BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KN&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.03/06-10
“Xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong tiến trình
Đổi mới và hội nhập quốc tế”
*****
BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI
“XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ
VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG
ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI”Mã số: KX.03.22/06-10 CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
GS.TS. NGUYỄN VĂN KHÁNH
CƠ QUAN CHỦ TRÌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: KX.03.22/06-10 CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
GS.TS. NGUYỄN VĂN KHÁNH
CƠ QUAN CHỦ TRÌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Hà Nội - 2010
CÁC THÀNH VIÊN CỦA ĐỀ TÀI
GS.TS. NGUYỄN VĂN KHÁNH
PGS.TS. NGUYỄN VŨ HẢO
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu của sử học 20
6.2.3. Phương pháp nghiên cứu của xã hội học 21
7. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÍ TUỆ, NGUỒN LỰC
TRÍ TUỆ, XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ 25
I. TỔNG QUAN QUAN NIỆM VỀ TRÍ TUỆ VÀ NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ 25
1. Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ trong lịch sử tư tưởng phương Đông 25
1.1. Nguồn gốc, bản chất của trí tuệ 25
1.2. Phát huy nguồn lực trí tuệ 29
2. Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ trong lịch sử t
ư tưởng phương Tây 33
2.1. Quan niệm về trí tuệ trong lịch sử tư tưởng phương Tây trước Mác 33
2.2. Quan niệm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về trí tuệ và nguồn
lực trí tuệ 37
3. Xung quanh vấn đề khái niệm trí tuệ 45
3.1. Khái niệm 45
3.2. Trí tuệ và một số khái niệm liên quan 49
3.2.1 Trí tuệ và trí thông minh 49
3.2.2. Chất xám, trí lực, lý tính 50
3.2.3. Tài năng, thiên tài 51
3.2.4. Tri thức, trí thức 52
3.3. Đo lường trí tuệ 54
3.3.1. Trí thông minh và chỉ số thông minh IQ 54
3.3.2. Trí sáng tạo và chỉ số sáng tạo CQ 57
3.3.3. Trí tuệ cảm xúc và chỉ số trí tuệ cảm xúc EQ 60
2
4. Vai trò của nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp phát triển đất nước 62
5. Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và phát huy vai trò của trí thức - bộ phận trung
tâm trong nguồn lực trí tuệ Việt Nam 64
3.1. Chủ nghĩa yêu nước - sợi dây gắn kết tạo nên sức mạnh nổi trội của trí tuệ Việt
Nam 118
3.2. Lòng nhân ái, ý thức về lẽ phải, công bằng - một đặc trưng quan trọng của trí
tuệ và nguồn lực trí tuệ Việt Nam 120
3.3. Nguồn lực trí tuệ Việt Nam chưa tích lũy nhiều tri thức khoa học hiện đại
nhưng thông minh và có khả năng tiếp thu nhanh chóng tri thức hiện đại của nhân loại
121
3.4. Năng lực tư duy, nhất là khả năng phân tích, phán đoán và suy luận chư
a cao
122
3.5. Năng lực sáng tạo cao trong chính trị - quân sự nhưng trong hoạt động kinh tế,
khoa học và văn hóa nghệ thuật năng lực này vẫn còn nằm ở dạng tiềm năng 124
II. KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ 126
1. Kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong lịch sử 126
3
1.1. Vấn đề đào tạo, phát triển và sử dụng nhân tài trong thời kỳ phong kiến Việt
Nam 126
1.1.1. Nhận thức về vai trò của nhân tài và việc dùng người 127
1.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn hiền tài 130
1.1.3. Các hình thức đào tạo, tuyển chọn nhân tài 131
1.2. Khai thác và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp (1945-1954) và đế quốc Mỹ (1954-1975) 134
1.2.1. Sự lãnh đạ
o của Đảng là hiện thân cao nhất của trí tuệ Việt Nam, là động
lực khơi nguồn trí tuệ Việt Nam 134
1.2.2. Trí tuệ của toàn dân và toàn quân được phát huy cao độ 137
1.2.3. Phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng và nghệ thuật quân sự Việt
Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ là một trong những biểu
hiện rõ nét của trí tuệ Việt Nam 140
ệ thuật 175
1.4. Lĩnh vực kinh tế - kinh doanh 180
1.5. Lĩnh vực quân sự, ngoại giao 183
2. Nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài 186
3. Nguồn nhân lực tiềm năng 192
3.1. Nguồn nhân lực tiềm năng có trình độ đại học 192
4
3.2. Nguồn nhân lực tiềm năng có trình độ sau đại học 196
3.3. Nguồn nhân lực tiềm năng đang được đào tạo ở nước ngoài 197
II. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ HIỆN NAY 201
1. Tính hợp lý của sự phân công công việc 201
2. Mức độ phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ 204
3. Đánh giá của đội ngũ cán bộ về việc th
ực hiện cơ chế, chính sách trong các cơ quan
hiện nay 209
III. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ
HIỆN NAY 211
1. Mức độ phù hợp giữa đào tạo và việc làm 211
2. Quá trình hoạt động nghề nghiệp 215
3. Mức độ gắn bó với nghề nghiệp 223
IV. ĐÁNH GIÁ NHỮNG THUẬN L
ỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC XÂY
DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM HIỆN NAY 229
1. Nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay - thế mạnh và hạn chế 230
2. Những điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển nguồn lực trí tuệ 234
2.1. Những thuận lợi từ văn hóa truyền thống Việt Nam 234
2.1.1. Lòng yêu nước hay cao hơn là chủ nghĩa yêu nước là một trong nét truyền
thống quý báu củ
a dân tộc Việt Nam 234
3.2. Chính sách đầu tư cho giáo dục cần phải dựa trên nền tảng “kinh tế học giáo
dục” 290
3.3. Cần phải đặc biệt coi trọng vai trò của giáo dục đại học trong việc xây dựng và
phát huy nguồn lực trí tuệ 294
4. Xây dựng môi trường thuận lợi cho việc phát huy vai trò của nguồn lực trí tuệ Việt
Nam 300
4.1. Xác lập mô hình tăng trưởng theo chiều sâu 300
4.2. Nâng cao trình độ công nghệ một cách hợp lý 305
4.3. Xây dựng môi trường kích thích tính tích cực của người lao động trí tuệ 313
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỤ THỂ 325
1. Chống “chảy máu chất xám” 325
2. Hoàn thiện chính sách bảo hộ tài sản trí tuệ 333
2.1. Một số bất cập trong chính sách bảo hộ tài sản trí tuệ Việt Nam 333
2.2. Một số giải pháp bảo hộ tài sản trí tuệ nhằm mang lại lợi ích cho Việt Nam và
phù hợp với các điều ước quốc tế 337
3. Chú trọng xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ phụ nữ, nguồn lực trí tuệ đồng
bào dân tộc thiểu số và nguồn lực trí tuệ Việt kiều 340
3.1. Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ phụ nữ 340
3.2. Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ đồng bào dân tộc thiểu số 344
3.3. Phát huy nguồn lực trí tuệ
Việt kiều 347
KẾT LUẬN CHUNG 355
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 359
PHỤ LỤC 369
6
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
lực trí tuệ gắn liền với tri thức và “chất xám” với tính cách là yếu tố cơ bản chi phối
mọi hoạt động của nền kinh tế và với tính cách là một trong những động lực cơ bản
cho sự phát triển tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là một nguồn lực vô tận
có thể khai thác so với nguồn lực vật ch
ất - tự nhiên đang ngày càng trở nên cạn kiệt.
7
Một thời đại khác về chất so với thời đại của nền văn minh nông nghiệp và thời đại
của nền văn minh công nghiệp đang bắt đầu.
Xu hướng cơ bản của giai đoạn chuyển tiếp sang nền văn minh trí tuệ là sự tích
tụ và liên kết tri thức trên quy mô toàn cầu và bước chuyển dần dần sang nền kinh tế
tri thức. Chính trong giai đoạn này, lý tính con người, trí tuệ
con người thể hiện được
tiềm năng và sức mạnh vĩ đại của nó trong việc chinh phục tự nhiên đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng về mọi mặt của con người. Cũng chính trong giai đoạn nay, sự tiên
đoán của C. Mác về khoa học với tính cách là lực lượng sản xuất trực tiếp đã và đang
trở thành hiện thực.
Sau 25 năm Đổi mới, 20 năm thực hi
ện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và hai chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (1991-
2000 và 2001 - 2010), sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước của nhân dân Việt
Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, bên cạnh
những thành tựu, quá trình phát triển cũng bộc lộ nhiều khuyết điểm, yếu kém, không
chỉ ở n
ăng lực thực tiễn, mà cả ở năng lực tư duy lý luận, ở cả năng lực hoạch định
đường lối, chính sách.
Trong bối cảnh nhân loại đang tiến bước mạnh mẽ vào nền văn minh trí tuệ,
đến năm 2020 xây dựng nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải huy độ
ng đến mức cao nhất tất cả
chưa đủ sức thu hút và lôi cuốn nhân tài và lao động trí tuệ. Mặc dù có những tiến bộ,
các chính sách chiêu hiền đãi sĩ nhằm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt
Nam ở trong và ngoài nước còn gặp khá nhiều bất cập, chưa phát huy được tác dụng.
Thực tế trên đang gióng lên nhữ
ng hồi chuông cảnh báo khẩn thiết, buộc tất cả
những người có lương tâm và trách nhiệm xã hội, từ những cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà
nước và các đoàn thể tới mỗi người Việt Nam yêu nước phải suy nghĩ nghiêm túc về
thực trạng nguồn lực trí tuệ và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam, phải hiểu rõ tính
tất yêu không chỉ phát triển nguồn nhân lực nói chung, mà là xây dựng, đào tạo, sử
dụng và phát huy nguồn lực trí tuệ như một nguồn lực quý giá và vô tận so với các
nguồn lực khác trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Việc xây
dựng và phát triển chiến lược đối với nguồn lực trí tuệ Việt Nam ở cả trong và ngoài
nước để nhanh chóng khắc phục thực trạng đáng lo ngại nói trên là điều có ý nghĩa
quyết định
đối với sự thành bại của sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI.
Tóm lại, chính bản thân thực tiễn cuộc sống đang đặt ra đòi hỏi bức thiết phải
có những nghiên cứu, khảo sát khoa học nghiêm túc trên phạm vi cả nước nhằm phản
ánh đúng thực trạng trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam,
nhận thức đượ
c những yếu tố cơ bản tác động về mọi mặt đến nguồn lực trí tuệ Việt
Nam, những mặt mạnh và hạn chế của nguồn lực ấy, từ đó, đưa ra được chiến lược và
chính sách phù hợp để khích lệ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, khơi nguồn trí tuệ để
phát triển.
Xét trên phương diện chính sách, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng
9
việc xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ của dân tộc. Nhiều tư tưởng, đường lối,
chính sách về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, về đội ngũ trí thức, về công tác
cán bộ, về cải cách chế độ tiền lượng, v.v., đã ra đời và đi vào thực tiễn cuộc sống. Tư
tưởng, đường lối, chính sách ấy đã phát huy tác dụng to lớn trong việc khơi dậy và
lực chất lượng cao, v.v ) của nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong sự nghiệp chấn hưng
đất nước thì khá phong phú và có nhiều giá trị khoa học. Tuy nhiên, những nghiên cứu
trực diệ
n vào vấn đề nguồn lực trí tuệ thì còn rất ít ỏi, và đang ở giai đoạn khởi động.
10
Thực trạng nghiên cứu học thuật đang đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu cả về
phương diện lý thuyết, lẫn phương diện thực tế, và cả về phương diện tư vấn chính
sách về nguồn lực trí tuệ Việt Nam.
Nhận thức được đòi hỏi khách quan trên cả ba phương diện: thực tiễn, chính
sách và học thuật, Đảng và Nhà nước đã đầ
u tư kinh phí để xây dựng và triển khai đề
tài khoa học cấp Nhà nước: “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục
vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI” (mã số KX.03.22/06 - 10, thuộc
Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX.03/06 - 10 “Xây dựng con
người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế”).
2. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN C
ỦA ĐỀ TÀI
2.1. Ý nghĩa lý luận
Trên phương diện lý luận, các vấn đề trí tuệ, nguồn lực trí tuệ và phát huy
nguồn lực trí tuệ được quan tâm, đề cập tới trong vô số các công trình nghiên cứu trên
thế giới. Trong thời kỳ chuyển tiếp sang thời đại của văn minh trí tuệ, trong bối cảnh
hội nhập toàn cầu và phát triển kinh tế tri thức, đặc biệt vào thập niên cuối thế kỷ XX
đầ
u thế kỷ XXI, vấn đề lý luận liên quan đến bản chất, cấu trúc, vị thế và vai trò của
nguồn lực trí tuệ, vốn trí tuệ, giới tinh hoa trí tuệ đã trở thành những vấn đề nóng ở
nhiều quốc gia phương Tây. Xuất hiện nhiều trường phái, nhiều quan niệm và các cách
tiếp cận mới khảo cứu về nguồn lực trí tuệ, vốn trí tuệ của các quốc gia, các khu vực,
các ngành, các doanh nghi
ệp, các tổ chức, v.v., không chỉ ở tầm vĩ mô, mà còn cả ở
ng người
quan tâm tới vấn đề về nguồn lực trí tuệ Việt Nam sẽ có một nguồn tư liệu tham khảo
có giá trị từ kết quả nghiên cứu của đề tài.
3. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1
3.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Những vấn đề liên quan đến trí tuệ và nguồn lực trí tuệ con người đã dành được
sự quan tâm nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại ở cả phương Đông
và phương Tây với nhiều quan niệm, cách tiếp cận, nhiều tư tưởng, lý thuyết được đề
xướng. Tuy nhiên chỉ từ cuối thế kỷ XIX, nghiên cứu chuyên sâu v
ề trí tuệ có được
bước phát triển mới trên cơ sở khoa học.
Có vô số các công trình nghiên cứu về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, phát huy nguồn
lực trí tuệ. Tuy vậy, chúng tôi có thể phân chia các tư liệu về đề tài này thành các loại
sau: Thứ nhất, là các công trình nghiên cứu về các quan niệm, các cách tiếp cận về trí
tuệ trong lịch sử tư tưởng nhân loại ở cả phương Tây và phương Đông
2
. Thứ hai, là 1
Ở đây, chúng tôi chỉ nêu một cách tổng quan về tình hình nghiên cứu. Những nội dung cụ thể sẽ được trình bày
chi tiết trong chương 1 dưới đây.
2
Thuộc nhóm này, có thể nhắc đến những công trình sau: Gardner, Howard, Cơ cấu trí khôn - Lý thuyết về
nhiều dạng trí khôn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998; Gardner, H. (1983). Frames of mind: The theory of multiple
intelligences. New York: Basic Books; Eysenck, H. J. (1982). Introduction. In H. J. Eysenck (Ed.), A model for
intelligence (pp. 1 - 10). New York: Springer - Verlag; Guilford, J. P. (1967). The nature of human intelligence.
New York: McGraw - Hill; Sternberg, R. J., & Gardner, M. K. (1982). A componential interpretation of the
Hochbegabung in der Kindheit, Heidelberg: Roland Asanger Verlag; Tettenborn, A. (1996). Familien mit
hochbegabten Kindern, Münster / New York: Waxmann; Süß, H. - M. (1996), Intelligenz, Wissen und
Problemlösen, Göttingen: Hogrefe.; Goleman, Daniel, Trí Tuệ Xúc Cảm - Ứng Dụng Trong Công Việc, Nxb Tri
Thức, 2007; Abroms, K.I, Social giftedniss and its relationship with intellectual giftedniss in J. Freeman: The
psychology of gifted children, Chicherter: Sohn Wiley & Sens, 1985; Kaiser, H.J., Soziale Intelligenz,Verlag W.
Kohlhammer, Stuttgart, 1998; Spariosu, Mihai, Global Intelligence and Human Development, MIT Press Ltd,
2004; Sternberg, R. J., & Grigorenko, E. L, (in press), Intelligence applied, New York: Oxford University Press,
2002; Sternberg, Robert J. (Ed.), Encyclopedia of human intelligence, Macmillan, New York, 1994; Armstrong,
Thomas, Multiple Intelligences in the Classroom. Alexandria, VA: Association for Supervision and Curriculum
Development, 1994; Armstrong, Thomas, Multiple Intelligences: Seven Ways to Approach Curriculum,
Educational Leadership, November, 1994; Gates, Bill; Collins Hemingway, Bill Gates - Tốc độ tư duy, (Nguyễn
Văn Phước, Vũ Tài Hoa, Lê Hiền Thảo dịch), Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2002 ; Eysenck, H.J, The nature and
measurement of intelligence in The psychology of gifted children, Chicherter, New York , 1985; Hunt, T, The
measurement of social intelligence, Journal of Applied Psychology, 1928; Jensen, A. R., Why is reaction time
correlated with psychometric g? Current Directions in Psychological Science, 2 (1993), 53 - 56; Jensen, A. R.,
The psychometrics of intelligence, in H. Nyborg (Ed.), The scientific study of human nature: Tribute to Hans J.
Eysenck at eighty (pp. 221 - 239), New York: Elsevier, 1997; Spearman, C., General intelligence objectively
determined and measured, American Journal of Psychology, 15 (1904), 201 - 293; Sternberg, R. J., Beyond IQ:
A triarchic theory of human intelligence, New York: Cambridge University Press, 1985; Sternberg, Robert J.;
Lautrey, Jacques; Lubart, Todd I., Models of Intelligence, American Psychological Association, 2003; Eysenck,
H. J., Introduction. In: H. J. Eysenck (Ed.), A model for intelligence (pp. 1 - 10). New York: Springer - Verlag,
1982; Sternberg, R. J., & Gardner, M. K., A componential interpretation of the general factor in human
intelligence, In: H. J. Eysenck (Ed.), A model for intelligence (pp. 231 - 254), New York: Springer - Verlag,
1982; Holocher - Ertl, S., Kubinger, K.D., Förderungsorientierte Hochbegabungsdiagnostik: Das Wiener
Diagnosemodell zum Hochleistungspotenzial, Report Psychologie, 3 (2009), 116 - 129; Jäger, A.O.,
Intelligenzstrukturforschung: Konkurrierende Modelle, neue Entwicklungen, Perspektiven, Psychologische
Rundschau, 35 (1984), 21 - 35.
4
Thuộc nhóm này, có thể nhắc đến những công trình sau: Fetzer, James H., Evolution of Intelligence, 2004;
Klix, F., Zur Evolution der Menschlichen Intelligenz, Verlag W. Kohlhammer, Stuttgart, 1998; Доналдсон ,М.,
Методологические знания в интеллектуальном капитале организации.//Научная мысль Кавказа, 2004, №
4. С. 47 - 50; Сергеев
А. Л. Типология ресурсов интеллектуального капитала фирмы //Экономический
вестник РГУ, 2005, № 1. С. 59 - 64; Stewart T.A. Intellectual Capital: The New Wealth of Organizations. -
N.Y. - L.: Doubleday / Currency, 1997; Марковская Елизавета Игоревна, Интеллектуальные ресурсы в
обеспечении конкурентоспособности предприятия, in: http://www.lib.ua - ru.net/diss/cont/80217.html;
Klein, David A., Strategic Management of Intellectual Capital, Elsevier: Science & Technology, 1998, Skyrme,
David, Measuring Knowledge and Intellectual Capital, Business Intelligence, 2003; Dahlman, C. J. & Aubert, J
China and the knowledge economy: Seizing the 21st century, Washington, DC: The World Bank, 2001;
Edvinsson, L & Malone, M. S., Intellectual capital, London, Piatkus, 1997; Guthrie and R. Petty, “Intellectual
capital: Australian annual reporting practices”, Journal of Intellectual Capital (3), pp. 241–251, 2000; Marr, B.,
Gray,D. and Neely,A., Why do firms measure their intellectual capital, Journal of Intellectual Capital, Vol.4
No.4, pp.441 - 64, 2003; O'Donnell, Henriksen, and Voelpel, "Becoming critical on intellectual capital", Journal
of Intellectual Capital, Vol 7 No.1, 2006; Mouritsen, Jan, Per Nikolaj Bukh, Mette Rosenkrands Johansen &
Heine T. Larsen, Developing and Managing Knowledge through Intellectual Capital Statements, Journal of
Intellectual Capital 3(1):10 - 29.2002; Brooking, A., Intellectual Capital: Core Assets for the Third Millennium
Enterprise, Thompson Business Press, London 1996; Brooking, A., The management of intellectual capital,
Long Range Planning, Vol. 30 No. 3 (1997); Edvinsson, L., The knowledge capital of nations, Knowledge
Management, April (2002), pp. 27 - 30; Edvinsson, L., Stenfelt, C., IC of nations for future wealth creation,
Journal of Human Resource Costing & Accounting, Vol. 4 No. 1 (1999); Edvinsson, L., “Developing intellectual
capital at Skandia”, Long Range Planning, Vol.30 No. 3 (1997), pp.320 - 31; Hall, R., “The Strategic Analysis of
Intangible Resources”, Strategic Management Journal, Vol. 13, No. 2 (1992), pp. 135 - 144; Hall, R., “A
Framework linking Intangible Resources and Capabilities to Sustainable Competitive Advantage”, Strategic
Management Journal, Vol.14 (1993); Hudson, W.J., Intellectual Capital: How to Build It, Enhance It,Use It,
Wiley, New York, NY, 1993; Malhotra, Y. “Knowledge assets in the global economy : assessment of national
intellectual capital” , in Malhotra, Y. (eds), Knowledge Management and Business Model Innovation, Idea
Publishing Group, London, 2001; Roos, G., Roos, J., “Measuring your company’s intellectual performance”,
Long Range Planning, Vol. 30 No. 3 (1997); Sullivan, P.H. (1998, eds), Profiting from intellectual capital:
extracting value from innovation, Wiley, New York; Sveiby, K.E., “The Intangible Asset Monitor”, Journal of
Human Resource Costing & Accounting, Vol. 2 No. 1 (1997).
cấu trúc, vai trò của nguồn lực trí tuệ hay vốn trí tuệ như C. J. Dahlman, J. Aubert; P.
Drucker; L. Edvinsson; M. S. Malone; Guthrie and R. Petty, A. Brooking, David
Skyrme D; J.Roos; G. Roos; A. Stewart Thomas; Paolo Magrassi; Сергеев А. Л.;,
David A. Klein; Guthrie and R. Petty; B. Marr; D. Gray, A. Neely, Jan Mouritsen, Per
Nikolaj Bukh, Mette Rosenkrands Johansen & Heine T. Larsen, R. Hall; W.J.Hudson;
G.Roos; J. Roos; K.E. Sveiby
8
, v.v. Các công trình này bước đầu mang đến cho độc
giả các nước một bức tranh khái quát về bản chất, vị thế của nguồn lực trí tuệ trong bối
cảnh của xu hướng phát triển kinh tế tri thức.
Nhìn chung, đa số các công trình này nói trên chủ yếu xem xét nguồn lực trí tuệ
dưới góc độ kinh tế, đặc biệt liên quan nguồn lực trí tuệ của một doanh nghiệp, chứ
chưa đi sâu nghiên cứu nguồn lự
c trí tuệ và những vấn đề về xây dựng và phát huy
nguồn lực trí tuệ của quốc gia.
3.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp về đề tài trí tuệ, nguồn lực
trí tuệ nói chung và nguồn lực trí tuệ Việt Nam nói riêng trong bối cảnh hội nhập hiện
nay vẫn ở tình trạng rất khiêm tốn. Đây là lĩnh vực đề tài còn chưa được nghiên cứu
một cách thấu đáo, đặc biệt dưới giác độ nghiên cứu tổng hợp có tính liên ngành. 7
Chẳng hạn như công trình: Của cải của quốc gia đang ở đâu? Đo lường nguồn của cải Thế kỷ 21 (Nxb. CTQG,
H., 2009), Nhìn Lại sự Thần Kỳ Của Các Nước Đông Á (Joseph E. Stiglitz. Shahid Yusuf, Nxb. Từ điển Bách
Khoa, H., 2009, v.v
8
Xem: các tư liệu đã dẫn.
15
9
Thuộc loại này phải kể đến chương trình nghiên cứu cấp nhà nước KX - 07: “Con người, mục tiêu và động lực
phát triển kinh tế - xã hội” do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, mà kết quả nghiên cứu được công bố trong kỷ
yếu Hội thảo khoa học Con người Việt Nam và công cuộc đổi mới tại Hà Nội vào năm 1994; Chương trình
KHCN cấp Nhà nước KHXH 04 - 04: Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai
đoạn CNH,
HĐH đất nước cũng do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm; cuốn Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực (Hà Nội,
2001) và cuốn Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007) đều do Phạm Minh Hạc làm chủ biên. Thuộc loại này, cũng
không thể bỏ qua được cuốn Kỷ yếu Hội th
ảo Quốc tế "Nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người, nguồn
nhân lực đầu thế kỷ XXI" thuộc chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước KX - 05, được tổ chức vào
tháng 11 năm 2003 trong đó có báo cáo tham luận của Nguyễn Quang Uẩn về phát triển con người, phát triển
nguồn nhân lực và giáo dục; cuốn Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam do Lê Nam Trà làm chủ biên
(Hà Nộ
i, 1997), v.v Bên cạnh đó, có thể kể đến cuốn sách dịch đang thịnh hành hiện nay ở Việt Nam Phương
Pháp 3. Tri thức về Tri thức - Nhân Học về Tri thức của Edgar Morin (Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006),
trong đó tác giả chủ trương "tổ chức lại tri thức luận", xây dựng lại tri thức luận phức hợp, tránh quan niệm cắt
xén, đơn giản, một chiều mối quan hệ giữ
a triết học với khoa học.
10
Chẳng hạn như công trình của Trần Văn Tùng (chủ biên): Chất lượng tăng trưởng nhìn từ Đông Á (Nxb. Thế
giới, H, 2003); Trần Thị Nhung: Tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới 2
đến nay (Nxb. Khoa học xã hội, H., 2002), v.v
16
Nhóm thứ ba, bao gồm một số nghiên cứu về tài năng, nhân tài, đào tạo, phát
triển nhân tài ở Việt Nam
11
. Tiếp cận chủ yếu dưới góc độ giáo dục học, tâm lý học và
bồi dưỡng tài năng. Kết quả của đề tài Nhà nước KX - 07 - 08/1992 - 1994; cuốn Phương sách dùng người của
ông cha ta trong lịch sử (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994) do Phan Hữu Dật làm chủ biên; cuốn Trí thức
với Đảng, Đảng với tri thức trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước
(Nguyễn Văn Khánh chủ biên,
Nxb. Thông Tấn, Hà Nội, 2004); cuốn Kỷ yếu Hội thảo quốc gia Bồi dưỡng nhân tài phục vụ CNH - HĐH đất
nước do Bộ Giáo dục và đào tạo ấn hành tháng 8/2000; cuốn Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước của
Nguyễn Đắc Hưng (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội); cuốn Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài của Nghiêm
Đình Vỳ, Nguyễn Đắ
c Hưng (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) ; cuốn Khảo lược về kinh nghiệm phát
hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam do Phạm Hồng Tung làm chủ biên (Nxb. Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2005), v.v
12
Thuộc nhóm này, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như cuốn Tuổi trẻ nhân tài và tài năng quân sự của
Nguyễn Trọng Bảo (Nxb. Quân đội nhân dân, 1993); cuốn Tính cộng đồng, tính cá nhân và cái tôi của thanh
niên Việt Nam của Đỗ Long và Phan Thị Mai Hương (Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002); cuốn Việt Nam văn
hoá sử cương của Đào Duy Anh (Nxb. Bốn Phương, Hà Nội, 1995); cuốn Văn hóa và con người của Nguyễn
Trần Bạ
t (Nxb. Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội, 2005), v.v
13
Thuộc nhóm các công trình này, phải kể đến cuốn của Trương Bá Cần Nguyễn Trường Tộ - Con người và Di
thảo (Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1988); cuốn của Đinh Thị Minh Hằng: Lê Quý Đôn trên tiến trình ý thức
văn học dân tộc (Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996); cuốn Nguyễn Công Trứ: Về tác gia và tác phẩm do Trần
Nho Thìn giới thiệu và tuyển chọn (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2003); cuốn Những người đi qua hai thế
kỷ do Đinh
Xuân Lâm chủ biên (Nxb. Lao Động, Hà Nội, 2001); cuốn Lịch sử và văn hoá Việt Nam - Những gương mặt trí
thức do Nguyễn Quang Ân chủ biên (Nxb. Văn hoá Thông Tin, 1998), v.v
17
nhận của các cá nhân xuất chúng, trong việc phân tích, đánh giá về tiềm năng, đặc
điểm của nguồn lực trí tuệ Việt Nam đã được phát huy trong những lĩnh vực cụ thể.
14
Thuộc loại công trình này, không thể không nhắc đến cuốn Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia của
Nguyễn Đức Hưng, Phan Xuân Dũng (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004); cuốn Chiến lược phát triển giáo
dục trong thế kỷ XXI - kinh nghiệm của các quốc gia của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục (Nxb. Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2002); cuốn Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001. Đổi mới và sự nghiệp phát triển
con ngườ
i của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001);
cuốn Những quan điểm của các nhà kinh điển mácxít về tầng lớp trí thức và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nước ta đối với đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh (Hà Nội, 2000), Trí thức Khoa học xã hội và nhân văn trong sự nghiệ
p CNH, HĐH đất nước (Luận án
Tiến sĩ triết học của Ngô Thị Phượng, Hà Nội, 2006); gần đây còn phải kể đến đề tài “Xây dựng đội ngũ trí thức
Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020” (Mã số: KX.04.16/06 - 10) do Đàm Đức Vượng chủ trì; v.v
18
nguồn lực trí tuệ trong lịch sử phương Đông và phương Tây; Làm rõ các vấn đề lý
luận liên quan đến khái niệm trí tuệ, nguồn lực trí tuệ; Làm rõ khái niệm công cụ của
đề tài như trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, chấn hưng đất nước, giải pháp xây dựng và phát
huy nguồn lực trí tuệ, chủ thể tham gia xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ.
- Nghiên cứu nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong lịch sử và
đặc điểm cơ bản của
nguồn lực trí tuệ Việt Nam; Tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn lực trí
tuệ Việt Nam trong lịch sử cũng như của một số nước ở Đông Á, Đông Nam Á.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng, tiềm năng nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong một
số lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là củ
a khoa học và nghệ thuật.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và phát huy nguồn
lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong những năm đầu thế
kỷ XXI.
Thứ hai, nói đến “nguồn lực trí tuệ Việt Nam” chủ yếu là nói đến nguồn lực trí
tuệ của “người Việt Nam”. Khái niệm “người Việt Nam” phản ánh một chỉnh thể với
cấu trúc phức tạp và biến đổi qua thời gian. Chính vì thế, bên cạnh việc nghiên cứu
tổng quát diễn tiến, đặc điểm chung của nguồn lực trí tuệ của cộng đồng người Việ
t
Nam, chúng tôi đi sâu nghiên cứu một số bộ phận đặc thù của nguồn lực trí tuệ Việt
Nam, đó là sinh viên, phụ nữ, trí thức trong nước, trí thức Việt kiều. Ngoài ra, chúng
tôi cũng đề cập đến nguồn lực trí tuệ của dân tộc thiểu số - một đối tượng chưa được
nghiên cứu nhiều ở Việt Nam.
Thứ ba, “sự nghiệp chấn hưng đất nước trong th
ế kỷ XXI” là một quá trình phát
triển đất nước trong một khoảng thời gian dài, với nhiều chặng đường và mục tiêu phát
triển khác nhau, trong bối cảnh khu vực và thế giới biến chuyển mạnh mẽ và khó
lường. Do vậy, trong nghiên cứu này, những giải pháp nhằm xây dựng và phát triển
nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI
mà chúng tôi đề xuất tuy mang tính dài h
ạn, song tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ
nay đến năm 2020.
Thứ tư, các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu cũng được lựa chọn sử dụng
cho phần điều tra khảo sát thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội cũng được giới hạn để phù hợp với đối tượng, không gian, thời
gian nghiên cứu
đã được giới hạn như trên, cụ thể, chúng tôi tiến hành khảo sát 2
nhóm khách thể nghiên cứu như sau:
- Nhóm 1: đội ngũ cán bộ - những người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên
hiện đang công tác trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội bao gồm: khoa
học, giáo dục, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, trong đó tập trung
chính vào 2 lĩnh vực là khoa học và nghệ thuật. Nhóm khách thể khả
o sát này là cơ sở
để đánh giá thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam.
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp thường được sử dụng trong nghiên cứu
triết học như khái quát hoá, trừ
u tượng hoá, hệ thống hoá, phân tích, tổng hợp, diễn
dịch, quy nạp, kết hợp lịch sử - lôgic, so sánh - đối chiếu, phân tích văn bản học, v.v.,
khi nghiên cứu vấn đề trí tuệ, nguồn lực trí tuệ lịch sử tư tưởng phương Đông và
phương Tây, xây dựng các khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu của đề tài.
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu của sử học
- Phương pháp phân tích - tổng hợp.
- Ph
ương pháp lịch sử - cụ thể sẽ được sử dụng đậm nét khi tìm tòi tư liệu,
nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong lịch
sử (ở các triều đại phong kiến, trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trong
20 năm đổi mới, v.v ).
- Phương pháp so sánh - đối chiếu sẽ được dùng trong quá trình khảo sát kinh
nghiệm một số nước trong việc xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ; phân tích,
21
nhận diện trí tuệ Việt Nam trong mối quan hệ với trí tuệ một số nước của khu vực và
châu Á.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành sẽ được áp dụng trong quá trình phân tích
các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt
Nam hiện nay.
6.2.3. Phương pháp nghiên cứu của xã hội học
Các phương pháp nghiên cứu của xã hội học như phỏng vấn b
ằng bảng hỏi,
phỏng vấn sâu, phỏng vấn bán cấu trúc, phân tích tài liệu được sử dụng nhằm đánh giá
thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay, cụ thể như sau:
Phương pháp phỏng vấn sâu: chúng tôi đã thực hiện 9 cuộc phỏng vấn sâu với
cán bộ quản lý của các sở, ban, ngành, cán bộ công tác trong lĩnh vực nghệ thuật và du
học sinh ở nước ngoài.
tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp. Phương pháp này cho phép chúng
tôi tiếp cận với những nguồn số liệu về nguồn nhân lực trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Do vậy, để đánh giá thự
c trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay, chúng tôi kết hợp
sử dụng các số liệu thống kê chính thức và số liệu điều tra, khảo sát của đề tài.
7. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đề tài KX.03.22/06 - 10 được triển khai trong 02 năm (2009 - 2010). Về mặt
khảo sát: đề tài đã tiến hành một cuộc khảo sát kinh nghiệm nước ngoài và điều tra
khảo sát trong nước trên địa bàn 04 tỉnh/thành phố là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,
Bình Dương, Đà Nẵng. Về mặt tư liệu, đề tài đã tập hợp và nghiên cứu một số lượng
lớn các tài liệu, tư liệu dưới nhiều hình thức, nhiều nguồ
n thông tin có uy tín trong và
ngoài nước. Về mặt lực lượng, đề tài đã huy động được sự tham gia đông đảo của gần
100 nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị - xã hội ở cấp Trung ương và địa phương, ở
trong và ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội, trong và ngoài nước, ở nhiều lĩnh vực nghiên
cứu khác nhau từ khoa học xã hội và nhân văn đến khoa học tự nhiên, ở các lĩnh vực
hoạt động từ
chính trị, đến kinh tế, văn hóa, xã hội.
Các sản phẩm nghiên cứu của Đề tài rất phong phú, bao gồm:
- Bộ số liệu điều tra xã hội học (định lượng gồm 2122 phiếu đã qua xử lý, 1 bộ
biên bản phỏng vấn sâu, phỏng vấn bán cấu trúc).
- 03 kỷ yếu Hội thảo khoa học của 3 Hội thảo khoa học cấp quốc gia.
- 70 chuyên đề khoa học và 04 báo cáo tổng hợp kế
t quả nghiên cứu của các
nhánh.
- 05 bài nghiên cứu đã công bố trên tạp chí chuyên ngành, 01 sách chuyên khảo
đã xuất bản, 01 bản dịch tài liệu tiếng nước ngoài, 01 bản thảo công trình nghiên cứu
100 gương mặt trí tuệ Việt Nam trong thế kỷ XX.
- 5 học viên cao học và 1 nghiên cứu sinh đã và đang triển khai nghiên cứu
những vấn đề mà Đề tài đã vạch ra.