CHUYÊN ĐỀ DẠY học NGỮ văn VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực NGƯỜI học - Pdf 54

DẠY HỌC NGỮ VĂN VIỆT NAM
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC
(NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI:
VĂN BẢN NGHỊ LUẬN, VĂN BẢN TRUYỆN, VĂN BẢN THƠ )


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN
BẢN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC....3
1.1. Về khái niệm đọc hiểu văn bản và dạy học đọc hiểu văn bản......................3
1.2. Mô tả các thành tố của năng lực đọc hiểu văn bản.......................................3
1.3. Những yêu cầu cần đạt của việc dạy học đọc hiểu văn bản theo định hướng
phát triển năng lực...............................................................................................6
1.3.1. Những yêu cầu chung................................................................................6
1.3.2. Yêu cầu cụ thể đối với từng khối lớp........................................................7
Chương 2. SƠ LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI PHÁP HỌC VÀ VẤN ĐỀ
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN Ở THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC.................................................................11
2.1. Sơ lược về khái niệm thi pháp và thi pháp học............................................11
2.2. Vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản ở THCS theo định hướng phát triển năng
lực người học.......................................................................................................11
2.3. Khái lược về thi pháp của một số khuynh hướng và trào lưu văn học ........12
2.3.1. Đặc điểm cơ bản về thi pháp của văn chương trung đại Việt Nam ..........12
2.3.2. Đặc điểm cơ bản về thi pháp của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt..
Nam..................................................................................................................... 13
2.3.3. Đặc điểm cơ bản về thi pháp của khuynh hướng văn học hiện thực phê
phán Việt Nam ....................................................................................................15
Chương 3. DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ, VĂN BẢN TRUYỆN,
VĂN BẢN NGHỊ LUẬN Ở THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

thẩm định được cái hay, cái đẹp và ý nghĩa, giá trị của các văn bản chưa được
học. Nghĩa là, chưa chú trọng đến hình thành và phát triển năng lực đọc độc lập một năng lực mang tính công cụ rất quan trọng để mỗi người có thể tự học suốt đời.
Trong khi đó, không thể có một phương pháp nào có thể chỉ dẫn đúng đắn và hiệu
quả việc đọc hiểu từng văn bản cụ thể, mà chỉ có chìa khóa để giúp con người
biết cách giải mã các loại hình văn bản cụ thể. Như vậy, nếu có một chiến lược dạy
học đọc hiểu văn bản đúng đắn, hiện đại (cung cấp cho HS cách học, phương pháp,
chìa khoá học tập), thì học sinh ở bậc THCS hoàn toàn có khả năng tiếp nhận độc
lập, chủ động, sáng tạo văn bản theo đúng đặc trưng thể loại. Từ chỗ nắm được
phương pháp, kĩ năng đọc hiểu văn bản thuộc mỗi thể loại văn học, học sinh sẽ có
khả năng phân tích, lý giải và bình giá đúng đắn một tác phẩm thuộc cùng thể loại
chưa hề được học trong chương trình. Đây là yêu cầu và là mục tiêu dạy học có ý nghĩa
quan trọng trong việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học. Về vấn đề này,
tác giả Phan Trọng Luận đã từng khẳng định: “Một trong những con đường đi vào tác
phẩm văn chương là nhận diện được thể loại. Đến với thơ không giống với tự sự
hay kịch. Đến với văn học dân gian không hoàn toàn giống như đến với văn học
viết. Văn học trung đại và hiện đại có những đặc trưng thủ pháp nghiên cứu riêng.
Với văn học dịch cũng cần có cách tiếp cận riêng.” [13, tr 124]. Như vậy, dạy học
đọc hiểu văn bản chú ý vào đặc trưng thể loại là cách dạy học đọc hiểu có ý nghĩa
quan trọng, giúp học sinh tự mình vận dụng kiến thức và kĩ năng đã được học ở nhà
trường để tự học suốt đời. Theo đó, trong tinh thần đổi mới căn bản và toàn diện nội
dung, chương trình, Dự thảo chương trình Ngữ văn mới (dự thảo tháng 1 năm 2018) đã
xác định mục tiêu cần đạt về năng lực đọc ở cấp THCS là “Về kĩ năng đọc, chương
trình tiếp tục phát triển yêu cầu đọc đúng, đọc diễn cảm, đọc hiểu có cơ sở lí tính
nhiều hơn so với tiểu học, dựa trên kiến thức đầy đủ hơn và sâu hơn về văn học,
giao tiếp và tiếng Việt, cùng với những trải nghiệm và khả năng suy luận của bản
thân. Yêu cầu chung về đọc đối với cấp trung học cơ sở là hiểu các nội dung tường
minh và/hoặc hàm ẩn của các kiểu loại văn bản (văn bản văn học, văn bản nghị
luận và văn bản thông tin), bước đầu biết phân tích và đánh giá nội dung, ý nghĩa
của các kiểu loại văn bản đó; nhận biết, phân tích, đánh giá được những đặc điểm
nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản; biết cách liên hệ, mở rộng, so sánh văn

thái độ của người viết và cả các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật” [20, tr
265].
Các tác giả Hoàng Hòa Bình và Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn Phương
pháp dạy học Tiếng Việt nhìn từ tiểu học quan niệm đọc hiểu là một p h ư ơ n g
p h á p d ạ y h ọ c đ ối lập với giảng văn: “Dạy học theo phương pháp đọc hiểu
là tổ chức cho học sinh giải mã văn bản đọc bằng con đường ngược lại với hoạt
động tạo lập văn bản của tác giả, tức là đi từ hình thức diễn đạt đến nội dung và giá
trị của văn bản” [4, tr.198].
Cho đến nay, có khá nhiều quan niệm về dạy học đọc hiểu, chúng tôi lựa
chọn quan niệm về đọc hiểu của Chương trình đánh giá học sinh quốc tế
(Programme for International Student Assessment, viết tắt là PISA) do Hiệp hội
các nước phát triển (OECD) khởi xướng và chỉ đạo: “Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử
dụng và phản hồi lại trước một văn bản viết, nhằm đạt được mục đích, phát triển
tri thức và tiềm năng cũng như việc tham gia hoạt động của một ai đó trong xã
hội.” Trong định nghĩa này, khái niệm biết đọc như là sự giải mã và thấu hiểu tư
liệu, bao hàm cả việc hiểu, sử dụng và phản hồi về những thông tin với nhiều mục
đích khác nhau.
1.2. Mô tả các thành tố của năng lực đọc hiểu văn bản
Theo nhiều nhà nhiên cứu giáo dục, mục tiêu của chương trình giáo dục phổ
thông của các nước đều rất quan tâm đếm việc hình thành và phát triển các năng
lực cốt lõi cho người học, và một trong những năng lực cốt lõi đó chính là năng
lực đọc hiểu – một năng lực thành phần của năng lực giao tiếp. Theo đó, đọc hiểu
được xem là một năng lực công cụ, cốt lõi của một công dân có nền tảng giáo dục
tốt, giúp mỗi người tự học suốt đời. Mục tiêu dạy học Tiếng Việt và Ngữ văn trong
nhà trường không thể không đặt ra vấn đề đọc hiểu và phương pháp dạy đọc hiểu
cho học sinh với các mức độ và yêu cầu khác nhau. Nhiệm vụ của đọc hiểu văn
bản là vừa hình thành vừa phát triển năng lực đọc hiểu để học sinh có được
một công cụ thiết yếu, phục vụ tốt cuộc sống, công tác và học tập suốt đời. Đọc –
hiểu được xem là một hoạt động nhận thức, và đối tượng của đọc hiểu là giá trị
thẩm mỹ của tác phẩm, bởi lẽ trong quá trình đọc hiểu, người đọc sẽ kiến tạo ý

dòng thơ, khổ thơ, màn kịch... trong các văn bản thuộc các thể loại cơ bản trong nhà
trường như truyện, thơ, kịch, kí,... Phân tích, đánh giá sự phù hợp của thể loại được
lựa chọn đối với mục đích và đối tượng tiếp nhận của văn bản.
Từ những yêu cầu cần đạt trên đây, có thể thấy, dự thảo chương trình Ngữ văn đã
chú trọng đến đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại.
Về dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực, các thành tố năng lực sau
đây được chú ý:
Thành tố

Mô tả

Nhận biết các Chỉ ra những thông tin có liên quan và được thể hiện trong văn
thông tin từ văn bản: tác giả, hoàn cảnh sáng tác, từ ngữ, chi tiết, nhân vật, qua đó
bản
nhận biết về đối tượng và nội dung chính được đề cập trong văn
bản.
Phân tích, kết Kết nối các thông tin từ những từ ngữ, bối cảnh trong văn bản để
nối các thông xác định các ý tưởng cơ bản của văn bản, khái quát về các giá trị
tin
nội dung và nghệ thuật của văn bản.
Phản hồi, đánh Kết nối các mối liên hệ trong và ngoài văn bản để nhận xét về các
4


giá văn bản

giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản, ý tưởng sáng tác của tác
giả, các thông điệp được tác giả gửi gắm

Vận dụng thôn Sử dụng thông tin của văn bản, thông tin từ các nguồn khác và

Vận dụng thông Vận dụng thông tin của văn bản trong việc giải quyết các vấn đề
tin từ văn bản của cuộc sống.
vào thực tiễn
Biết khái quát hóa quá trình đọc hiểu thành cách thức, phương
pháp để đọc hiểu các văn bản tương tự hoặc thuộc các nội dung,
vấn đề khác.
Rút ra ý nghĩa tư tưởng, các giá trị sống của cá nhân từ văn bản.
Dựa vào bảng mô tả các thành tố năng lực và các chỉ số hành vi của các thành tố
của năng lực đọc hiểu, có thể thấy:
Chương trình nhấn mạnh đến việc hình thành các kĩ năng ngôn ngữ của
người học, nhất là cách đọc để từ đó tạo lập văn bản. Nghĩa là coi trọng khả năng
vận dụng hơn là việc nắm bắt lí thuyết như trước đây.
Xác định yêu cầu đọc và đọc hiểu (Thế nào là hiểu một văn bản, thế nào là
đọc hiểu một văn bản?)
5


Xác định các kiểu loại văn bản cần dạy học đọc hiểu cho học sinh là những
loại nào? Văn bản đa phương thức là những văn bản nào, đọc bằng cách nào, khác
với những loại văn bản khác như thế nào?
Phải hình thành cách đọc/chiến lược đọc: đọc như thế nào/bằng cách nào?
Qui trình đọc? Chú trọng dạy đọc hiểu theo hướng hình thành năng lực đọc hiểu
kiểu loại văn bản theo đặc trưng thể loại.
Phải xác định đọc văn bản văn học khác gì so với đọc văn bản nghị luận, văn
bản thông tin, văn bản đa phương thức.
-

Dạy ít văn bản nhưng phải dạy sâu, dạy kĩ.

-

- Đọc diễn cảm tác phẩm: Vì đọc diễn cảm tác phẩm sẽ giúp học sinh hiểu văn bản
tốt hơn, cảm nhận được nhạc điệu của ngôn từ, tăng hứng thú và cảm xúc, góp phần
phát triển năng lực thẩm mĩ và năng lực ngôn ngữ cho học sinh.
- Đọc hiểu: Có thể cho học sinh thực hiện một số hoạt động trước, trong và sau khi
học văn bản: viết nhật ký đọc sách, viết lại đoạn cuối câu chuyện, vẽ tranh, đóng
6


kịch, đóng vai tác giả,... Qua đó, học sinh được khám phá, thử nghiệm và phát triển
năng lực nhận thức, năng lực tưởng tượng, sáng tạo, thể nghiệm cách trình bày ý
tưởng của bản thân bằng nhiều hình thức, đồng thời cảm nhận sâu sắc hơn tác phẩm
văn học và có thêm nhiều trải nghiệm về cuộc sống.
- Tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận về văn bản, khuyến khích học sinh nhận
xét, phát biểu cảm nghĩ và nói về ý nghĩa của tác phẩm đối với bản thân. Cho học
sinh đặt mình vào hoàn cảnh của nhân vật để trải nghiệm những cách hành xử khác
nhau. Qua những hoạt động này, học sinh sẽ trưởng thành hơn trong tình cảm và
nhận thức, có bản lĩnh, nghị lực và khả năng đối mặt với những tình huống phức tạp
của cuộc sống. Đồng thời, giáo viên có thể biết được cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ,
nhu cầu và sự phát triển nhân cách của từng học sinh.
- Cho học sinh cơ hội đánh giá cách viết của tác giả, hiệu quả của việc sử dụng các
biện pháp nghệ thuật. Giáo viên cần tôn trọng tính cách và cá tính sáng tạo của mỗi
học sinh, khích lệ những suy nghĩ độc đáo, mới lạ và tích cực, những ý kiến tranh
luận, phản biện có lí lẽ.
- Hình thành thói quen tự đọc tác phẩm, khuyến khích học sinh đọc mở rộng bằng
cách gợi ý một số tác phẩm cùng chủ đề, đề tài, cùng tác giả,…
- Sau khi đến tay người đọc, văn bản mới trở thành tác phẩm. Nghĩa của văn
bản là do bạn đọc cung cấp, cho nên trong dạy học Ngữ văn theo định hướng năng
lực, phải trả văn bản về với bạn đọc. Mà bạn đọc ở đây là học sinh. Vì thế trong
rèn luyện cần tôn trọng và ưu tiên những bài tậpyêu cầu học sinh phát biểu ý
kiến của cá nhân. Do đó, trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản, người dạy phải

thơ, vần, nhịp, hình ảnh, biện pháp tu từ. Phân tích được tác dụng của một số yếu tố:
hình ảnh, biện pháp tu từ.
b.6. Nhận biết và nêu được tác dụng của các yếu tố tự sự và miêu tả trong thơ.
b.7. Nhận biết và phân tích được một số đặc điểm cơ bản của kí tự sự.
c.1. Nhận biết được những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai nhân vật trong
hai văn bản văn học.
c.2. Nhận biết được những điểm giống nhau và khác nhau về cuộc sống, ước mơ,
niềm vui hay nỗi lo lắng của các nhân vật trong văn bản văn học và của bản thân.
c.3. Nêu được bài học về cách nghĩ và cách ứng xử của cá nhân do văn bản văn học
đã đọc gợi ra.
d. Đọc mở rộng văn bản văn học với dung lượng khoảng 400 trang/năm, mỗi trang
khoảng 340 chữ; bao gồm cả một số văn bản được hướng dẫn đọc trên mạng.
1.3.2.2. Đối với học sinh lớp 7
Kết thúc mỗi năm học, học sinh lớp 7 cần đạt các yêu cầu sau:
a.1. Nhận biết được các chi tiết tiêu biểu và nội dung của văn bản được thể hiện
tường minh hoặc hàm ẩn, chỉ ra được mối liên hệ giữa các chi tiết và vai trò của
chúng trong việc thể hiện chủ đề.
a.2. Tóm tắt được văn bản; biết tóm tắt các phân đoạn và nêu ý chính của mỗi phân
đoạn một cách ngắn gọn.
a.3. Xác định được đề tài, chủ đề của văn bản và biết nhận xét về đề tài, chủ đề đó.
Nhận xét được thái độ, tình cảm của tác giả thể hiện qua văn bản.
b.1. Nhận biết và phân tích được một số đặc điểm cơ bản của tục ngữ và truyện cổ
dân gian (truyện ngụ ngôn, truyện cười).
b.2. Nhận biết và phân tích được một số đặc điểm cơ bản của truyện lịch sử.
b.3. Nhận biết được sự khác biệt giữa truyện cổ dân gian và truyện trong văn học
viết (tác giả, hoàn cảnh ra đời, cốt truyện (mở đầu – kết thúc) và nhân vật).
b.4. Nhận biết được tính cách nhân vật thể hiện qua cử chỉ, hành động, ngôn ngữ
của các nhân vật khác trong truyện; qua ngôn ngữ của người kể chuyện.
b.5. Nhận biết và phân tích được ảnh hưởng của bối cảnh đến nhân vật và diễn tiến
của cốt truyện.

b.2. Nhận biết và phân tích được xung đột, cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa
tuyến.
b.3. Nhận biết được phương ngữ trong ngôn ngữ kể chuyện và/hoặc ngôn ngữ đối
thoại; phân tích được tác dụng của việc dùng phương ngữ như vậy.
b.4. Nhận biết và phân tích được đặc điểm cơ bản của thơ trào phúng.
b.5. Nhận biết và phân tích được đặc điểm cơ bản của thể thơ song thất lục bát.
b.6. Nhận biết và phân tích được nét độc đáo của bài thơ thể hiện qua kết cấu,
hình ảnh, vần, nhịp, từ ngữ, các biện pháp tu từ, mạch cảm xúc trữ tình.
b.7. Biết nhận xét về sự phản ánh cuộc sống, cách nhìn nhận cái đẹp của tác giả
trong văn bản văn học; từ đó biết nêu ý kiến của cá nhân về cách nhìn nhận các vấn
đề đời sống.
b.8. Hiểu được tác phẩm văn học có thể làm thay đổi cách nhìn, cách nghĩ, tình
cảm, cảm xúc và cách sống của cá nhân người đọc.
d. Đọc mở rộng văn bản văn học với dung lượng khoảng 700 trang/năm, mỗi trang
khoảng 340 chữ; bao gồm cả một số văn bản được hướng dẫn đọc trên mạng.
9


1.3.2.4. Đối với học sinh lớp 9
Kết thúc mỗi năm học, học lớp 9 cần đạt các yêu cầu sau:
a.1. Nhận biết được các chi tiết tiêu biểu, độc đáo và nội dung tường minh hoặc
hàm ẩn của văn bản; giải thích được mối liên hệ giữa các chi tiết, các thành phần
nội dung khác trong văn bản; biết phân tích vai trò của các chi tiết, thành phần ấy
trong việc thể hiện chủ đề.
a.2. Biết tiếp nhận, đánh giá nội dung với tư duy phê phán. Nhận xét được cách đặt
nhan đề của tác giả.
a.3. Xác định được cảm hứng chủ đạo và tư tưởng của tác phẩm.
a.4. Phân tích và đánh giá được chủ đề của văn bản.
b.1. Nhận biết và phân tích được đặc điểm cơ bản của truyện thơ (truyện Nôm).
b.2. Phân biệt xung đột, mâu thuẫn bên trong với xung đột, mâu thuẫn bên ngoài. Phân

hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm” (Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, tr 9)
- Thi pháp học:
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ văn học, “thi pháp học là khoa học nghiên
cứu thi pháp, tức là hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu đạt đời
sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học
là chia tác và hệ thống các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành
thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ
thuật.” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử (đồng chủ biên, 2006), Từ điển giải thích thuật
ngữ văn học, Nxb Giáo dục, tr 304)
Như vậy, Thi pháp học là khoa học nghiên cứu chủ yếu từ cấu trúc văn bản
ngôn từ của tác phẩm, vì vậy, văn bản tác phẩm là đối tượng nghiên cứu trung tâm,
trước tiên khi tiếp cận một tác phẩm văn học.
2.2. Vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản ở THCS theo định hướng phát triển năng
lực người học
Đọc văn là hoạt động tiếp nhận văn bản. Mỗi người đọc văn, học văn bằng
vốn sống, vốn văn hóa và thẩm mĩ riêng sẽ có được hình ảnh cụ thể về tác giả, tác
phẩm. Gắn liền với cá tính và được xác định bởi cá tính tiếp nhận, đó là đặc thù của
hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học, cũng là đặc thù của hoạt động đọc – hiểu. Và
dạy đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực người học là dạy kĩ năng - kĩ
năng đọc hiểu. Kĩ năng đọc “được hiểu theo nghĩa rộng với nhiều yêu cầu và
mức độ khác nhau, trong đó đọc hiểu (bao gồm cả đọc thẩm mĩ, giao tiếp văn
học, cảm thụ và thưởng thức) văn bản văn học được chú trọng”. (Dự thảo, tr 3).
Theo đó, kết thúc giai đoạn giáo dục cơ bản, học sinh có thể đọc, viết, nói và nghe
hiểu các kiểu loại văn bản phổ biến và thiết yếu, gồm văn bản văn học, văn bản
nghị luận và văn bản thông tin; (dự thảo, tr 3). Chủ trương của Dự thảo chương
trình Ngữ văn mới là xây dựng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển
năng lực người học, và môn Ngữ văn, với tư cách là một môn học công cụ, môn
Ngữ văn ở THCS còn phải hướng tới mục tiêu hình thành cho học sinh phương
pháp đọc – hiểu các kiểu, loại văn bản, nhất là các văn bản ở dạng thức sáng tạo
nghệ thuật cả trong và ngoài sách giáo khoa, nhưng bắt đầu từ SGK”. (Trần Đình

những khuynh hướng, trào lưu,… với những đặc điểm chung mà việc tìm hiểu
những đặc thù thi pháp chung sẽ giúp người đọc có cơ sở lí luận để khám phá, cảm
thụ văn bản – tác phẩm một cách sâu sắc và đúng đắn. Trong phạm vi tài liệu này,
chúng tôi chỉ giới thiệu giản lược những nét cơ bản về thi pháp của một số khuynh
hướng quen thuộc, làm cơ sở lí luận góp phần vào việc dạy học đọc hiểu văn bản
theo đặc trưng thi pháp thể loại và phương thức biệ đạt, để từ đó, hình thành và phát
triển năng lực đọc hiểu cho học sinh.
2.3.1. Đặc điểm cơ bản về thi pháp của văn chương trung đại Việt Nam
- Tính phi ngã
Thuật ngữ này bắt nguồn từ triết lí “vô ngã” của nhà Phật. Triết lí “vô ngã”
quan niệm con người làm ột tiểu vũ trụ nằm trong vũ trụ bất biến, vĩnh hằng, trong
mối tương quan “thiên, địa, nhân hợp nhất”, “vạn vật nhất thể”, và con người là một
bản thể tự nhiên như một sự vật, hòa với sự vật, tuân theo và chan hòa với tự nhiên.
Quan niệm này gạt bỏ cái “tiểu ngã” (cái tôi cá nhân) để trở về với cái bản thể tự
nhiên của cái đại ngã. Quan niệm này dã tạo nên phong thái ung dung tự tại, tiên
phong, đạo cốt, cái tình cảm chan hòa với vũ trụ và thiên nhiên trong thi ca trung đại.
Tính phi ngã trong văn học trung đại Việt Nam còn bắt nguồn từ một nền
kinh tế tiểu nông kéo dài cả ngàn năm, trong đó, con người phải dựa vào cộng đồng
để tồn tại. Mặt khác, từ xa xưa, dân tộc Việt Nam đã phải luôn đương đầu với nạn
12


ngoại xâm, vận mệnh của dân tộc luôn phải được đặt cao hơn vận mệnh cá nhân; lẽ
sống còn của đất nước, dân tộc là nhiệm vụ, lí tưởng cao cả. vì lẽ đó, văn học yêu
nước, thơ văn yêu nước, chống ngoại xâm chiếm một vị trí quan trọng trong văn
học trung đại Việt Nam.
Hơn thế nữa, chế độ phong kiến việt Nam tồn tại hàng ngàn năn, với những luật
lệ. trật tự, khuôn phép khắt khe, qui củ, với tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức
cùng hàng loạt phép tắc lễ nghi ràng buộc. tất cả những điều đó khiến cá nhân bị xóa
nhòa, không được coi trọng. Những nhu cầu bình thường, cái đời thường và những số

Khuynh hướng cảm hứng thẩm mỹ được khởi nguồn từ sự khẳng định cái tôi ý
thức cá nhân, cá thể, giải phóng về tình cảm, cảm xúc và trí tưởng tượng. Nó phản
ứng lại cái duy lý, khuôn mẫu của chủ nghĩa cổ điển.
13


Văn học lãng mạn chú trọng cảm xúc, ưu tiên cho trí tưởng tượng mộng mơ,
thoát li thực tại. Cảm xúc được giải phóng đến mức tối đa. Thế giới lãng mạn tràn
trề cảm xúc và tưởng tượng. văn học không chỉ viết về cái thực mà còn nói đến
những cái hư ảo của thế giới nội tâm tưởng tượng, cái giấc mộng.
Không chỉ vậy, việc kiến tạo hình tượng nghệ thuật, nhân vật trung tâm ở văn
học lãng mạn còn mang tính lý tưởng hóa đến mức hoàn thiện, tròn trịa. Ví dụ như
hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.
Hay ngay việc trảm đầu cũng được Nguyễn Tuân nâng lên tầm nghệ thuật một cách
hoàn thiện. Quả thật, văn học khuynh hướng lãng mạn luôn hướng tới sự hoàn hảo
chưa có, cần có.
- Hệ thống đề tài
Hệ thống đề tài của văn học lãng mạn chủ yếu xoáy quanh những chủ đề
như tình yêu, thiên nhiên và tôn giáo. Về chủ đề tình yêu, tình yêu trong văn học
lãng mạn được mỗi tác giả nhìn theo những hướng khác nhau. Một là tình yêu được
nhìn theo lối lý tưởng hóa, như một bản tình ca đẹp, tình yêu vượt lên trên tất cả
những cảm xúc phàm tục ở đời; Hai là tình yêu như những tấn bi kịch, lâm li bi đát
và đấy buồn đau (Đoạn Tuyệt_ Nhất Linh...). Tuy nhiên cả 2 hướng của tình yêu
trong văn học lãng mạn tuy ngả về 2 hướng rất khác nhau nhưng lại có điểm tương
đồng đó là tình yêu không gắn liền với hôn nhân và gia đình, tình yêu thoát ra khỏi
hôn nhân – điều rất mới trong tư tưởng của những nhà văn lãng mạn.
- Chủ đề
+ Đề cao cái tôi: tự do yêu đương, khát khao hạnh phúc.
+ Chống lại lễ giáo phong kiến.
- Về hệ thống thể loại

2.3.3.2. Về hệ thống đề tài
Khuynh hướng hiện thực phê phán nghiêng hẳn về đề tài xã hội, phát hiện
các mâu thuẫn hiện thực gay gắt, đi sâu khám phá bản chất thật sự của đời sống, của
con người, tính dân chủ và tinh thần nhân dân sâu sắc.
2.3.3.3. Chủ đề
Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội:
-Số phận của những con người nhỏ bé dưới đáy xã hội.
-Bộ mặt xấu xa, giả dối của giai cấp thống trị, của xã hội thực dân nửa phong kiến.
2.3.3.4. Về hệ thống thể loại
Tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, kí sự
2.3.3.5. Phương pháp sáng tác và thủ pháp nghệ thuật
Sử dụng các phương pháp khoa học để phản ánh hiện thực như nó vốn có.
Xây dựng những điển hình nghệ thuật (nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển
hình).

15


Chương 3
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ, VĂN BẢN TRUYỆN, VĂN BẢN
NGHỊ LUẬN Ở THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
3.1. Dạy học đọc hiểu văn bản thơ theo định hướng phát triển năng lực
3.1.1. Thơ và đặc trưng của thơ
- Thơ:
Có nhiều cách định nghĩa, quan niệm về thơ, theo Từ điển giải thích thuật ngữ văn
học, thơ là “Hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm
trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là
có nhịp điệu” [10, tr 309]. Trong phạm vi tài liệu này, chúng tôi đề cập thơ trữ tình.
- Đặc trưng của thơ
Trong phạm vi tài liệu, do không có điều kiện để đề cập chi tiết về đặc trưng của

+ Thông tin về tác giả;
+ Bối cảnh sáng tác đề tài;
+ Nhan đề;
+ Thể thơ, bố cục, (phần, khổ, đoạn, dòng thơ)
+ Từ ngữ, chi tiết, đối tượng;
+ Thể loại và các hình thức đặc trưng (ví dụ vần, nhịp, từ ngữ độc đáo, hình ảnh
nổi bật…);
+ Nhân vật trữ tình;
+ Ý chính của mỗi phần, đoạn thơ; các chi tiết thuộc nội dung của bài thơ. Từ đó
nhận biết, giải thích, phân tích, đánh giá đề tài của văn bản,…
Có thể thấy, yêu cầu này thuộc về năng lực “thu nhận thông tin từ văn bản” hay
có thể tạm gọi là “Nhận biết văn bản”.

-

Hiểu được nội dung bề sâu và vai trò của các hình thức trong việc thể hiện
nội dung ấy.
Với văn bản văn học nói chung, văn bản thơ nói riêng, nội dung và hình thức
bên ngoài/bề nổi nêu trên chỉ là phương tiện (cái biểu đạt) để chuyển tải thông
điệp, ý tưởng bên trong, những nội dung bề sâu mà tác giả không thể hiện trực tiếp
(cái được biểu đạt). Ở đây, có thể tạm gọi yêu cầu này là Hiểu văn bản. Muốn
hiểu văn bản, người đọc cần biết phân tích, kết nối thông tin theo yêu cầu và
nguyên tắc của việc tiếp nhận văn bản văn học nói chung, văn bản thơ nói riêng.
Cụ thể là: từ những yếu tố hình thức nghệ thuật, phân tích, kết nối để thấy rõ nội
dung được tác giả gửi gắm trong đó cũng như ý nghĩa khách quan của văn bản (ý
nghĩa nằm ngoài ý đồ tác giả). Đối với văn bản thơ trữ tình, các yếu tố hình thức sau
đây thường được chú ý:
+ Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ: Phân tích, đánh giá sự phù hợp, nét đặc sắc trong
cách dùng từ ngữ, viết câu, vận dụng các biện pháp tu từ, tổ chức diễn ngôn; các
yếu tố thuộc ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết; ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ đối

(phương pháp liên văn bản).
+ Rút ra bài học về ý nghĩa tư tưởng, giá trị sống của cá nhân;
+ Vận dụng những hiểu biết từ việc đọc hiểu bài thơ này để tự đọc, tự khám
phá các bài thơ tương tự.
So sánh, liên hệ văn bản, để đánh giá ý tưởng, giá trị của bài thơ. Liên hệ với
bối cảnh, kinh nghiệm bản thân, khám phá ý nghĩa mới, rút ra bài học vận dụng vào
cuộc sống cũng như việc đọc hiểu văn bản thơ. Có thể tạm gọi đây là bước Đánh
giá văn bản.
Cũng cần lưu ý rằng, đều là văn bản thơ, nhưng, thơ trữ tình dân gian, thơ
trung đại và thơ hiện đại có những đặc điểm riêng, cần có cách khai thác phù hợp.
Do đó, trong tài liệu này, chúng tôi tổng hợp, đề xuất một vài lưu ý về yêu cầu của
phương pháp dạy học đọc hiểu thơ trữ tình dân gian, thơ trung đại và thơ hiện đại để
người dạy có sự lưu tâm thỏa đáng khi xây dựng kế hoạch và phương pháp dạy học
phù hợp.
3.1.2.1. Dạy đọc hiểu thơ trữ tình dân gian
a. Yêu cầu của phương pháp dạy đọc hiểu văn bản thơ trữ tình dân gian
Trong sách Ngữ văn THCS và trong Dự thảo chương trình Ngữ văn mới, do
yêu cầu tích hợp với làm văn biểu cảm, nên thơ trữ tình dân gian – cụ thể là văn bản
ca dao – được dạy tập trung ở lớp 7.
a.1. Phù hợp với đặc trưng trữ tình dân gian
Đáp ứng nhu cầu giao lưu tình cảm của con người trong các mối quan hệ xã
hội phổ biến, ca dao bộc lộ cảm xúc nội tâm phong phú của con người trước cái
đẹp, cái xấu, hạnh phục hay bất hạnh trong đời sống thường nhật, lan truyền cảm
xúc ấy đến mọi người và khơi gợi sự đồng cảm, sẻ chia.
Con người khi có nhu cầu bộc lộ tình cảm, cảm xúc bằng ca dao không phải
là để phô diễn sự sáng tạo nghệ thuật mà để thổ lộ nỗi lòng. Do đó, dạy học đọc
hiểu ca dao là hướng sự khám phá, cảm thụ tới những điều được con người giãi bày
trong văn bản. Ca dao đọng lại trong lòng người đọc mọi thế hệ chính là ở khả năng
biểu cảm dồi dào, cộng hưởng với khả năng đón nhận và đồng cảm của cộng đồng.
18

dạy học thông qua hệ thống các câu hỏi, các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản
theo mô hình: Khời động/Giới thiệu bài – Đọc và tìm hiểu chú thích văn bản – Đọc
hiểu cấu trúc văn bản – Đọc hiểu nội dung văn bản – Đọc hiểu ý nghĩa văn bản, chứ
không phải đề xuất một giáo án hoàn chỉnh.
I. Khởi động/Giới thiệu bài: Từ lời hát ru bài ca 1 (do một nghệ sĩ, giáo viên hoặc
học sinh có chất giọng tốt) để giới thiệu chủ đề ca dao về tình cảm gia đình)
II. Đọc và tìm hiểu chú thích văn bản
Câu hỏi:
- Chú thích (*) cho em hiểu gì về ca dao?
- Để hiểu nội dung Những câu hát về tình cảm gia đình, em quan tâm đến chú thích
nào về văn bản?
III. Đọc hiểu văn bản
1. Đọc hiểu cấu trúc văn bản
19


Câu hỏi đàm thoại
a. Theo em, vì sao bốn bài ca dao lại có thể đặt chung trong một văn bản mang tên
“Những câu hát về tình cảm gia đình”?
b. Trong chủ đề chung về tình cảm gia đình, mỗi bài ca dao có nội dung tình cảm
riêng. Hãy sắp xếp các bài ca dao theo thứ tự nội dung sau:
- Nỗi nhớ cha mẹ nơi quê nhà.
- Nỗi nhớ và lòng yêu kính ông bà.
- Ơn nghĩa công lao cha mẹ.
- Tình anh em ruột thịt
c. Có gì chung trong hình thức diễn đạt của bốn bài ca dao trên?
2. Đọc hiểu nội dung văn bản
2.1. Bài ca 1
a. Em thấy trong bài ca dao 1 là lời của ai, nói với ai, về việc gì?
b. Lời ca “cù lao chín chữ” trong bài ca này có ý nghĩa gì?

c. Lời thơ “ Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” có sức diễn tả một nỗi nhớ
như thế nào?
d. Cử chỉ/hành động “ngó lên” trong bài ca dao này còn gợi tả tình cảm nào đối với
ông bà? (“Ngó lên” là trông lên cao. Cử chỉ này nó lên tình cảm tôn kính, hướng
vọng sâu sắc của con cháu đối với ông bà, tổ tiên, về công lao gầy dựng…)
e. Những nội dung tình cảm nào của con người được diễn tả trong bài ca dao này?
2.4. Bài ca 4
Câu hỏi đàm thoại:
a. Trong bài ca dao thứ tư, các từ “người xa”, “bác mẹ”, “cùng thân” có nghĩa như
thế nào?
b. Từ đó, có thể nhận thấy tình cảm anh em được cắt nghĩa trên những cơ sở nào?
a. Trong bài ca dao này, tình anh em được dân gian ví như thế nào? Cách ví ấy cho
thấy sự sâu sắc như thế nào trong tình cảm anh em ruột thịt?
b. Tình anh em gắn bó có ý nghĩa gì trong lời ca “Anh em hòa thuận hai thân vui vầy”?
c. Bài ca dao này có ý nghĩa:
- Đề cao tình cảm nào của con người?
- Nhắn nhủ điều gì về tình cảm anh em?
Câu hỏi cho nhóm học tập (qua máy chiếu hoặc phiếu học tập):Tình anh em yêu
thương hòa thuận là nét đẹp của truyền thống đạo lí dân tộc ta. Nhưng trong cổ tích
lại có chuyện một số câu chuyện về anh em không yêu thương đoàn kết, chia sẻ với
nhau, như truyện “Cây khế”. Các em suy nghĩ gì về điều này? (Mượn chuyện tham
lam của người anh để cảnh báo: khi nào con người còn đặt quyền lợi vật chất lên trên
tình ruột thịt thì sẽ nhận lấy hậu quả. Câu chuyện là một cách để người xưa khẳng
định sự cao quí của tình anh em. Ở đây, ca dao và cổ tích có ý nghĩa nhất quán).
3. Đọc hiểu ý nghĩa văn bản
3.1 Câu hỏi cho nhóm học tập (có thể qua máy chiếu hoặc phiếu học tập)
a. Bốn bài ca dao hợp lại thành một văn bản tập trung thể hiện tình cảm gia đình. Từ
tình cảm ấy, ta cảm nhận được vẻ đẹp cao quí nào trong đời sống tinh thần của cha
ông xưa?
b. Em nhận ra những nét nổi bật nào trong cách thức biểu đạt của ca dao? (Ca dao

– kết (thể thất ngôn bát cú) hay khai – thừa – chuyển – hợp (thể thất ngôn tứ tuyệt).
Đọc hiểu theo cách thức biểu đạt của thơ trữ tình trung đại ở dạng thức thơ
cách luật trung đại với các dấu hiệu hình thức đặc trưng của thơ cổ điển (dựa theo
kết cấu riêng của thể thơ để đọc hiểu từng câu hay từng cặp câu) theo chức năng đã
được qui ước; bám vào ngôn từ và các biện pháp tu từ nghệ thuật, hình dung ra
cảnh, việc được phản ảnh trong văn bản thơ. Từ đó hiểu và cảm nhận nỗi lòng thầm
kín của tác giả được kí thác trong văn bản.
a.2. Đáp ứng dạy học tích hợp
Các tri thức cơ bản về văn biểu cảm của phân môn Tập làm văn (bản chất,
đặc điểm, các yếu tố miêu tả và tự sự trong văn biểu cảm được dạy học song hành
với các tri thức văn học trong đọc hiểu các văn bản thơ trữ tình trung đại đã tạo điều
kiện thuận lợi cho dạy học tích hợp kiến thức văn với tập làm văn biểu cảm. Trong
dạy học đọc hiểu, sự tích hợp này được vận dụng tập trung ở hai hoạt động: tìm
hiểu cấu trúc văn bản và đánh giá ý nghĩa văn bản. Nội dung tìm hiểu cấu trúc văn
bản thơ trung đại là những tri thức về phương thức biểu đạt của văn bản, về chủ thể
biểu cảm (nhân vật trữ tình).

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status