Sáng kiến kinh nghiệm:Dạy học các văn bản truyện ngữ văn lớp 6 theo định hướng phát triển năng lực học sinh - Pdf 47

TÓM TẮT NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh (định hướng
phát triển năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn
đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng
giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát
triển năng lực người học, chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu
phát triển toàn diện các phẩm chất, nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri
thức trong những tình huống thực tiễn, nhằm chuẩn bị cho con người năng lực
giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Chương trình này nhấn
mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức. Phương
pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá
học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề
gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt
động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong
nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên và học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa
quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Giáo dục có vai trò to lớn đối với sự
tiến bộ xã hội, giúp giải quyết các vấn đề mâu thuẫn một cách hòa bình, giúp con
người biết tôn trọng các khác biệt, các giá trị tinh thần của người khác, dân tộc
khác. Trong thời đại mới, với nền kinh tế hội nhập, giáo dục lại càng có vai trò to
lớn giúp con người có thể cùng chung sống không bị lạc hậu trong một thế giới
biến đổi và phát triển không ngừng. Xác định rõ mục tiêu giáo dục là một điều
rất quan trọng và cần thiết vì nó định hướng chiến lược đầu tư giáo dục, xây
dựng nội dung chương trình, chọn lọc nội dung, xác định và chi phối toàn bộ
công tác quản lý, điều hành các bậc học và toàn bộ phương pháp dạy và học nên
Đảng và nhà nước ta đang từng bước tiến hành đổi mới nền giáo dục nước nhà
để dần dần hội nhập với nền giáo dục thế giới. Các phương pháp và kỹ thuật
dạy học tích cực được tăng cường sử dụng trong các bài học nhắm phát triển
năng lực của người học. Từ thực tiễn giảng dạy của bản thân và quá trình dự giờ
đồng nghiệp tôi thấy việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học
sinh trong môn ngữ văn hiện nay vẫn mang tính hình thức, áp dụng cho đúng
yêu cầu, chỉ đạo của cấp trên mà chưa thực sự chú ý đến việc hình thành năng

năng lực người học. Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc
đi dự giờ đồng nghiệp tại trường, tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việc đổi mới
phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực và khả năng vận dụng kiến
thức của học sinh chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về lối truyền thụ kiến thức,
giáo viên giống như một nhà thuyết trình, học sinh tiếp nhận kiến thức thụ động,
tiết học nặng nề, học sinh chưa hứng thú trong các tiết học. Đồng thời việc rèn
luyện kỹ năng cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Hoạt động kiểm tra,
đánh giá chưa thực sự khách quan, chính xác(chủ yếu tái hiện kiến thức), chỉ
chú trọng đánh giá cuối kì chưa chú trọng đánh giá quá trình. Tất cả những điều
đó dẫn tới học sinh học thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong
thực tiễn cuộc sống .
Lí do thứ ba là các văn bản truyện chiếm số lượng khá lớn trong chương
trình ngữ văn lớp 6 (18 tác phẩm, đoạn trích của cả văn học Việt Nam và văn
học nước ngoài – chỉ có 5 văn bản dành cho phần đọc thêm). Đọc – hiểu vững
vàng những tác phẩm, đoạn trích này theo định hướng năng lực đối với các em
học sinh lớp đầu bậc THCS giúp các em có một lượng kiến thức, kỹ năng tương
đối tốt để trước hết là phục vụ tốt cho các năm học tiếp theo và kì thi và THPT
hiện nay và sau đó là phục vụ tốt cho cuộc sống của các em trong tương lai.Vì
những lí do trên nên tôi quyết định chọn nội dung: “Dạy học các văn bản
truyện ngữ văn lớp 6 theo định hướng phát triển năng lực học sinh” làm đối
tượng nghiên cứu.


2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu nhất để nâng cao chất lượng dạy học và phát
triển năng lực học sinh trong môn ngữ văn bậc Trung học Cơ sở
3. Đối tượng, thời gian và phương pháp nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối lớp 6
3.2. Thời gian nghiên cứu: Một năm (Từ tháng 8/2014 đến tháng 9/2015)
3.3. Phương pháp nghiên cứu

quyết những vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tư duy,
hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu.Với môn học Ngữ
văn, năng lực này cũng cần được hướng đến khi triển khai các nội dung dạy học
của bộ môn, do tính ứng dụng thực tiễn và quy trình hình thành năng lực có thể
gắn với các bối cảnh học tập (tiếp nhận và tạo lập văn bản) của môn học, khi
nảy sinh những tình huống có vấn đề. Với một số nội dung dạy học trong môn


Ngữ văn như: xây dựng kế hoạch cho một hoạt động tập thể, tiếp nhận một thể
loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản, lí giải các hiện tượng đời sống
được thể hiện qua văn bản, thể hiện quan điểm của cá nhân khi đánh giá các
hiện tượng văn học,…quá trình học tập các nội dung trên là quá trình giải quyết
vấn đề theo quy trình đã xác định. Quá trình giải quyết vấn đề trong môn Ngữ
văn có thể được vận dụng trong một tình huống dạy học cụ thể hoặc trong một
chủ đề dạy học.
4.2.2. Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong việc
suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc
sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả để
thực hiện ý tưởng. Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, học sinh bộc lộ óc
tò mò, niềm say mê tìm hiểu khám phá.Việc hình thành và phát triển năng lực
sáng tạo cũng là một mục tiêu mà môn học Ngữ văn hướng tới. Năng lực này
được thể hiện trong việc xác định các tình huống và những ý tưởng, đặc biệt
những ý tưởng được gửi gắm trong các văn bản văn học, trong việc tìm hiểu,
xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìn khác nhau, trong cách trình
bày quá trình suy nghĩ và cảm xúc của học sinh trước một vẻ đẹp, một giá trị
của cuộc sống. Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khát khao
được tìm hiểu của học sinh, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức. Trong
các giờ đọc hiểu văn bản, một trong những yêu cầu cao là học sinh, với tư cách
là người đọc, phải trở thành người đồng sáng tạo với tác phẩm (khi có được

yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực, từ đó xác định được các hành vi
đúng đắn, cần thiết trong những tình huống của cuộc sống.
4.2.5. Năng lực giao tiếp tiếng Việt
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe, nhằm
đạt được một mục đích nào đó. Việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng
nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong giao
tiếp là ngôn ngữ. Năng lực giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụng các
quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương
diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến
một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người
với nhau trong xã hội.Trong môn học Ngữ văn,việc hình thành và phát triển cho
học sinh năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục
tiêu thế mạnh mang tính đặc thù của môn học. Thông qua những bài học về sử
dụng tiếng Việt, học sinh được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và
cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, học sinh
được luyện tập những tình huống hội thoại theo nghi thức và không nghi thức,
các phương châm hội thoại, từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động
giao tiếp. Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để HS được
giao tiếp cùng tác giả và môi trường sống xung quanh, được hiểu và nâng cao
khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học. Đây cũng là mục tiêu chi phối
trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo quan điểm
giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt
trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống.
4.2.6. Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mi
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc
nhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc
sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó
biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện. Như vậy,
năng lực cảm thụ (hay năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm nghĩa nói
về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân. Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận thức

bước hình thành và nâng cao các năng lực học tập của môn học.
5. Thực trạng vấn đề
Trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp,tôi thấy việc
dạy – học các tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm truyện nói riêng trong
chương trình tại đơn vị chưa thực sự phát huy và khơi dậy tối đa các năng lực
của học sinh. Điều đó, thể hiện ở những tồn tại sau:
5.1. Dạy học đọc – hiểu: Chủ yếu vẫn theo hướng truyền thụ một chiều những
cảm nhận của giáo viên về văn bản, chưa hướng tới việc cung cấp cho học sinh
cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của
văn bản. Gáo viên dạy học chú trọng đến cung cấp nội dung tư tưởng của văn
bản văn học, ít chú trọng đến các phương tiện nghệ thuật. Tóm lại, vẫn là chú
trọng dạy kiến thức hơn là hình thành kỹ năng.
5.2. Dạy học tích hợp: Đã được chú trọng trong những năm học gần đây và
cũng đã đạt được một số kết quả bước đầu. Tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn
mang tính khiên cưỡng, thiếu tự nhiên, tức là giáo viên thường áp đặt những nội
dung tích hợp vào bài học như bảo vệ môi trường, giáo dục kỹ năng sống, dạy
học liên môn… một cách lộ liễu.Học sinh chưa tích cực huy động kiến thức, kỹ
năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực mình học… để giải quyết các nhiệm vụ
học tập. Chủ yếu tích hợp liên môn, chưa chú trọng tích hợp các phân môn…
Chính vì vậy chưa giúp học sinh hình thành kiến thức, kỹ năng mới và tất nhiên
các năng lực của học sinh chưa được phát triển.


5.3. Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực: Trong
những năm học vừa qua đã thay đổi và có nhiều chuyển biến, việc áp dụng
những phương pháp dạy học tích cực đã được thực hiện. Tuy nhiên cách thực
hiện và hiệu quả giảng dạy để đạt được mục tiêu đề ra là chưa cao, cụ thể như:
+ Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một
vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại
chưa thực sự chủ động. Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được – tính dân

sàng thực hiện các nhiệm vụ trên lớp.
+ Hoạt động trên lớp, tôi yêu cầu học sinh thực hiện các nhiệm vụ:
- Tìm ý chính, các chi tiết quan trọng của văn bản: đây là truyền thuyết kể về
chiến công đánh thắng giặc ngoại xâm đề bảo vệ bờ cõi đất nước của dân tộc
Việt Nam ngay từ buổi đầu dựng nước. Truyện kể về người anh hùng - Thánh
Gióng; Xuất thân bình dị nhưng rất thần kì, lớn nhanh một cách kì diệu trong


hoàn cảnh đất nước có giặc ngoại xâm, cùng nhân dân đánh giặc giữ nước, lập
nhiều chiến công phi thường, ra đi để trở hành biểu tượng bất tử của nhân dân
ta.
- Đưa ra hiểu biết chung về nhân vật trong văn bản: Việc đánh giặc đương nhiên
phải nhờ vào lực lượng đông đảo của toàn dân, nhưng đồng thời cũng phải có
người đứng ra tổ chức, lãnh đạo, lại cần có cả những tướng giỏi nên thế giới
nhân vật trong truyện không thể ít được. Mỗi kiểu nhân vật xuất hiện trong tác
phẩm tượng trưng cho một phần của dân tộc ta, nhân dân ta tham dự vào cuộc
chiến tranh giữ nước làm nên chiến thắng chung cho cả cộng đồng; Sự việc cơ
bản: Thánh Gióng nhân vật khác thường, phi thường từ trong bụng mẹ ( Mang
thai từ một vết chân lạ, mười hai tháng sau ra đời, mặt khôi khôi ngô, tuấn tú,
lên ba không nói, không cười….) như thế thì lúc lớn lên cũng khác thường, phi
thường (Lớn nhanh như thổi, vươn vai thành tráng sĩ, mặc giáp sắt, đội nón sắt,
cầm roi sắt, phi ngựa sắt – phun lửa) đánh tan giặc nhanh và dễ dàng một cách
khác thường. Tất cả những nhân vật, sự việc cơ bản, từ ngữ, hình ảnh, câu
văn… trong văn bản đều tập trung thể hiện rõ lòng yêu nước và ý chí căm thù
giặc sâu sắc của nhân dân ta kết tinh từ tầng lớp nhỏ tuổi nhất qua hình tượng
Thánh Gióng, khiến nhân vật ấy trở thành bất tử như đất trời, non nước Văn
Lang còn mãi. Các ý cơ bản trong tác phẩm được sắp xếp theo trình tự thời gian
(sự việc trước dẫn đến sự việc sau); Nhận ra được mô hình tổ chức của văn bản:
nguyên nhân – kết quả.
- Đưa ra được kết luận về văn bản: là sản phẩm của trí tượng tượng độc đáo,

khảo thêm các bài viết đánh giá về nhân vật, giá trị của văn bản .
+ Hoạt động trên ớp:
- Tìm kiếm thông tin trong văn bản: Xác định được các sự việc chính của văn
bản: Truyện kể về người dũng sĩ diệt Chằn tinh, giết đại bàng, vạch mặt kẻ vong
ân bội nghĩa và chống quân xâm lược. Truyện thể hiện mơ ước, niềm tin vào
đạo đức, công lí xã hội và lí tưởng nhân đạo yêu chuộng hòa bình của nhân dân
ta. Chàng dũng sĩ Thạch Sanh xuất thân, lớn lên bình thường nhưng cũng khác
thường mang màu sắc thần kỳ, trải qua những thử thách vô cùng khó khăn nguy
hiểm để khẳng định phẩm chất của mình, cuối cùng được hưởng hạnh phúc và
vinh hiển.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để tạo nên hiểu
biết chung về văn bản:
+ Giải thích ý nghĩa, tác dụng của các từ ngữ, hình ảnh, câu văn, chi tiết… như
chi tiết cây đàn thần kỳ gắn với nó là âm nhạc thần kỳ: đó là tiếng đàn của công
lý, nó thực hiện mơ ước về công lý của nhân dân ta. Nhưng ở đây tiếng đàn
cũng là tiếng đàn hòa bình dùng để chiến thắng và cảm hóa kẻ thù. Với ý nghĩa
như vậy, cây đàn thần tượng trưng cho tinh thần yêu chuộng cái thiện, yêu
chuộng hòa bình của nhân dân ta trong quan hệ đối ngoại. Chi tiết niêu cơm
thần kỳ cũng có nhiều ý nghĩa: Tượng trưng cho khả năng sáng tạo vô cùng,vô
tận của nhân dân lao động; Biểu hiện tài năng thầ kì, phi thường của nhân vật
Thạch Sanh; Tượng trưng cho truyền thống nhân đạo của dân tộc ta trong quan
hệ đối ngoại. Cả hai chi tiết thần kỳ này, cùng với các chi tiết khác góp phần tạo
nên vẻ đẹp kỳ diệu và sức hấp dẫn kỳ lạ của truyện cổ tích Thạch Sanh.
+ Chỉ ra mối quan hệ giữa các thông tin trong văn bản: Tất cả các thông tin
trong văn bản: từ việc Thạch Sanh kết nghĩa anh em với Lý Thông đến Thạch
Sanh đi canh miếu thờ để thế mạng thay anh, rồi đến việc đánh nhau với đại
bàng để cứu công chúa … dùng tiếng đàn đánh bại với quân của mười tám nước
chư hầu tất cả đều hướng tới một nội dung: ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của nhân
vật Thạch Sanh – hình tượng mơ ước của dân gian xưa.
+ So sánh điểm đối lập giữa các nhân vật Thạch Sanh và Lý Thông (Nhân vật

+ Giải quyết những vấn đề trong cuộc sống qua tác phẩm như: vai trò của tình
người, cách ứng xử giữa người với người trong xã hội, sức mạnh của lòng lạc
quan, niềm tin vào sự chiến thắng tất yếu của cái thiện, cách thức giải quyết
mâu thuẫn, xung đột trong phạm vi hẹp (trong gia đình), rộng (vận mệnh dân
tộc, đất nước) …
6.1.3. Truyện ngụ ngôn “Ếch ngồi đáy giếng”-Truyện dân gian .
* Hoạt động chuẩn bị ở nhà: Đọc và tóm tắt văn bản, tìm hiểu trước các tài liệu
về truyện ngụ ngôn. Tìm hiểu thêm về các truyện thuộc cùng đề tài, bài học từ
con ếch, lý do tác giả để con trâu chứ không phải con vật khác giẫm chết con
ếch, liên hệ với cuộc sống thực tiễn…..
* Hoạt động trên lớp:
- Tìm kiếm thông tin: Xác định được ý chính của văn bản: truyện kể về một lần
mưa to nước giếng dềnh lên đưa ếch ra khỏi giếng và thế là chuyện bất ngờ,
ngẫu nhiên xảy ra: Ếch bị trâu giẫm bẹp
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để tạo nên hiểu
biết chung về văn bản:
+ Giải thích được các sự việc, từ ngữ, hình ảnh, chi tiết trong truyện để thấy
được cái ngẫu nhiên thực ra là kết quả tất nhiên của thói kiêu căng, tự phụ đã
thành bản chất của con ếch, nó nhâng nháo không coi ai ra gì, chẳng them để ý
đến xung quanh.


+ Phân tích được mô hình tổ chức của văn bản: nguyên nhân – kết quả (không
có thói ngông nghênh, ngạo mạn không coi ai ra gì – kết quả tất không bị trâu
giẫm bẹp).
+ Đưa ra kết luận về văn bản: Dù điều kiện sống có hạn chế đến đâu đi nữa,ta
nên cố gắng mở rộng tầm hiểu biết của mình, cần biết nhìn xa trông rộng. Mặt
khác không nên kiêu ngạo, chủ quan coi thường xung quanh mà có thể chuốc về
những tai hại có khi rất đắt .
- Phản hồi và đánh giá thông tin từ văn bản:

cùng bằng chính tình cảm trong sáng của em người anh đã nhận ra sai lầm của
mình.
- Đưa ra được kết luận chung về văn bản: Qua câu chuyện về người anh và cô
em gái có tài hội họa,truyện Bức tranh của em gái tôi cho thấy: Tình cảm trong
sáng hồn nhiên và lòng nhân hậu của người em gái đã giúp cho người anh nhận


ra phần hạn chế ở chính mình. Truyện đã miêu tả tinh tế tâm lí nhân vật qua
cách kể theo ngôi thứ nhất .
- Phản hồi và đánh giá các thông tin trong văn bản: Bằng cách xây dựng tình tiết
truyện một cách tự nhiên tác giả nhằm bộc lộ quan điểm rõ ràng về cái đúng, cái
sai trong cuộc sống một cách khách quan. Câu nói thầm trong tâm trí của người
anh thể hiện sự hối hận chân thành có tính tất yếu và thuyết phục người đọc.
- Vận dụng: Tìm đọc các văn bản ngoài chương trình để hiểu sâu hơn về giá trị
của văn bản đồng thời giải quyết được các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống như:
vấn đề tình cảm gia đình, tình anh em, vấn đề bạo lực gia đình, tìm được những
giải pháp nâng cao đời sống (tinh thần) cho con người, hoàn cảnh gia đình và sự
hình thành nhân cách của những đứa con, trách nhiệm của các làm cha, làm mẹ,
trách nhiệm của các tổ chức xã hội đối với việc hình thành nhân cách của thể hệ
trẻ…
Với những văn bản trên, chúng ta đều có thể yêu cầu học sinh viết đoạn văn
ngắn để giải quyết những tình huống có thể gặp trong đời sống. Qua đó, nâng
cao kỹ năng viết sáng tạo cho học sinh đặc biệt đối với học sinh lớp đầu cấp .
6.2. Dạy học tích hợp
Với phương pháp này tôi dự kiến sẽ thực hiện việc tích hợp theo hai
hướng: tích hợp các phân môn trong môn Ngữ văn và tích hợp với các môn học
khác có liên quan để phục vụ công tác dạy học.
– Do chương trình môn Ngữ văn đã được biên soạn theo tinh thần tích hợp các
phân môn, vì vậy giáo viên phải chú trọng giữa dạy văn với tiếng Việt và làm
văn. Với những bài học này chúng tôi cũng sẽ thực hiện trên tinh thần đó. Sau

khốn cùng đói khát và bệnh tật đến ở, cứu sống hơn ngàn người..”
( Trích Thầy thuốc giỏi cố nhất ở tấm lòng)
Qua đoạn văn học sinh cần trả lời được: Ý chính của đoạn văn là gì? Em nghĩ
như thế nào về vị thái y họ Phạm. Nếu là em, em có làm như vậy không? Vì
sao?
6.2.3. Đoạn Trích “Bài học đường đời đầu tiên” trích Dế Mèn phiêu lưu kí của
Tô Hoài
Chọn một số đoạn văn để tích hợp việc củng cố kiến thức tiếng Việt và làm
văn cho học sinh, sau đây là một ví dụ:
“Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm.
Chẳng bao lâu tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Đôi càng
tôi mẫm bong, những cái vuốt ở chân, ở khoeo cử cứng dần và nhọn hoắt. Đôi
cánh tôi trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm
đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên đã nghe tiếng phành phạch giòn giã. Lúc tôi đi bách bộ
cả người tôi rung lên một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. Đầu
tôi to ra và nổi từng tảng rất bướng. Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai
ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc. Sợi râu tôi dài, uốn cong một vẻ
rất đỗi hùng dũng ….”
( Trích Bài học đường đời đầu tiên của Tô Hoài )
Tôi yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi:Đoạn văn trên được viết theo
phương thức nào là chính? Nội dung chủ yếu của đoạn văn là gì? Nêu hiệu quả
nghệ thuật của các tính từ và từ láy trong đoạn văn ?Qua đoạn văn em thấy Dế
Mèn là chàng dế như thế nào? Từ ngữ liệu trên, viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về
vẻ ngoài của nhân vật Dé Mèn?
6.3. Thảo luận nhóm.
Thảo luận nhóm là phương pháp có thể áp dụng với nhiều bài học, điều
quan trọng ta phải chú ý là đề tài cho học sinh thảo luận phải là đề tài có tính
phức hợp, có vấn đề, cần huy động sự suy nghĩ của nhiều người.
6.3.1.Truyện cổ tích “Thạch Sanh” – Truyện dân gian . Với bài này, theo tôi có
thể thảo luận về các nhân vật. Chẳng hạn, tìm hiểu về nhân vật Thạch Sanh tôi

chuyển thể đoạn đối thoại đó thành một vở kịch ngắn.
Trên đây tôi đưa ra một số ví dụ cụ thể khi dạy các văn bản truyện trong
chương trình theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến .
7. Giáo án minh họa
Tuần 6, Tiết 21
VĂN BẢN: THẠCH SANH
( Truyện cổ tích )
A. Mục tiêu cần đạt:
*Giúp học sinh nắm được:
1. Kiến thức:
- Nhóm truyện cổ tích ca ngợi người dũng sĩ.
- Niềm tin cái thiện thắng cái ác, chính nghĩa thắng gian tà của tác giả dân gian
và nghệ thuật tự sự dân gian của truyện.
2. Kĩ năng.
- Bước đầu biết cách đọc, hiểu văn bản truyện cổ tích theo đặc trưng thể loại.
- Bước đầu biết trình bày cảm nhận, suy nghĩ của mình về các nhân vật và các
chi tiết đặc sắc của truyện.
- Kể lại một câu chuyện cổ tích.
3. Thái độ.


- Giáo dục HS lòng nhân ái, bao dung.
*Kỹ năng sống :
+ Tự nhận thức giá trị của lòng nhân ái, sự công bằng trong cuộc sống.
+ Suy nghĩ sáng tạo và trình bày suy nghĩ về ý nghĩ và cách ứng xử thể hiện tinh
thần nhân ái , sự công bằng.
+ Giao tiếp: trình bày suy nghĩ, ý tưởng, cảm nhận của bản thân về ý nghĩa của
các tình tiết trong tác phẩm.
4. Định hướng phát triển năng lực :

cổ tích
*Khái niệm : Truyện cổ tích:
GV tạo tâm thế học tập cho Hs
- Truyện kể về một số kiểu nhân vật
Thống kê các truyện cổ tích em đã biết? Kết quen thuộc(...)
thúc của các câu chuyện cổ tích ấy như thế - Thường có yếu tố kỳ ảo, hoang
nào?
đường.
HS: Trả lời cá nhân
- Thể hiện mơ ước của nhân dân về


Gv nhận xét đúng sai
? Em hiểu khái niệm truyện cổ tích là loại
truyện như thế nào ?
Gv gọi hs đọc chú thích* trong sgk/53 (bài
Sọ Dừa
Gv nhấn mạnh đặc điểm truyện cổ tích
? Truyện cổ tích có gì giống và khác so với
truyện truyền thuyết?
Hs khá giỏi – động não suy nghĩ chỉ ra
điểm:
Giống: thường sử dụng các chi tiết tưởng
tượng kỳ ảo
Khác : về nội dung và thái độ của nhân dân
GV nhận xét và chốt lại
Văn bản Thạch Sanh kể về kiểu nhân vật
nào? Em hiểu thế nào là nhân vật dũng sĩ ?
Hs tự bộc lộ suy nghĩ của mình từ hiểu biết
của bản thân

ân bội nghĩa và chống quân xâm lược.
Truyện thể hiện mơ ước, niềm tin vào
đạo đức, công lí xã hội và lí tưởng
nhân đạo yêu chuộng hòa bình của
nhân dân ta .
Văn bản trên có thể chia thành mấy phần? 3. Bố cục: 3 Phần
Em hãy đặt tên cho từng phần?
+ Mở đầu: Từ đầu... thần thông.
HS chia đoạn, nhận xét
->Nhân vật Thạch Sanh.
GV thống nhất cách chia để cho các em tìm + Diễn biến: Tiếp - bọ hung
hiểu dễ nhất
->Các thử thách và chiến công của


GV: Chiếu tranh vẽ minh họa Trạch Sanh
Em hãy tìm các chi tiết kể về sự ra đời và
lớn lên của Thạch Sanh? (nguồn gốc xuất
thân, quá trình lớn lên, công việc...)
Hs cả lớp tìm – trả lời
GV ghi những chi tiết tiêu biểu
? Trong sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh
vừa có yếu tố bình thường vừa có yếu tố
khác thường. Em suy nghĩ như thế nào về
vấn đề này ?
Hs động não suy nghĩ bày tỏ quan điểm của
mình
Gv giảng, bình và kết luận :
Thạch Sanh ra đời và lớn lên vừa bình
thường vừa khác lạ làm cho người đọc cảm

3. Phân tích:
a. Nhân vật Thạch Sanh
+ Sự bình thường:
- Là con của gia đình nông dân tốt
bụng. Sống nghèo khổ bằng nghề
kiếm củi.
+ Sự khác thường:
- Thạch Sanh con của Ngọc Hoàng
đầu thai
- Bà mẹ mang thai nhiều năm, sinh ra
Thạch Sanh.
- Được thiên thần dạy cho đủ các môn
võ nghệ, phép thần thông.

-> Thạch Sanh là con của người dân
thường, cuộc đời và số phận rất gần
gũi với nhân dân.

* Những thử thách và chiến công của
Thạch Sanh.
+ Những thử thách:
- Bị mẹ con Lí Thông lừa đi canh miếu
thờ, thế mạng. Thạch Sanh diệt chằn tinh.
- Xuống hang diệt đại bàng cứu công
chúa, bị Lí Thông lấp cửa hang.
- Bị hồn chằn tinhvà đại bàng báo thù.
- Sau khi kết hôn với công chúa, quân
của 18 nước chư hầu sang đánh.



Gv cho hs vận dụng vào thưc tiễn cuộc sống
làm việc tốt nhất định sẽ được báo đáp
Gv cho hs đọc đoạn văn: “Nhà vua lấy làm
lạ................hóa kiếp thành bọ hung”
Đoạn văn trên trình bày theo phương thức
chính nào? Giải thích nghĩa của từ bọ hung?
Nếu là Thạch Sanh em có tha chết cho mẹ
con Lý Thông không? Vì sao?
Hs vận dụng kiến thưc phần tập làm văn tự
sự và phần tiếng Việt giải nghĩa từ để trả lời
câu hỏi
Hs đặt mình là Thạch Sanh để trả lời câu hỏi
Gv nghe trả lời, định hướng các em nếu có

+ Những chiến công
- Chém chằn tinh trừ hoạ cho dân, thu
được cung tên bằng vàng.
- Diệt đại bàng cứu công chúa và con vua
thủy tề
- Gẩy đàn thần giúp công chúa nói được
- Đánh thắng quân của 18 nước chư hầu
 Mức độ và tình chất của thử thách
tăng dần, nên chiến công càng rực rỡ,
vẻ vang.
=>Thạch Sanh là người thật thà, tốt
bụng, gan dạ, dũng cảm, tài năng,
không màng danh lợi, vị tha, có tư
tưởng nhân đạo và yêu chuộng hòa
bình....


- Mỗi câu trả lời đúng được 5 điểm.
- Nếu giải được 5 ô hàng trên mà đội nào mở được từ khoá thì sẽ được nhận một
phần quà và 20 điểm. Nếu trả lời sai thì mất lượt.
- Tiếp đến ô thứ 7 mà có tín hiệu trả lời từ khoá, trả lời đúng thì sẽ nhận được
một phần quà và 10 điểm.
- Nếu không trả lời được thì sẽ tìm hiểu hết 11 ô hàng ngang.
- Đội nào nhiều điểm là đội chiến thắng.
- Và cuối trò chơi, tổng kết lại xem ai có số lần trả lời nhanh, nhiều và đúng
nhất thi sẽ nhận được một phần quà.
Gv đọc câu hỏi hs trả lời – đúng Gv nhấn đáp án
* Hàng ngang
Câu số 1. Gồm 8 chữ cái. Điền vào chỗ trống trong câu sau:
“ Thạch Sanh ra đời là do Ngọc Hoàng sai….. xuống đầu thai làm con”
Câu số 2. Gồm 8 chữ cái. Thạch Sanh sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp
nào trong xã họi xưa?)
Câu số 3. Gồm 9 chữ cái. Nhân vật chính của tác phẩm Thạch Sanh là ai?
Câu số 4. Gồm 7 chữ cái. Điền vào chỗ trống trong câu sau:
“Nhờ tiếng đàn thần kì của Thạch Sanh mà công chúa ….., nhận ra người cứu
mình và đã giải thoát cho Thạch Sanh”.


Câu số 5. Gồm 7 chữ cái. Một trong những chi tiết thần kì trong truyện Thạch
Sanh tượng trưng cho lòng nhân đạo, tư tưởng yêu hòa bình của nhân dân ta.
Câu số 6. Gồm 7 chữ cái. Truyện Thạch Sanh chứa đựng nhiều nội dung, phản
ánh nhiều mặt cuộc sống, nhưng chung quy lại đều chung một nội dung đấu
tranh. Đó là nội dung đấu tranh gì?
Câu số 7. Gồm 8 chữ cái. Điền vào chỗ trống trong câu sau:
“Truyện Thạch Sanh luôn có sức hấp dẫn độc giả nhỏ tuổi mọi thời đại vì nội
dung câu chuyện, diễn biến số phận nhân vật và nghệ thuật cấu trucvs tác phẩm
được thể hiện …. , giàu y nghĩa” .

của các em ở đầu năm học. Đầu học kì là kiểm tra việc đọc hiểu văn bản truyện
khi chưa áp dụng các phương pháp nghiên cứu. Cuối năm học tức là sau khi áp
dụng các biện pháp nêu trên tôi kiểm tra việc đọc – hiểu của học sinh với các tác
phẩm và đoạn trích thuộc chương trình. Việc khảo sát và dạy thực nghiệm được
tiến hành với học sinh lớp 6 toàn trường(cấp trường).
Kết quả cụ thể như sau:
Đầu năm học
Tổng số, tỉ lệ
85
Giỏi
5
Khá
30
Trung bình
38
Yếu
9
Kém
3

100%
5,9
35,3
44,7
10,6
3,5

Cuối năm học
Tổng số, tỉ lệ
85

triển năng lực của người học cần tập trung vào những nội dung: dạy đọc – hiểu;
dạy học tích hợp và áp dụng các phương pháp dạy học tích cực khác như: thảo
luận nhóm, đóng vai… Qua việc áp dụng những nội dung của sáng kiến này, tôi
thấy học sinh đã bước đầu có được những năng lực cần thiết mà môn học hướng
tới như: Năng lực giải quyết vấn đề; Năng lực giao tiếp tiếng Việt; Năng lực
thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ; Năng lực hợp tác; Năng lực sáng tạo.
- Dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của
người học là yêu cầu tất yếu của đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo.
Đây là vấn đề chúng tôi tiếp tục được nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả hơn
trong những năm học tiếp theo.
2. Kiến nghị.
- Với Sở Giáo dục và Đào tạo, cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về
đổi mới phương pháp dạy học nhất là việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo
theo định hướng phát triển năng lực của người học cho đội ngũ cán bộ cốt cán
của từng huyện .
- Với phòng giáo dục và đào tạo huyện cần thường xuyên tổ chức các lớp tập
huấn có hiệu quả về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh gia theo
định hướng phát triển năng lực học sinh cho đội ngũ giáo viên trong toàn huyện
- Với lãnh đạo nhà trường, tạo điều kiện cho tổ chuyên môn tổ chức những Hội
thảo về việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng
lực của người học .
- Với tổ chuyên môn, tham mưu cho lãnh đạo nhà trường để trang bị những tài
liệu liên quan đến việc nội dung trên.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status