4.1. Về số lượng nguồn lao động 63
2.4.2. Mô hình phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giáo
dục, đào tạo và dạy nghề Vùng ĐNB 68
2.4.3. Phân tích thực hiện chính sách cung cấp dịch vụ y tế trên địa bàn
Đông Nam Bộ 81
2.4.4. Giáo dục - đào tạo và trình độ chuyên môn nguồn nhân lực 91
2.4.5. Vấn đề nghèo đói và phát triển con người 93
2.5. Những vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực ở Vùng Đông Nam
bộ 101
Chương 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CNH, HĐH Ở CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ ĐẾN
NĂM 2020 108
3.1. Những yêu cầu và định hướng phát triển nguồn nhân lực trong hội nhập ở
Vùng ĐNB 108
Bảng 2.10: Mô tả biến số của mô hình giáo dục 70
Bảng 2.11: Hệ số tương quan giữa giáo dục và bất bình đẳng đất đai 72
Bảng 2.12: Hệ số tương quan giữa giáo dục và bất bình đẳng đất đai 73
Bảng 2.13 Hệ số tương quan giữa giáo dục và bất bình đẳng đất đai 73
Bảng 2.14: Giáo dục và nghèo cả nước 74
Bảng 2.15: Giáo dục và nghèo Đông Nam Bộ 75
Bảng 2.16: Thống kê mô tả 75
Bảng 2.18: Tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật theo khu vực (%) 92
Bảng 2.19: Tỷ lệ hộ nghèo phân theo ngành chính của nhóm từ 15 tuổi trở lên
có việc làm trong 12 tháng qua (%), 2008 94
Bảng 2.20: Tỷ lệ hộ nghèo phân theo nghề chính của nhóm từ 15 tuổi trở lên
có việc làm trong 12 tháng qua (%), 2008 94
Bảng 2.21: Trình hộ học vấn và nghèo đói, 2008 95
Bảng 2.22: Trình độ học vấn cao nhất của thành viên năm 2008 96
Bảng 2.23: Quy mô hộ trung bình năm 2008 97
Bảng 2.24: Số con dưới 15 tuổi trung bình của một hộ gia đình, 2008 97
Bảng 2.25: Nhà cửa của hộ theo vùng, 2008 98
Bảng 2.26 Nhà cửa của hộ theo thành thị - nông thôn, dân tộc, 2008 98
Bảng 2.27: Tài sản của hộ theo vùng năm 2008 98
Bảng 2.28: Chỉ số phát triển con người HDI Vùng ĐNB 100
Bảng 3.1: Cơ cấu sử dụng lao động và năng suất lao động vùng ĐNB 111
Đồ thị 3.1: Dự báo tỷ trọng các ngành nghề có nhu cầu thu hút lao động trong
các doanh nghiệp tại Vùng ĐNB (Đơn vị tính: %) 118
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PB Phòng bệnh
PKĐK Phòng khám đa khoa
BVSKBMTE Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em
DSKHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình CNH, HĐH hiện nay ở Việt Nam, vị trí và đặc điểm
của các nguồn lực đang được đánh giá và nhìn nhận lại, trong đó con người
được coi là nguồn lực nội tại, cơ bản, quyết định thành công của công cuộc
phát triển KT - XH. Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định:
“Đáp ứng
yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển
đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Có thể thấy rằng, quá
trình CNH, HĐH ở Việt Nam được thực hiện trên cơ sở bảo đảm sự kết hợp
hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội theo hướng phát triển bền
vững trong đ
ó nhân tố con người là trung tâm. Trong tiến trình đó, việc phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao để thực hiện thành công sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước đang là những yêu cầu hết sức cấp bách, đòi hỏi chất lượng
nguồn nhân lực phải có những thay đổi mang tính đột phá.
Trong nền kinh tế hiện đại, nguồn nhân lực đã trở thành động lực tăng
năng suất lao độ
ng, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của
doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, đây chính là yếu tố quyết định tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Bởi vì, chỉ có nguồn nhân lực mới có khả
năng tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới, công
nghệ cao, sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác (vốn, khoa học - công ngh
ệ,
trưởng kinh tế Việt Nam ở mức cao và ổn định. Trong quá trình phát triển, tạo
ra lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực sẽ là nguồn nội lực, là yếu tố nội sinh
và động lực to lớn để phát triển đất nước, đảm bảo đi tắt đón đầu, sớm đưa
nước ta ra khỏi tình trạ
ng kém phát triển. Trong điều kiện ngày nay, trí tuệ
con người giữ vai trò quyết định sức mạnh của mỗi quốc gia, nó là tài nguyên
của mọi tài nguyên. Nguồn nhân lực nếu được khai thác hiệu quả trong thời
kỳ CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ là giải pháp đột phá nhằm thực
hiện thắng lợi mục tiêu phát triển KT - XH trong tương lai.
Công cuộc đổi mới ở nước ta đã làm thay đổ
i cơ bản KT - XH, các địa
phương thuộc miền Đông Nam bộ cũng nằm trong xu thế vận động phát triển
đó. Miền Đông Nam bộ gồm 6 tỉnh, thành: Bình Phước, Bình Dương, Đồng
Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh, đây là vùng
kinh tế phát triển năng động nhất của các tỉnh phía Nam và cả nước. Vùng
ĐNB nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - đầu tàu trong phát triển
của cả nước; là vùng duy nh
ất hội đủ các điều kiện và lợi thế để phát triển
công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập; đặc
biệt phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công
nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du
lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triể
n
khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao,… phát
triển các ngành kinh tế hiện đại.
3
Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu,
nhiều cơ hội mở ra thì song song đó cũng phải đối mặt với thách thức, nguy
cơ. Trong đó, nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế
sau đây:
3.1. Quan niệm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực
và phát triển nguồn nhân lực.
4
- “Con người và phát triển con người”, Hồ Sĩ Quý, NXB Giáo dục, Hà
Nội 2007. Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác, cuốn sách nghiên cứu
khả kỹ về khoa học con người, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu
nguồn nhân lực.
- “Quan điểm của Đảng ta về: Bồi dưỡng, đào tạo và tôn vinh các
doanh nhân có tài, có đức và thành đạt”, Vũ Văn Phúc, Tạp chí Triết học, số
12 (187) 12-2006. Bài viết tập trung luận giải sự đúng đắn quan điểm của
Đảng ta về doanh nhân, là lực lượng đảm đương vai trò tiên phong trong phát
triển kinh tế, tạo động lực và để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta.
3.2. Yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển nguồn
nhân lực trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập.
- “Đào tạo nhân lực cho sự nghiệ
p CNH, HĐH dựa trên tri thức của
nước ta hiện nay”, Đặng Hữu, Tạp chí Cộng sản, số 4/2005. Công trình
nghiên cứu khá kỹ về yêu cầu của CNH, HĐH và sự phát triển kinh tế tri
thức, do đó cần phải có sự đổi mới trong giáo dục. Tác giả nêu ra 3 nhiệm vụ
cơ bản của nền giáo dục nước ta là: Nâng cao mặt bằng dân trí; Đào nguồn
nhân lực chất lượng cao thích nghi quá trình đổi mới và phát tri
ển nhanh, đáp
ứng được nhu cầu rút ngắn quá trình CNH, HĐH dựa vào tri thức; Phải chăm
lo bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhân tài.
- “Phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH - kinh nghiệm quốc tế
và thực tiễn Việt Nam”, Vũ Bá Thể, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội 2005.
Vấn đề giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được các công
trình trên đi sâu phân tích. Tuy nhiên, hầu hết chưa đưa ra mô hình giáo dục -
đào tạo phù hợp với điều kiện hộ
i nhập của Việt Nam, đáp ứng sự phát triển
các ngành kinh tế hiện đại.
3.4. Phát triển nguồn nhân lực trong các loại hình doanh nghiệp.
- “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Trần Kim Dung, Tạp chí Phát triển kinh tế
số 3/2004. Công trình phân tích và chỉ ra những bất cập trong hoạt động đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh qua số liệu
điều tra 120 cá nhân về hoạt động đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực và 558 cá nhân về quan điểm của nhân viên trong các doanh
nghiệp.
- “Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhà nước”, Lê Thị
Ngân, Nguyễn Huy Oánh, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 4/2004. Công trình
nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhà nước và
nguyên nhân, từ đó xác định những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực
trong các doanh nghiệp này.
6
- “Thực trạng lao động trong khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Việt Nam”, Lê Thị Ngân, Tạp chí Lý luận chính trị số 12/2003. Tác
giả phân tích những đặc điểm của lao động trong khu vực FDI ở Việt Nam, từ
đó đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng lao động góp phần thu
hút FDI ở Việt Nam.
Các công trình nêu trên đề cập đến những nội dung phát tri
ển nguồn
nhân lực ở cấp độ doanh nghiệp, chưa nghiên cứu đến sự phát triển nguồn
nhân lực trong điều kiện hội cho một vùng kinh tế.
đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố và sử dụng nguồn
nhân lực trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực, từ
đó đề xuất các
giải pháp nhằm phát triển, phân bố và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình
phát triển kinh tế ở nước ta đến năm 2020.
- “Hiệu quả sử dụng lao động ở nước ta và giải pháp nâng cao”,
Nguyễn Thị Thơm, Tạp chí Lý luận chính trị, số 3/2003. Công trình đánh giá
hiệu quả sử dụng lao động ở nước ta trên các nội dung: mức độ toàn dụng lao
động thấp, việ
c bố trí và sử dụng lao động còn bất hợp lý, năng suất lao động
hay hiệu quả hoạt động thấp, từ đó đưa ra những giải pháp cơ bản để nâng cao
hiệu quả sử dụng lao động ở nước ta.
Nhìn chung các công trình trên chủ yếu tập trung vào nội dung định
tính để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, chỉ đề cập đến một số ch
ỉ
số cơ bản và đặt ra nhiều nội dung cần tiếp tục nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Để đạt mục tiêu nghiên cứu đặt ra, Đề tài sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như: phân tích thống kê, phân tích định lượng, phương pháp
chuyên gia và phương pháp phỏng vấn sâu.
a. Phân tích thống kê: Sử dụng các số liệu thống kê, so sánh kết hợp với
phương pháp định lượng để tìm ra các kết luậ
n khoa học.
b. Phương pháp chuyên gia: Tổ chức hội thảo trong quá trình thực hiện
nhằm tìm kiếm sự thống nhất trong các phân tích, đánh giá cũng như đề
xuất các giải pháp, kiến nghị. Chuyên gia là các cán bộ chỉ đạo thực
tiễn của tỉnh và một số nhà nghiên cứu.
3. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chung của đề tài là xây dựng những luận cứ khoa học và căn
Chương 2: Phân tích hiện trạng chất lượng nguồn nhân lực Vùng ĐNB trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
miền Đông Nam bộ trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
1.1.1. Quan niệm về nguồn nhân lực
1.1.1.1. Quan điểm Mácxit về nguồn lực con người
Những thành tựu trong nhận thức về con người mà loài người đạt được ở
thời đại ngày nay là kết quả của sự
tích luỹ những giá trị tinh hoa của nhân
loại qua hàng nghìn năm lịch sử. Trong đó, những cống hiến của các nhà sáng
lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin có tính chất quyết định, tạo ra bước ngoặt cách
mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại.
Ngược dòng lịch sử nghiên cứu về con người có thể nhận thấy: thời cổ
đại, do hạn chế về thế giới quan, về đi
ều kiện lịch sử, trình độ sản xuất còn
thấp kém, khoa học chưa phát triển, nên quan niệm của các nhà triết học còn
phiến diện, mang nặng tính chất thần bí, siêu hình. Sang thời phong kiến, triết
học là ″nô tỳ" của thần học, các quan niệm về con người mất hết ý nghĩa tích
cực của nó. Con người được hiểu như là sự sáng tạo của Thượng đế, không có
khả năng làm ch
ủ cuộc sống của mình. Thời kỳ Phục Hưng và Khai Sáng,
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và dần dần thắng thế ở
châu Âu đã mở ra một thời kỳ mới trong việc khám phá bản chất con người.
theo các quy luật tự nhiên, đồng thời con người tồn tạ
i và phát triển gắn liền
với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Luận đề nổi tiếng về con người được C.
Mác viết trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc: ″Bản chất con người không phải là
một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của
nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội" [26, tr.11] . Với
quan niệm đó, C. Mác chỉ ra rằng bản chất con người không phải là trừu
tượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử. Con người là một
thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội
mới là bản chất đích thực của con người. Ở đây, cá nhân được hiểu với tư
cách là những cá nhân sống, là ng
ười sáng tạo các quan hệ xã hội; sự phong
phú của mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ xã
hội của nó. Hơn thế, mỗi cá thể là sự tổng hợp không chỉ của các quan hệ hiện
có, mà còn là lịch sử của các quan hệ đó. Thông qua hoạt động thực tiễn, con
người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, biến đổi chính bản thân mình và đã làm
nên lịch sử của xã h
ội loài người. Vạch ra vai trò của mối quan hệ giữa các
yếu tố cấu thành bản chất của con người, quan hệ giữa cá nhân và xã hội là
một cống hiến quan trọng của triết học mácxit.
11
Kế thừa những tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tri thức triết học
phương Đông và vốn văn hoá dân tộc, luôn chú ý đến con người. Theo Hồ
Chí Minh ″chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa
rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người" [
21, tr.644]. Với ý nghĩa
đó, khái niệm con người mang trong nó bản chất xã hội, là con người xã hội,
phản ánh các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng trong đó con người hoạt động và
sinh sống. Hồ Chí Minh thường đặt mỗi cá nhân con người trong mối quan hệ
12
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “ Nguồn nhân lực là trình độ lành
nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực
tế hoặc tiềm năng để phát triển KT - XH trong một cộng đồng”. Việc quản lý
và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các
nguồn lực khác bởi con người là một th
ực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm
với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn
ra trong môi trường sống của họ.
Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ “vốn người”
(thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu. Nguồn lực
con người được coi như là một nguồn v
ốn bên cạnh các nguồn vốn khác như
tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên
Ở nước ta, một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học - công
nghệ cấp nhà nước mang mã số KX - 07 cho rằng nguồn lực con người được
hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức
khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc. GS.
Phạm Minh Hạc cho rằng “Nguồn nhân lực là tổng thể các ti
ềm năng lao
động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị
(ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó”
[
16, tr.269]. TS Nguyễn Thanh xác định “nguồn nhân lực đó là tổng thể sức
dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động
của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội” [
33, tr.70].
Nghiên cứu các khái niệm trên cho thấy nguồn nhân lực không chỉ đơn
thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể
Khái niệm nguồn lực con người bao quát được những mặt, những khía
cạnh, phương diện cơ
bản của nguồn lực con người, khắc phục được những
hạn chế trong nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa các mặt số lượng và
chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và tâm lực,
khẳng định nguồn lực con người vừa là khách thể, vừa là chủ thể của mọi hoạt
động kinh tế và quan hệ xã hộ
i. Nói đến nguồn nhân lực tức là nói đến con
người đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình phát triển KT - XH. Ở đây, cần
lưu ý đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, con người không tồn tại một cách biệt lập, mà liên kết chặt chẽ
với nhau thành lực lượng thống nhất về tư tưởng và hành động, tạo nên sức
mạnh tổng hợp của chỉnh thể ngườ
i trong hoạt động. Xét ở khía cạnh này,
nguồn nhân lực là tổng hợp những con người với những phẩm chất nhất định
đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình phát triển KT - XH. Năng lực sức mạnh
này bắt nguồn trước hết từ những phẩm chất vốn có bên trong của mỗi con
người và nó được nhân lên gấp bội trong tổng thể những con người cụ thể. Do
đó, khi đề cập đế
n nguồn lực con người về phương diện xã hội, chúng ta
không thể không bàn đến số lượng và chất lượng của nó. Trong đó:
14
+ Số lượng nguồn nhân lực chính là lực lượng lao động và khả năng
cung cấp lực lượng lao động được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu
tuổi, giới tính, sự phân bố dân cư theo khu vực và lãnh thổ.
+ Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn lực
con người với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc bi
ệt, vừa là chủ thể
của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực
đầu trong tất cả các quyền lực đã có trong lịch sử.
15
+ Thể lực đó là trạng thái sức khoẻ của con người biểu hiện ở sự phát
triển sinh học, không có bệnh tật, có sức làm việc trong một hình thái lao
động- nghề nghiệp nào đó, có sức khoẻ để tiếp tục học tập, làm việc lâu
dài…, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách
bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đ
òi hỏi về sự hao phí sức lực,
thần kinh, cơ bắp trong lao động. Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định
trong sự phát triển nguồn nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ
có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc sức khoẻ
cho người dân là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, tạ
o tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người.
+ Đạo đức cá nhân phản ánh những giá trị và những chuẩn mực đạo đức
xã hội. Những giá trị và chuẩn mực đó phản ánh bản chất của xã hội, lý tưởng
đạo đức mà xã hội vươn tới, được cá nhân lĩnh hội và thể hiện trong đời sống
của mình, nhất là trong hoạt động lao động, trong lối sống và nế
p sống hàng
ngày. Các giá trị chuẩn mực đó phải thể hiện thành hiệu quả công việc, đóng
góp vào sự phát triển xã hội, vào sự hoàn thiện nhân cách cá nhân. Đạo đức
gắn liền với năng lực tạo nên những giá trị cơ bản của nhân cách, của chất
lượng nguồn nhân lực từ phương diện cá thể đến phương diện xã hội. Ngày
nay, cái đem lại lợi thế cho nguồ
n nhân lực ngoài trí lực và thể lực, còn phải
tính đến phẩm chất đạo đức, nhân cách con người. Bởi vì, trí lực cũng như thể
lực chỉ có thể tạo ra sức mạnh thúc đẩy tiến bộ xã hội khi chủ nhân của nó là
những con người có phẩm chất đạo đức, nhân cách tốt. Trình độ phát triển
nhân cách, đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức
Kinh nghiệ
m của nhiều nước đã cho thấy thành tựu phát triển KT - XH
phụ thuộc chủ yếu vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
người. Nhiều quốc gia đã đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược
phát triển của mình. Nhận thức đúng vai trò quyết định của nguồn lực con
người và đầu tư cho chiến lược con người, đặt lên hàng đầu chất l
ượng nguồn
lao động, coi giáo dục - đào tạo là chìa khoá của sự tăng trưởng đã đem lại
thành công cho các nước công nghiệp mới Đông Á. Hàn Quốc từ một trong
những nước nghèo nhất thế giới trở thành một trong những quốc gia công
nghiệp mới hùng mạnh nhất về kinh tế của thế giới thứ ba, vượt xa An-giê-ri -
quốc gia có cùng điểm xuất phát về trình độ cách đây 40 năm. M
ột nước Nhật
đạt được những bước tiến vượt bậc cũng do biết đặt vấn đề con người vào
trung tâm của sự phát triển bằng các triết lý nhân sự mang tính dân tộc, biết
sử dụng nguồn lực con người thông qua các thành tựu khoa học công nghệ và
đã nhanh chóng bứt lên trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới.
Do vậy, không phải ngẫu nhiên các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin
đã khẳng
định: lịch sử phát triển chân chính của xã hội là lịch sử phát triển
con người, do con người và vì con người. Tiến trình phát triển lịch sử được
17
quyết định bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong đó người lao
động ngày càng trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu. Nhận thức sâu sắc về
vai trò của con người trong chiến lược phát triển KT - XH, Đại hội VII của
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con
người vào vị trí trung tâm, thống nhất tăng trưởng kinh tế với công b
ằng và
tiến bộ xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhiều lần khẳng định mục tiêu
là khái niệm công cụ cơ bản để xây dựng chiến lược phát triển KT - XH, theo
18
quan điểm hệ thống phải đặt nó trong mối quan hệ với các nguồn lực khác.
Nó biểu hiện khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động cả về mặt số
lượng và chất lượng. Còn ″nhân tố con người" là cái cốt lõi, đặc trưng xã hội,
giữ vị trí trung tâm trong tiềm năng của nguồn lực con người, phản ánh bản
chất xã hội, m
ặt chất lượng của nguồn lực con người, nhấn mạnh tính chất
tích cực, tự giác, sáng tạo của nguồn lực con người trong quan hệ với thể lực,
kinh nghiệm thói quen của chủ thể. Thực chất của việc phát huy nhân tố con
người là hướng mỗi cá nhân, đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của cá nhân
hoặc đặt con người vào đúng vị trí của nó để con người có cơ
hội bộc lộ mình
cống hiến cho sự phát triển. Nhưng chúng ta chỉ hiểu được khái niệm nhân tố
con người khi đặt nó trong hoạt động thực tiễn mà hoạt động bản thân là hoạt
động lao động. Vì vậy, khi nhấn mạnh hệ thống các chỉ số về chất lượng lao
động thì khái niệm nguồn lực con người là sự cụ thể hoá của khái niệm nhân
tố con người. Tuy nhiên, ″phát huy nguồ
n lực con người" xét theo quan điểm
đầu tư cho sự phát triển KT - XH bao hàm nghĩa rộng hơn ″phát huy nhân tố
con người".
Phát huy nguồn lực con người thể hiện ở ba mặt: phát triển nguồn nhân
lực, sử dụng nguồn nhân lực và nuôi dưỡng môi trường cho nguồn nhân lực.
Điều đó liên quan đến hàng loạt vấn đề từ việc nuôi dưỡng, giáo dục - đào tạo
đến việc tổ chứ
c khai thác, sử dụng nguồn nhân lực; từ việc phát huy tính chủ
động, tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân đến việc tạo môi trường xã hội thuận
lợi cho sự cống hiến và hưởng thụ của con người; từ việc nâng cao năng lực
và phẩm chất của người lao động với tư cách là chủ thể nhận thức và hoạt
con người là điểm cốt yếu nhấ
t của nội lực, do đó phải bằng mọi cách phát
huy yếu tố con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực (Human Resources) là nguồn lực con người, yếu tố quan
trọng, năng động nhất của quá trình tăng trưởng kinh tế của mọi quốc gia.
Nguồn nhân lực được xác định trong một thời gian và không gian nhất định
của một quốc gia, vùng, lãnh thổ, địa phương. Nguồn nhân lự
c khác với các
nguồn lực khác (vốn, khoa học - công nghệ và tài nguyên thiên nhiên) ở chỗ
nó có khả năng hoạt động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi
thế giới tự nhiên. Trong quá trình lao động làm nảy sinh các mối quan hệ lao
động và quan hệ xã hội, nguồn nhân lực của một quốc gia được hiểu hiện trên
hai khía cạnh sau:
- Nguồn nhân lực là yếu tố đầu vào, nguồn cung cấp sức lao động cho xã
h
ội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra mọi giá trị vật
chất và tinh thần cho xã hội. Nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng thể những
tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) của
một quốc gia, vùng, lãnh thổ và địa phương. Tiềm năng đó bao hàm tổng hòa
năng lực về thể
lực, trí lực, nhân cách của con người (lao động) của một quốc
gia (vùng, lãnh thổ), đó chính là tiềm năng của người lao động về số lượng,
chất lượng và cơ cấu.