BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.01/06-10:
"Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020" ĐỀ TÀI
CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC
VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM ĐẾN NĂM 2015
MÃ SỐ: KX.01.05/06-10
Chủ nhiệm đề tài: GS.TS. Nguyễn Văn Nam
Cơ quan chủ trì : Trường Đại học Kinh tế quốc dân
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQL : Ban quản lý
BVMT : Bảo vệ môi trường
Bộ KH & ĐT: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ TN & MT: Bộ Tài nguyên và Môi trường
CCKTLT : Cơ cấu kinh tế lãnh thổ
CCN : Cụm công nghiệp
CN : Công nghiệp
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CTR : Chất thải rắn
DV : Dịch vụ
DHMT : Duyên hải miền Trung
ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
FDI : Đầu tư trực tiếp n
ước ngoài
GTVT : Giao thông vận tải
KCN : Khu Công nghiệp
KCNC : Khu công nghệ cao
KCX : Khu chế xuất
1.2.1. Đặt vấn đề phát triển bền vững VKTTĐ 14
1.2.2. Nội hàm phát triển bền vững VKTTĐ 16
1.2.3. Các tiêu chí phát triển bền vững VKTTĐ 18
1.3. SỰ CẦN THIẾT CỦA CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
CÁC VKTTĐ 24
1.3.1. Hệ thống cơ chế chính sách - một trong những công cụ định hướng và điều tiết vĩ mô
nền kinh tế 24
1.3.2. Hệ thống cơ chế chính sách – một nhân tố tác động đến phát triển bền vững VKTTĐ
25
1.3.3. Sự cần thiết phải có các chính sách riêng trong từng giai đoạn phát triển các VKTTĐ
28
1.4. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 33
1.4.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc: mô hình 33
phát triển vùng Chu Giang mở rộng 33
1.4.2. Kinh nghiệm của Nhậ
t Bản 41
1.4.3 Kinh nghiệm của Pháp về tổ chức hội đồng tư vấn kinh tế và xã hội vùng 42
1.4.4. Kinh nghiệm của Hàn Quốc 43
1.4.5. Kinh nghiệm của Thái Lan 45
1.4.6. Kinh nghiệm của Malaixia 49
1.4.7. Kinh nghiệm của Đài Loan 50
1.4.8. Kinh nghiệm của Philippine 52
1.4.9. Các bài học về phát triển bền vững vùng KTTĐ đối với Việt Nam 53
PHẦN II 58
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ĐẾN PTBV
CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐI
ỂM Ở VIỆT NAM 58
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
Ở VIỆT NAM 58
3.1.2. Quan điểm định hướng chiến lược phát triển các VKTTĐ 160
3.1.3. Định hướng phát triển bền vững VKTTĐ 165
3.2. HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC VÙNG
KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 175
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến bảo đảm tính chất hợp lý và đồng bộ trong
quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển 175
3.2.2. Chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành hợp lý cho các vùng trọng đ
iểm 185
3.2.3. Hoàn thiện chính sách bảo đảm vốn và các nguồn lực chất lượng cao nhằm hướng tới
mục tiêu thực hiện mô hình tăng trưởng theo chiều sâu các vùng trọng điểm 192
3.2.4. Hoàn thiện chính sách chống ô nhiễm và BVMT trên các vùng trọng điểm 201
3.2.5. Xây dựng và hoàn hiện các chính sách tạo sự lan tỏa kinh tế của các VKTTĐ 207
3.2.6. Hoàn thiện chính sách và bộ máy quản lý VKTTĐ nhằm bảo đảm thực hiện tốt sự
phối h
ợp và liên kết vùng 210
3.2.7 Hoàn thiện bộ máy điều phối phát triển VKTTĐ 220
3.3. CÁC KIẾN NGHỊ 227
3.3.1 Một số kiến nghị chung: 227
3.3.2. Các kiến nghị cụ thể: 227
KẾT LUẬN 229
PHỤ LỤC 1 -
Bảng 2.17: Tỷ lệ điện thoại / 100 dân 128
Bảng 2.18: Tốc độ tăng GDP và GDP/người trên các VKTTĐ 128
Bảng 2.19: Tỷ lệ h
ộ nghèo các VKTTĐ 129
Bảng 2.20: Tổng hợp hệ số co giãn của tỷ lệ nghèo đói và thu nhập 130
Bảng 2.21: Hệ số GINI, hệ số giãn cách thu nhập và tiêu chuẩn “40” của VKTTĐ 131
Bảng 2.22: Tỷ lệ co giãn giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mức độ gia tăng ô nhiễm môi
trường ở Vùng KTTĐBB, giai đoạn 2000 – 2005 133
Bảng 2.23: Sự bền vững về môi trường của chuyển dịch c
ơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành công
nghiệp, giai đoạn 2000 - 2005 134
Bảng 2.24: Khối lượng CTR các đô thị loại 4 trở lên 135
Bảng 2.25: Thu - chi ngân sách các VKTTĐ 142
Bảng 2.26: Cán cân ngân sách của ba VKTTĐ 143
Bảng 2.27: Tốc độ tăng thu ngân sách các VKTTĐ 143
Bảng 2.28: Đóng góp thu ngân sách của các VKTTĐ 144
Bảng 2.29: Kim ngạch xuất – nhập khẩu của các VKTTĐ 145
Bảng 2.30: Cán cân thương mại quốc tế của VKTTĐ 145
Bảng 2.31: Tốc độ t
ăng trưởng kim ngạch xuất khẩu 3 VKTTĐ 146
Bảng 2.32: Vốn đầu tư vào VKTTĐ 147
Bảng 2.33: Quy mô thu hút lao động VKTTĐ 148 vii
Danh mục các hình trong đề tài
Hình 1.1: Mô hình phát triển bền vững vùng KTTĐ 15
Hình 1.2: Sơ đồ hệ thống cơ chế chính sách sử dụng trên VKTTĐ 27
Trong thời gian qua, nhờ có quyết tâm lớn của Đảng, Chính phủ, các Bộ ngành và
các địa phương đã có những nỗ lực đáng kể, tạo ra bước phát triển mới đối với ba vùng
KTTĐ trên các mặt: tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mạng lưới kết cấu hạ
tầng, thu hút vốn đầu tư Các vùng kinh tế trong
điểm đó trở thành các trung tâm kinh
tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, cung cấp dịch vụ cho các vùng và trong cả nước.
Tuy vậy, sự phát triển của các VKTTĐ còn bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế đứng
trên góc độ phát triển bền vững: (1) Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế chưa tương
xứng với tiềm năng và chưa đạt được mục tiêu kế hoạch đặt ra cho các VKTTĐ
; (2) Cơ
cấu kinh tế của các vùng trọng điểm chưa tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững, chưa tạo
được sức cạnh tranh và động lực phát triển cho cả nước; (3) các khu công nghiệp (KCN),
khu công nghệ cao (KCNC), khu chế xuất (KCX) các đầu tầu tăng trưởng trong cả 3
vùng KTTĐ đều chưa sử dụng hết năng lực, tỷ lệ lấp đầy còn thấp, đầu tư
công nghệ
hiện đại chưa cao, đóng góp vào xuất khẩu và thu hút lao động còn thấp; (4) Mức toàn
dụng lao động, đặc biệt là lao động có kỹ thuật chưa cao, chưa giải quyết được tốt việc
làm cho lao động nông nghiệp dôi dư khi bị mất đất nông nghiệp cho công nghiệp; (5)
Vấn đề ô nhiễm môi trường ở các thành phố, khu trung tâm du lịch, làng nghề ở các vùng
KTTĐ đang có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng không nhỏ
đến đời sống dân cư và phát
triển bền vững đang đòi hỏi phải giải quyết cấp bách.
Có nhiều lý do dẫn đến những bất cập trên, trong đó những vấn đề thuộc về cơ
chế chính sách và sự vận hành nó cũng còn nhiều yếu tố không đồng thuận cho phát triển
bền vững các vùng KTTĐ. Cụ thể: (1) hệ thống chính sách với tư cách của riêng cho các
vùng trọ
ng điểm còn rất ít mà lại không phù hợp; (2) theo cơ chế hiện tại, 3 VKTTĐ
chưa có bộ máy chuyên trách thực hiện chức năng quản lý, tổ chức phối hợp phát triển
trong nội bộ vùng, lập kế hoạch phát triển, giám sát, đánh giá tác động phát triển ở cấp
ế lãnh
thổ của các quốc gia trên thế giới. Trong số các lý thuyết trên có thể kể đến một số lý
thuyết nổi bật như : lý thuyết vành đai nông nghiệp của V. Thunen, lý thuyết tăng trưởng
nội sinh của Clark và Fisher, lý thuyết về điểm trung tâm của Christaller, hay lý thuyết
cực của François Perroux, vv. Việc nghiên cứu những lý thuyết này sẽ rất có ích cho việc
phát triển các vùng kinh tế của Việt nam, đặc biệt là lý thuyết c
ực tăng trưởng của
François Perroux đã từng được áp dụng rông rãi ở các nước ASEAN và đã chứng minh là
đạt kết quả thích hợp với các quốc gia còn thiếu vốn cần kêu gọi vốn nước ngoài. Sự
thành công này góp phần giải thích sự cần thiết và gợi ý định hướng phát triển kinh tế
lãnh thổ theo hướng có trọng điểm.
Về thực tế, trong những năm gần đây chúng ta đã đượ
c chứng kiến sự thành công
trong việc phát triển có trọng điểm các vùng kinh tế của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ
đang phát triển như Trung Quốc, Malaixia, Philippine, Thái Lan, Đài Loan, vv.
x
Các nghiên cứu về phát triển vùng kinh tế trọng điểm của các nước này đã chỉ ra
rằng :
Một là: Các quốc gia này thường chọn những vùng lãnh thổ có lợi thế so sánh, thông
thường là những khu vực gần các trục giao thông huyết mạch, ven sông, ven biển có điều
kiện phát triển và mở rộng giao lưu kinh tế với bên trong và bên ngoài, có khả năng tiếp
cận và hoà nhập nhanh chóng vào các thị trường hàng hoá để tập trung đầu tư
, lập các
trọng điểm phát triển công nghiệp và thương mại nhằm tạo địa bàn động lực, mũi đột phá
trong phát triển kinh tế vùng để từ đó có sức lan toả phát triển sang các vùng khác trong
nước.
Hai là: Thực tế thành công của các quốc gia nêu trên đã minh chứng cho quan điểm
đúng đắn về đầu tư phát triển có trọng điểm theo lãnh thổ. Có thể nói, đối với các nước
đang phát triển, các c
nh hưởng lan toả kích thích các vùng cùng phát triển, qua đó thoả mãn yêu
xi
cầu tăng lên về trình độ phát triển và mức sống của dân cư ở các vùng, hướng tới mục
tiêu phát triển bền vững nền kinh tế đất nước.
Các nghiên cứu này một mặt đã chỉ rõ yêu cầu phát triển các vùng kinh tế trọng
điểm về mặt lý luận trong điều kiện phát triển kinh tế hiện tại của Việt Nam, khẳng định
vị trí vai trò quan trọng của ba vùng kinh tế
trọng điểm, đồng thời đưa ra được bức tranh
toàn cảnh về quá trình phát triển các vùng kinh tế trọng điểm của nước ta cũng như triển
vọng tương lai trong việc phát triển các vùng lãnh thổ này.
Mặt khác, các nghiên cứu trên cũng đã tập trung làm rõ được những vấn đề bất cập,
những yếu kém trong phát triển vùng kinh tế trọng điểm của nước ta (tốc độ tăng tr
ưởng
kinh tế chưa cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, thu hút và sử dụng vốn chưa hiệu
quả, chưa tạo được mối liên kết cần thiết giữa các vùng trọng điểm với các vùng lãnh thổ
khác, thiếu sự điều tiết của Nhà nước và sự phân công hợp tác giữa các vùng kinh tế
trọng điểm với các địa phương, vv).
Đồng thời các nghiên cứu c
ũng đã chỉ ra những thách thức mới đối với yêu cầu
phát triển bền vững các vùng kinh tế trọng điểm trong thời gian tới (về nâng cao khả
năng cạnh tranh của vùng, tăng cường liên kết vùng, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực,
tăng cường quản lý nhà nước, giảm bớt sự chênh lệch quá lớn giữa các vùng lãnh thổ,
vv).
Tuy nhiên, nhiều vấn đề lý luận về phát tri
ển vùng kinh tế trọng điểm, về mối
quan hệ giữa các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng lân cận mới chỉ được nghiên cứu
trên một số giác độ nhất định, chưa đưa ra được cái nhìn tổng thể, xem xét đầy đủ các
mối quan hệ tương tác giữa phát triển vùng và phát triển bền vững trong môi trường kinh
tế trong nước, khu vực và thế giới, đặc biệt là trong bối cảnh củ
động đặc thù của những chính sách đó đến từng VKTTĐ ở nước ta.
- Xác định luận cứ (lý luận và thực tiễn, trong đó kể cả những kinh nghiệm quốc
tế) có liên quan đến việc đề xuất hoàn thiện và đổi mới hệ thống cơ chế, chính sách nhằm
phát triển bền vững VKTTĐ
ở nước ta; cơ chế vận dụng chính sách trong các điều kiện
đặc thù của từng VKTTĐ.
- Đề xuất nội dung hoàn thiện, đổi mới hệ thống cơ chế, chính sách phát triển
VKTTĐ nói chung và những cơ chế vận dụng cho từng VKTTĐ đến năm 2015; những
kiến nghị và giải pháp nhằm thực hiện những đề xuất đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính
sách cho các VKTTĐ và cho từng vùng cụ thể.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện được yêu cầu đặt ra, trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận của
đề tài như sau:
4.1. Phương pháp tiếp cận thực tế thông qua điều tra khảo sát.
Để phục vụ nhu cầu thông tin cho việc đánh giá thực trạng và tác động của các
chính sách đến sự phát triển của vùng KTTĐ, ngoài những thông tin thứ cấp có thể thu
thập từ nhi
ều nguồn khác nhau, nhóm đề tài đặt trọng tâm vào việc thu thập các thông tin
sơ cấp, coi đây là nguồn thông tin quan trọng và đáng tin cậy cho việc tiến hành nghiên
cứu. Những thông tin này được thu thập thông qua khảo sát, điều tra thực tế tại địa bàn,
kết hợp với việc tổ chức các cuộc hội thảo lấy ý kiến chuyên gia về các chuyên đề nghiên
cứu chuyên sâu.
xiii
Việc điều tra khảo sát nhằm mục đích tiếp cận tốt hơn và sát thực hơn với tình
hình thực tế phát triển kinh tế tại các địa phương. Quá trình khảo sát sẽ được thực hiện
đồng thời bằng nhiều phương pháp như điều tra trực tiếp, lấy ý kiến chuyên gia và những
người ra quyết định tại địa phương, tổ chức thảo luận nhóm và t
ổ chức hội thảo tại chỗ.
Hoạt động điều tra khảo sát này sẽ được tiến hành tại các địa phương thuộc cả ba vùng
hiệu quả nhất.
4.3. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu hệ thống và xu thế động.
(1) Đặt sự vận động của các vùng KTTĐ trong hệ thống nền kinh tế quốc dân. Từ
đó nghiên cứu các chính sách một mặt nhằm tạo ra sự phát triển đột phá từ các vùng này,
mặt khác các chính sách cũng phải hướng tới yêu cầu nhằm phát huy tác động lan toả của
xiv
các vùng trọng điểm với các vùng khác trên lãnh thổ quốc gia và tạo dựng mối liên kết
kinh tế giữa các vùng với nhau.
(2) Đặt sự phát triển các vùng kinh tế dưới tác động tổng hợp của nhiều nhân tố,
trong đó cơ chế, chính sách là yếu tố tác động mang tính chủ quan về phía các nhà hoạch
định, các nhà lãnh đạo quản lý. Cơ sở của những quyết định này phải được hình thành từ
những yếu tố
khách quan mang tính chất thị trường và những phát sinh nội lực của các
vùng kinh tế.
(3) Hệ thống cơ chế chính sách đặt ra ở đây vừa là những chính sách chung của
nhà nước Trung ương áp dụng cho các vùng KTTĐ, vừa là cơ chế vận dụng chính sách
ấy đối với từng vùng khác biệt. Vì vậy, cách tiếp cận tổng hợp đòi hỏi có sự tham gia
tích cực của các bên quan tâm sẽ là cần thiết để làm rõ tác động của chính sách
đến phát
triển bền vững các vùng KTTĐ.
4.4. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu định lượng.
Một kỳ vọng đặt ra cho nghiên cứu này là phân tích định lượng cho các nội dung:
(1) Tác động của một số chính sách điều tiết vĩ mô đến quá trình thu hút vốn đầu
tư, đến tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khả năng thu hút lao động vào
các vùng KTTĐ;
(2) Tác động lan toả (tràn) củ
a sự phát triển của vùng KTTĐ đến các vùng khác
trên lãnh thổ quốc gia hoặc các vùng, địa phương lân cận;
(3) Đưa ra hệ thống chỉ tiêu thể hiện sự phát triển bền vững các vùng KTTĐ, bao
2015.
4. Kết cấu đề tài: Những nội dung cơ bản của đề tài được kết cấu theo ba phần chính
ngoài mở đầu và kết luận như sau:
- Phần I: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về cơ chế chính sách phát triển bền
vững vùng kinh tế trọng điểm.
- Phần II: Thực trạng cơ
chế chính sách và tác động đến phát triển bền vững các
vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam thời gian qua.
- Phần III: Hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm mục tiêu phát triển bền vững các
vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam đến 2015. 1
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
1.1. SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
1.1.1. Khái luận chung về vùng kinh tế trọng điểm
Một trong những nội dung mang tính nguyên tắc đựơc chi phối từ lâu trong phân
vùng kinh tế trên thế giới là hình thành “khu vực nhân” trong mỗi vùng kinh tế hoặc mỗi
quốc gia. Khái niệm về “khu vực nhân, hay hạt nhân” dùng để chỉ những khu vực đóng
vai trò là động lực, có ý nghĩa đầu tầu, lôi kéo sự phát triển chung cho cả nướ
c hay cho
từng vùng kinh tế. Mỗi quốc gia, hay mỗi vùng đều tồn tại khu nhân hay lãnh thổ động
lực Ngay từ buổi bình minh của Cách mạng công nghiệp, cùng với sự ra đời của các
“Công trường thủ công”, các lãnh thổ công nghiệp tập trung cũng đã dần hình thành và
phát triển ở nước Anh. Tiếp đó, với các KCN tập trung nối tiếp nhau ra đời, nước Anh đã
trở thành cường quốc tư bản chủ nghĩa lớ
n nhất với lực lượng công nghiệp hùng mạnh.
ngân hàng, lao
động kỹ thuật…), có được sự quan tâm của các nhà đầu tư, và trong
tương lai với sự hấp dẫn như thế, nó trở thành động lực lôi kéo sự phát triển của các vùng
khác, có vai trò to lớn trong việc quyết định tăng trưởng, hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp
thu công nghệ và kinh nghiệm quản trị tiên tiến của nước ngoài. Ý kiến nêu trên về cơ
bản phản ánh đựợc bức tranh của vùng kinh tế
trọng điểm. Tuy vậy, trên thực tế, nhiều
vùng động lực trên thế giới cũng như Việt Nam có thể được hình thành không phải từ
những vùng có lịch sử phát triển lâu dài mà là những vùng mới xuất hiện với những dấu
hiệu về lợi thế cạnh tranh; hay nhiều vùng kinh tế trọng điểm khi thành lập không phải là
đã có sự tập trung các tiềm lực kinh tế cao là mới chỉ
là có những dấu hiệu lợi thế để từ
đó thu hút nguồn lực để trở thành vùng tập trung kinh tế cao. Vì vậy theo quan niệm của
nhóm nghiên cứu, vùng kinh tế trọng điểm là vùng hội tụ đầy đủ nhất các điều kiện phát
triển, có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh, làm đầu tầu tăng trưởng nhanh để đẩy mạnh
quá trình phát triển cho chính mình, và tiến tới đóng
được vai trò chi phối quyết định đối
với nền kinh tế cả nước. Lãnh thổ được coi là VKTTĐ phải thỏa mãn các yếu tố sau:
(1) Hội tụ các điều kiện thuận lợi tập tung tiềm lực kinh tế, có vị trí thuận lợi
trong quá trình thực hiện liên kết, gần và có điều kiện phát triển thị trường và hội nhập,
có vị thế hập dẫn các nhà đầu t
ư, để tạo khả năng thực hiện vai trò đầu tầu tăng trưởng và
phát triển nhanh trong nội bộ vùng.
(2) Có khả năng chiếm tỷ trọng cao trong tổng GDP của quốc gia, nếu được đầu
tư thích đáng sẽ có khả năng tạo tốc độ phát triển nhanh cho cả nước.
(3) Có khả năng tạo tích lũy đầu tư để tái sản xuất mở rộng; đồng thờ
i có thể tạo
nguồn thu ngân sách lớn cho đất nước. Trên có sở đó vùng này không chỉ tự bảo đảm
nguồn tài chính cho mình mà có khả năng hỗ trợ cho các vùng khác.
(4) Có khả năng thu hút những ngành công nghiệp mới và các ngành dịch vụ then
những vùng có lợi thế này sẽ trở thành những vùng động lực tăng trưởng mạnh mẽ, nó
không chỉ có khả năng tạo sức bật cho chính nó mà còn có khả năng lan tỏa sự phát triển
của mình sang các địa phương khác trong cả nướ
c. Theo ông, trong giai đoạn đầu của sự
phát triển, để tạo ra sự khởi sắc nhanh chóng cho nền kinh tế đất nước, cần khai thác triệt
để lợi thế cạnh tranh của các vùng này để phát triển.
Trong hai cuốn sách ''Lợi thế cạnh tranh'' năm 1985 và cuốn ''Lợi thế cạnh tranh
quốc gia” vào năm 1990, M. Porter đã đưa ra quan điểm của mình về lợi thế cạnh tranh.
Ông đã phê phán các học thuyết cổ
điển trước đây cho rằng lợi thế cạnh tranh của các
doanh nghiệp trên thương trường cạnh tranh quốc tế là chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối của
Adam Smith hay chỉ có lợi thế so sánh của David Ricardo. Theo ông, khả năng cạnh
tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động
của ngành của quốc gia đó. Khi thế giới cạnh tranh mang tính chấ
t toàn cầu hóa thì nền
tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên
ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh
lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế. Khi nền tảng của cạnh tranh
càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức mới thì vai trò của quốc gia càng tăng lên.
Lợi thế cạnh tranh quố
c gia được tạo ra và thông qua quá trình địa phương hóa cao độ.
Sự khác biệt về giá trị quốc gia, văn hóa, cấu trúc kinh tế, thiết chế và lịch sử, tạo nên ưu
thế quyết định sự thành công trong cạnh tranh. Các quốc gia thành công ở một số ngành
trên thị trường toàn cầu vì môi trường trong nước của họ năng động, đi tiên phong và
nhiều sức ép nhất. Các công ty của họ thu được lợi thế so với các đối th
ủ quốc tế nhờ 4
việc có các đối thủ mạnh trong nước, nhờ có các nhà cung cấp có khả năng trong nước,
(ii) Khi kinh tế phát triển và sản phẩm được mở rộng sang lĩnh vực công nghiệp
và dịch vụ, thì một số vùng trở nên hấp dẫn hơn đối với các doanh nghiệp và người lao
động do có những lợi thế so sánh. Những lợi thế so sánh có thể bao gồm: lợi thế do ưu
đãi tự nhiên và địa lý, ví dụ như vị trí ven biển, ven sông; có nhiều tài nguyên thiên nhiên
ưu đãi; có thể do điều kiện về lịch sử, xã hội như lao động, ngành truyền thống; có thể do
hệ thống sơ sở hạ tầng để lại từ xa xưa;… Các yếu tố đó đã mang lại thu
ận lợi cho các
vùng này trong các vấn đề về hội nhập thị trường, thu hút lao động, vốn và khả năng mở
rộng giao lưu thương mại trong nước và quốc tế.
(iii) Chúng ta cần nằm bắt được các dấu hiệu lợi thế so sánh này, kết hợp với việc
chính phủ đưa ra các chính sách định hướng cũng như trợ giúp sẽ thúc đẩy quá trình thu
hút đầu tư, nguồn nhân lực, để tạo d
ựng và duy trì lợi thế cạnh tranh của vùng, hình
thành những vùng động lực, đóng vai trò dẫn đầu để tận dụng tính hiệu quả nhờ tích tụ 5
trở thành các trung tâm tăng trưởng và sáng tạo để có cơ hội dẫn dắt sự phát triển của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong tương lai dài.
1.1.2.2. Các lý thuyết về sự phát triển các lãnh thổ trọng điểm
Từ thế kỷ 19, Johann - Heinrich Von Thunen trong lý thuyết phát triển các vành
đai nông nghiệp (1833) đã coi các thành phố, các cảng biển, các đầu mối giao thông lớn
là những nút, những trọng điểm của lãnh thổ có s
ức hút và sức lan tỏa ra xung quanh.
Cách phân tích và lý luận để dẫn tới lý thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp dưới
ảnh hưởng của các thành phố (trung tâm thị trường) có ích rất nhiều cho những nghiên
cứu liên quan đến các trọng điểm của lãnh thổ.
Trong lý thuyết định vị công nghiệp (1909), nhà kinh tế học A. Weber đã đề cập
những ưu điểm và hạn chế của việc tập trung các doanh nghiệp tạ
i một địa điểm mà
6
Richardson tiếp tục nghiên cứu và phát triển. Lý thuyết này chú trọng vào những lãnh thổ
làm phát sinh sự tăng trưởng kinh tế. Theo lý thuyết này, sự phát triển kinh tế của một
lãnh thổ không phải là tiến hành một cách cân đối/ đồng đều theo một tốc độ như nhau
trên tất cả các vùng. Trong mỗi thời kỳ khác nhau, có vùng có mức tăng trưởng cao hơn
nhờ vào sự phát triển của các ngành chủ đạo/ mũi nhọn (leading industry) với năng l
ực
đổi mới và khả năng mang lại lợi nhuận cao. Các ngành chủ đạo/ mũi nhọn này thường
tập trung tại một số thành phố lớn và được ưu tiên phát triển, trở thành “cực tăng
trưởng”. Cực tăng trưởng thường lại là các trung tâm sản xuất, trung tâm thương mại,
trung tâm tài chính, trung tâm thông tin, trung tâm giao thông hay các trung tâm dịch vụ
quan trọng có tính chất quyết định đối với lãnh thổ. Tập trung hoá về lãnh thổ đạ
t tới một
mức nhất định và sau đó hiệu ứng lan toả sẽ làm cho các cơ hội phát triển mới bắt đầu
xuất hiện ở nhiều địa phương khác. Kết quả là sự phát triển của một cực như là một lãnh
thổ trọng điểm sẽ có tác dụng như những “đầu tàu” lôi kéo theo sự phát triển của các
vùng lãnh thổ khác, tạo điều kiện cho n
ền kinh tế cả nước phát triển nhanh và mạnh hơn.
Tác động của cực được xác định bởi cả hiệu ứng thu hút hay hiệu ứng phân cực và
hiệu ứng lan toả. Hiệu ứng phân cực (hay tập trung hoá) là những tác động tiêu cực của
tăng trưởng tại điểm cực tới các vùng trong phạm vi ảnh hưởng của nó, thể hiện ở sự gia
tăng khoảng cách chênh lệ
ch GDP bình quân đầu người giữa các vùng và những ảnh
hưởng xấu tới sự tăng trưởng, phát triển các vùng xung quanh do sự thu hút các nguồn
lực vào vùng cực. Hiệu ứng lan toả được đề cập như là những tác động tích cực của sự
tăng trưởng tại điểm cực tới tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người và cơ cấu
kinh tế của các vùng lãnh thổ xung quanh nó.
1.1.2.3 Quan điể
m địa kinh tế mới
trọng đến sự hội nhập và liên kết kinh tế. Sự thành công của các nước này đã củng cố
cho một quan điểm về địa kinh tế mới có giá trị rất quan trọng trong tổ chức không gian,
phân vùng kinh tế và thực hiện mục tiêu phát triển của nhiều nước trên thế giới hiện nay.
Quan điểm địa kinh tế mới đó là: “Phát tri
ển kinh tế cần phải tập trung (mất cân đối);
còn xã hội thì tiến đến hội tụ (phát triển đồng đều)”. Theo quan điểm này, một quốc gia
thành công trong phát triển cần phải theo đuổi các chính sách nhằm bảo đảm một mức
sống tương đối đồng đều giữa các vùng trong nước nhưng không phải thực hiện bằng
cách tạo sự tăng trưởng kinh tế mạnh thông suốt theo không gian, mà ph
ải theo phương
châm: Sản xuất kinh tế phải tập trung còn mức sống thì hội tụ. Một số vấn đề nhóm
nghiên cứu nhấn mạnh từ quan điểm địa kinh tế mới có liên quan đến vấn đề phát triển
vùng trọng điểm như sau:
(1) Muốn toàn bộ quốc gia trở nên phồn thịnh thì nhất quyết phải có một số vùng
giầu lên trước những vùng khác. Khi nền kinh t
ế chuyển từ nông nghiệp sang công
nghiệp, sự phân bố sản xuất và dân số theo không gian gắn kết chặt chẽ với nhau hơn.
Trong phạm vi một nước, sự tích tụ và liên kết kinh tế của các vùng có lợi thế đã làm cho
các vùng này trở thành vùng động lực tăng trưởng nhanh, dẫn đầu có nhiều hoạt động
kinh tế. Sự tiến bộ về công nghệ và toàn cầu hóa làm gia tăng tiềm năng thị trườ
ng của
những vùng dẫn đầu (vùng động lực) ở các nước đang phát triển tăng cường tính tập
trung, phát huy hiệu quả của các lợi thế cạnh tranh và nâng cao tính đậm đặc trong mật
độ kinh tế. Đây chính là khía cạnh ủng hộ cho quan điểm cần phải có các vùng kinh tế
trọng điểm ở các nước đang phát triển theo nghĩa tạo động lực cho tăng trưởng nhanh,
tích tụ các yếu t
ố vật chất cho quá trình thực hiện phát triển kinh tế chung của cả nước.
(2) Chênh lệch về mức sống theo không gian sẽ đi theo hình chữ” U ngược”, tức
là mở rộng ở giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, tiếp tục duy trì mức cao trong thời
gian dài trước khi dần dần hội tụ với nhau. Khi một nước công nghiệp hóa, nó cần phải
1.1.3.1. Mục tiêu CNH, HĐH đất nước và yêu cầ
u chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CNH, HĐH là tất yếu khách quan đối với các nước có nền kinh tế còn kém phát
triển như Việt Nam. Mục tiêu CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có CCKT hợp lý. CNH, HĐH cũng là quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh sự thay đổi về
chất của nền kinh tế, là quá trình làm biến đổi nền kinh tế từ chỗ có cơ cấu chủ yếu là
nông nghiệp lạc hậu sang cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp và dịch vụ hiện đại,
làm tăng tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế gắn với những đổi
mới căn bản về công nghệ, tạo nền tả
ng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền
vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH chính là sự thay đổi cơ cấu
kinh tế từ tình trạng lạc hậu, mất cân đối, kém hiệu quả sang một cơ cấu hợp lý, đa dạng,
cân đối, năng động và có hiệu quả cao, gắn với từng bước trưởng thành c
ủa cơ sở vật
chất - kỹ thuật do CNH, HĐH tạo ra. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chúng
ta không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà còn làm thay đổi cơ cấu trong từng
ngành, từng lĩnh vực, từng vùng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghệ
tiến bộ, không chỉ tuần tự qua các bước cơ giới hoá, tự động hoá mà còn kết hợp đồng 9
thời với các thành tựu trên nhiều lĩnh vực, và có những mũi nhọn phát triển đi tắt, đón
đầu, không chỉ áp dụng công nghệ tiên tiến mà còn tận dụng và hiện đại hoá các công
nghệ truyền thống.
Xét từ giác độ lãnh thổ, mục tiêu CNH, HĐH đòi hỏi các vùng có tiềm năng, lợi
thế phải nhanh chóng trở thành những lãnh thổ trọng điểm, động lực, có hệ thống KCHT
hiện
đại, chức năng đa dạng, dịch vụ chất lượng cao để đáp ứng cho sự phát triển của các
thấp nhất chi phí sản xuất, phối hợp hài hoà với các bộ phận khác trong ngành và ngoài
ngành nằm ở các vùng khác. 10
Các mục tiêu của cả nước: CCKTLT hợp lý phải thể hiện đúng chiến lược phát
triển quốc gia cả trong kinh tế, xã hội, môi trường cũng như vấn đề an ninh quốc phòng.
Với những yêu cầu và mục tiêu nêu trên, rõ ràng, CCKTLT hợp lý không thể chỉ
là quan hệ tỷ lệ của các bộ phận cấu thành CCKTLT đó, mà điều quan trọng hơn, cốt lõi
hơn là phải đề cập đến "ki
ểu bố trí" nền kinh tế xã hội theo lãnh thổ. Những yêu cầu và
mục tiêu về tính hiệu quả và chất lượng của phát triển đòi hỏi sự phát triển cần được tập
trung vào một số lãnh thổ trọng điểm; trong khi đó yêu cầu và mục tiêu ổn định và phát
triển bền vững của nền kinh tế quốc gia lại đòi hỏi phải quan tâm phát triển toàn diện các
vùng lãnh thổ củ
a đất nước. Vì vậy, để hình thành CCKTLT hợp lý, các quốc gia luôn
phải phát hiện ra và có giải pháp thúc đẩy sự phát triển của các lãnh thổ hay địa bàn có
vai trò động lực để thúc đẩy, lôi kéo sự phát triển chung của nền kinh tế; đồng thời cũng
phải tìm ra các vùng còn chậm phát triển hay trong tình trạng trì trệ, suy thoái để có giải
pháp thích hợp hỗ trợ cho các vùng này phát triển. "Kiểu bố trí" phát triển có trọng điểm
theo lãnh thổ kết hợp vớ
i phát triển toàn diện như vậy có một ý nghĩa rất quan trọng, đặc
biệt là đối với các quốc gia trong nền kinh tế chuyển đổi với điểm xuất phát thấp, nguồn
vốn hạn hẹp, các nguồn lực hạn chế như Việt Nam.
1.1.3.2. Sự khác biệt theo lãnh thổ về các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
của Việt Nam
Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là khung cảnh và là
điều kiện cần
thiết (chứ không phải quyết định) đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của bất cứ quốc
gia/ vùng lãnh thổ nào. Đặc biệt, đối với một quốc gia đang ở giai đoạn đầu của quá trình