Một số phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 - Pdf 54

PHÒNG GD&ĐT TX TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG TIỂU HỌC B LONG AN
________________

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
______________________________________

Long An, ngày 10 tháng 01 năm 2018

BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến
Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp - ứng xử cho học sinh lớp 3
trong các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp
_______________________

I. Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: Lê Thị Việt Chương
Nam, nữ: nữ
- Ngày tháng năm sinh: 28/4/1980
- Nơi thường trú: Tổ 7, ấp Long Hòa, xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An
Giang
- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học B Long An
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên dạy lớp
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
- Lĩnh vực công tác: Giáo viên tiểu học
II. Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị:
1. Tóm tắt tình hình đơn vị
Trường Tiểu học B Long An được thành lập theo Quyết định số 11/QĐ-UBND

luyện và trau dồi kỹ năng giao tiếp - ứng xử ở học sinh còn hạn chế.
- Tên sáng kiến: Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp - ứng xử cho học
sinh lớp 3 trong các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Lĩnh vực: Chuyên môn.
III. Mục đích yêu cầu của sáng kiến:
- Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu đổi mới toàn
diện của giáo dục nói riêng và của toàn xã hội nói chung.
- Tìm ra một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp - ứng xử cho học sinh.
- Giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; giúp
học sinh có hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành vi, thói quen giao
tiếp - ứng xử có văn hóa.
- Giúp học sinh có đủ khả năng tự thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ,
độc lập, tự tin khi giải quyết công việc, đem lại cho các em vốn tự tin ban đầu để trang
bị cho các em những kỹ năng cần thiết làm hành trang bước vào đời.
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
- Hiện nay, có nhiều học sinh chưa mạnh dạn tự tin, còn e dè thụ động trong học
tập và trong sinh hoạt chung; kỹ năng giao tiếp còn hạn chế, chưa biết cách diễn đạt suy
nghĩ của mình bằng ngôn ngữ, hợp tác và trình bày ý kiến cá nhân. Một số em trong ứng
xử có phần còn mang tính tùy tiện. Nhiều học sinh rất thiếu kỹ năng xử lý tình huống
của cuộc sống thực; không biết giao tiếp theo những quy tắc tối thiểu nhất trong gia
đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội; thiếu tự tin khi giao tiếp, thiếu bản lĩnh, thiếu
sáng tạo; học tập thụ động; kiểm soát cảm xúc không tốt như còn gây gỗ, đánh nhau với
những lý do vô cùng phi lý.
- Năm học 2017 - 2018, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 3A. Qua
các hình thức và biện pháp khảo sát khác nhau, tôi thống kê kết quả đánh giá về thực
trạng và khả năng giao tiếp - ứng xử của học sinh như sau:
Tổng số
học
sinh
30

- Đối với giáo viên:
Cơ bản mới chú ý đến việc giáo dục chất lượng của học sinh, tuy nhiên có một số
ít giáo viên thiếu kinh nghiệm trong cách dạy bảo đối với học sinh hay nghịch, cách ứng
xử và giao tiếp trong cuộc sống. Một số giáo viên chưa thật sự tích cực tổ chức phương
pháp dạy học tích cực, tạo điều kiện để học sinh học nhóm, trao đổi kinh nghiệm để học
sinh học tập lẫn nhau. Kỹ năng giáo dục yêu cái đẹp, thực hành viết chữ đẹp chưa được
chú ý. Một số ít giáo viên dạy các môn Đạo đức, Hoạt động ngoài giờ lên lớp, Tự nhiên
và Xã hội chưa được tập huấn dạy học các bài học phải tích hợp rèn luyện kỹ năng sống

2


cho học sinh. Giáo viên chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng thực hành, chủ yếu hình
thành trên lý thuyết.
- Đối với gia đình và xã hội:
Cá biệt vẫn còn có học sinh do ảnh hưởng của môi trường xã hội, khu dân cư nên
hành vi giao tiếp - ứng xử chưa đúng mực. Một vài em được sự nuông chiều của gia
đình, được gia đình phục vụ, đáp ứng mọi yêu cầu, chỉ biết học nên việc giao tiếp còn
hạn chế và ngược lại cũng có những em sống trong gia đình nghèo khổ, bố mẹ thiếu
quan tâm đến việc giáo dục con cái còn phó mặc cho nhà trường.
Trước thực trạng đó, trong công tác chủ nhiệm lớp tôi suy nghĩ tìm các biện pháp
giáo dục phù hợp với các đối tượng học sinh của lớp, nhằm hình thành các thói quen tốt
cho các em, giúp các em phát triển nhân cách, có những hành vi giao tiếp - ứng xử
chuẩn mực, làm tròn nhiệm vụ học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
Albert Einstein đã từng nói: “Nhà trường luôn luôn có chủ trương tạo cho học
trò một cá tính cân đối chứ không nên biến chúng thành một nhà chuyên môn”. Do
đó, việc giáo dục và đào tạo trong nhà trường hiện nay không chỉ chú trọng đến việc tạo
ra những con người giỏi về nghề nghiệp mà còn phải hoàn thiện về nhân cách trong đó
kỹ năng giao tiếp - ứng xử là một trong những kỹ năng cần được hoàn thiện ngay từ bậc

3


trong xã hội và góp phần vào việc luận giải những vấn đề nói trên, tôi quyết định chọn
đề tài: “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp - ứng xử cho học sinh lớp 3
trong các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp”. Với mục tiêu giúp các em rèn
giũa kỹ năng giao tiếp - ứng xử để có thể tự tin, tự nhiên trong giao tiếp - ứng xử với
mọi người xung quanh. Và đây cũng chính là nền tảng vững chắc nhất cho các em khi
bước vào đời.
3. Nội dung sáng kiến
a. Tiến trình thực hiện
- Muốn việc dạy và học đạt hiệu quả tốt thì giáo viên cần chú ý ba yếu tố sau:
+ Yếu tố thứ nhất: phẩm chất cá nhân của giáo viên.
+ Yếu tố thứ hai: mối quan hệ giữa giáo viên với cá nhân học sinh và với cả lớp
học.
+ Yếu tố thứ ba: phát huy được sự tự tin và tự trọng của học sinh.
- Chân thành luôn thể hiện sự quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ, tôn trọng các em học
sinh và luôn đối xử với các em một cách công bằng. Không những thế giáo viên còn
phải liên tục bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nắm bắt được các phương pháp giảng dạy
tốt và biết giao tiếp phi ngôn ngữ với các em học sinh, nhất là bằng ánh mắt. Biết cùng
chơi với các em, biết nói đùa sẽ giúp các em tiếp thu nhanh và có một buổi học thú vị.
- Có mối quan hệ với gia đình học sinh để có thể hợp tác với nhau trong việc dạy
dỗ các em.
- Biết khoan dung có nghĩa là giáo viên phải độ lượng không cố chấp, công bằng
và kiên định đối với tất cả học sinh.
- Không làm cho học sinh cảm thấy bị gò bó khi học tập, giao tiếp - ứng xử.
- Nắm được đặc điểm của từng học sinh như: tên, tuổi, hoàn cảnh gia đình, tâm
lý của các em cũng như tình trạng sức khỏe và quá trình học tập của các em, những sự
kiện bất thường như: học sinh lưu ban nhiều năm, thiểu năng, mồ côi, cá tính đặc biệt,...
- Hiểu biết càng nhiều về học sinh càng tốt, nên ghi chép từng điều đặc biệt của

chức, thực hiện các chương trình hoạt động rèn kỹ năng giao tiếp - ứng xử cho học sinh.
- Với ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc rèn kỹ năng giao tiếp - ứng xử cho
học sinh tôi đã thực hiện đề tài sáng kiến “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giao
tiếp - ứng xử cho học sinh lớp 3 trong các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp”.
Do đó, đề tài sáng kiến này được tôi nghiên cứu với các số liệu thực trạng từ năm học
2015 - 2016 và đúc kết kinh nghiệm cho bản thân, áp dụng các giải pháp vào năm học
2016 - 2017 đến nay tôi thấy có hiệu quả. Trong năm học 2017 - 2018 này tôi mạnh dạn
áp dụng và giới thiệu đề tài này với mong muốn chia sẻ kinh nghiệm cùng đồng nghiệp,
để được sự đón nhận của đồng nghiệp, của đơn vị, của ngành giáo dục để giúp đề tài
của tôi ngày càng hoàn thiện hơn.
c. Biện pháp tổ chức
c.1. Nắm tình hình học sinh qua bàn giao công tác chủ nhiệm
Ngay từ đầu năm học, nhà trường chỉ đạo cho giáo viên các khối lớp bàn giao
công tác chủ nhiệm. Từ các kênh thông tin của giáo viên chủ nhiệm năm trước và qua
trò chuyện trực tiếp với học sinh, với gia đình, nhờ thế tôi đã nắm được các thông tin
sau:
- Tình hình chất lượng và các mặt hoạt động khác của từng học sinh trong lớp,
nguyên nhân kết quả của giáo dục đó.
- Hoàn cảnh gia đình học sinh.
- Tâm tư, nguyện vọng và mong muốn, sở trường, hạn chế của từng học sinh ở
thời điểm hiện tại. Từ đó, tôi lập kế hoạch chủ nhiệm - hình thành bộ máy hội đồng tự
quản của lớp, thành lập các ban, biên chế ban học tập, ban văn nghệ thể dục thể thao,
ban sức khỏe vệ sinh, ban thư viện, thành lập đôi bạn học tập theo tình hình chất lượng
lớp tạo điều kiện cho các em được học tập lẫn nhau,... Cụ thể như đôi bạn: Xuân
Nguyên và Sĩ Em, Ngọc Uyển và Thành Nhân, Phương Nhi và Mỹ Ngân, Thúy Vy và
Bảo Thi, Thanh Vạn và Quốc Toàn, Minh Triết và Gia Hào, Mỹ Dư và Thanh Phong,...

5



6


được quan hệ trực tiếp với thầy và quan hệ với nhau. Giáo viên cần khuyến khích học
sinh trao đổi, đặt câu hỏi, thảo luận, phát biểu ý kiến, thể hiện quan điểm cảm xúc riêng
của mình. Giáo viên có thể chia lớp thành nhóm, lúc đầu có thể là nhóm nhỏ (2 học sinh
ngồi cùng bàn) để dễ trao đổi, giúp các em tự tin dần; sau đó triển khai giữa 1 em và 1
em khác (vẫn là 2 em nhưng thay đổi bạn trao đổi) sẽ giúp các em làm quen dần với sự
hợp tác này. Dần dần khi các em đã có kinh nghiệm hơn, tự tin hơn có thể triển khai
thành nhóm lớn hơn (4, 6, 8 em) và luân phiên nhau em nào cũng có thể làm nhóm
trưởng - mọi thành viên trong nhóm đều được nói, các thành viên còn lại có nhiệm vụ
đóng góp ý kiến, trao đổi, giúp đỡ bạn mình... Giáo viên phải là người thiết kế, định
hướng, giúp đỡ, uốn nắn học sinh; tôn trọng học sinh, giúp học sinh tự tin bằng việc
khuyến khích, động viên chứ không chê bai, chỉ trích... Giáo viên phải biết khẳng định
việc làm của học sinh là “đúng” hay “chưa đúng”, tuyệt đối không nói là “sai”.
- Để nâng cao năng lực tự tin, khả năng giao tiếp, hành vi ứng xử của học sinh,
giáo viên có thể yêu cầu mỗi tuần mỗi tổ cử một bạn làm Chủ tịch Hội đồng tự quản
luân phiên lần lượt. Lúc đầu có thể là những em có năng lực, mạnh dạn, tự tin; sau là
những em nhút nhát, chưa tự tin; những em còn có hành vi chưa thật sự văn minh, lịch
sự; những em còn hạn chế về khả năng giao tiếp... để các em rút kinh nghiệm, điều
chỉnh dần bản thân mình, nâng cao năng lực cá nhân... với sự góp ý, giúp đỡ của tập thể
lớp và khả năng bản thân (vì mỗi học sinh chắc chắn đều có những mặt mạnh, mặt tích
cực riêng).
- Giáo viên phải là người làm “mẫu”, hướng dẫn, điều chỉnh học sinh, vì vậy cần
tổ chức các bài học thông qua mô phỏng, trao đổi, thảo luận, tranh luận, đóng vai, cuộc
thi, trò chơi, vẽ tranh... để mỗi học sinh đều được thể hiện mình.
- Việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp - ứng xử cho học sinh không phải thông qua
một môn học nào mà nó bao trùm toàn bộ các môn học, là sự tích hợp dần để học sinh
được trải nghiệm. Tất cả các môn học từ Tiếng việt, Toán, Tự nhiên và Xã hội, Thủ
công... đều giúp học sinh rèn luyện giao tiếp để phát triển kỹ năng sống nếu giáo viên là

. Nội dung bài tập đọc nói lên điều gì?
Nhiều học sinh được nêu suy nghĩ của mình. Giáo viên động viên, khuyến khích,
tôn trọng ý kiến của các em.

Kỹ năng làm việc hợp tác trong giờ học Tiếng Việt
- Áp dụng:
Cho học sinh được nói lên nguyện vọng, suy nghĩ, tình cảm của mình:
+ Học sinh nói về những gì các em học được qua bài học. (Ví dụ: Bài học
khuyên các em cần biết yêu thương, nhường nhịn anh, chị, em trong gia đình).
Giáo viên là người tóm tắt ý kiến, định hướng, giáo dục học sinh bằng các việc
làm cụ thể.
Qua tiết dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh kỹ năng làm việc theo nhóm: biết
cách phân công công việc, lắng nghe ý kiến người khác, tranh luận, biết chấp nhận đúng
sai, thống nhất ý kiến, thực hiện đúng ý kiến đã thống nhất... Đây là kỹ năng hết sức cần
thiết khi các em trưởng thành, làm việc trong tập thể; kỹ năng tự nhận thức: xác định giá
trị bản thân là biết đem lại lợi ích, niềm vui cho người khác thì mình cũng có niềm vui;
làm chủ bản thân: kiểm soát cảm xúc, hành vi của bản thân để tránh thái độ ứng xử ích
kỷ; kỹ năng giao tiếp: đọc, viết, biết ứng xử có văn hóa,...
Đối với các môn ngoài Toán, Tiếng Việt, giáo viên càng quan tâm hơn về rèn kỹ
năng. Môn Thủ công, giáo viên cần giáo dục kỹ năng tự phục vụ. Bởi gia đình, các em
thường được cha mẹ, anh chị làm thay hoặc không có thời gian gần gũi để hướng dẫn.
Ví dụ: Dạy bài Thủ công “Đan nong mốt”, “Đan nong đôi” giáo viên giúp học sinh
8


biết cách đan nong mốt, đan nong đôi đúng quy trình kĩ thuật. Biết vận dụng đan nong
mốt, đan nong đôi để làm những đồ dùng trong gia đình như: thúng, rổ,...
Trong các bài Tự nhiên và Xã hội, chúng ta có thể hướng dẫn, tập dần cho các
em các kỹ năng:
+ Kỹ năng tự nhận thức: tự nhìn nhận, đánh giá về bản thân để xác định được

các kỹ năng sống phù hợp cho các em.
Ví dụ: Bài “Đoàn kết với thiếu nhi quốc tế” (Đạo đức lớp 3 tiết 2 - Bài 9)
- Thực hành:
Hoạt động 1: Giới thiệu những sáng tác hoặc tư liệu đã sưu tầm được về tình
đoàn kết thiếu nhi quốc tế.
* Cách tiến hành:
+ Giáo viên phát giấy Ao và cho các nhóm trình bày tranh, ảnh và các tư liệu đã
sưu tầm được.
+ Đại diện các nhóm lên thuyết minh.
+ Lớp thảo luận, nhận xét, chất vấn, bổ sung.
+ Giáo viên nhận xét, khen ngợi các nhóm học sinh đã sưu tầm được nhiều tư
liệu hoặc đã có những sáng tác tốt về chủ đề bài học hoặc giáo viên có thể giới thiệu
thêm một vài hoạt động khác (nếu cần).
9


Hoạt động này, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng hợp tác, kỹ năng trình bày suy
nghĩ về thiếu nhi quốc tế.
- Vận dụng:
Hoạt động 2: Viết thư bày tỏ tình đoàn kết, hữu nghị với thiếu nhi các nước.
* Cách tiến hành:
+ Giáo viên yêu cầu học sinh viết thư theo nhóm.
+ Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh gửi thư cho các bạn thiếu nhi các nước
đang gặp nhiều khó khăn như: đói nghèo, dịch bệnh, chiến tranh, thiên tai,....
+ Nội dung thư sẽ viết những gì?
+ Học sinh các nhóm tiến hành viết thư (một bạn sẽ là thư kí, ghi chép ý của các
bạn đóng góp).
+ Thư kí thông qua nội dung thư và tất cả các bạn trong nhóm kí tên vào thư.
+ Trình bày kết quả.
+ Cả lớp nhận xét, chia sẻ.

vật vào đúng vị trí... cũng có thể tổ chức cho học sinh “diễn kịch”.
+ Cuối mỗi tháng tổ chức giao lưu học tập và sinh hoạt tập thể liên lớp nhằm tạo
môi trường học hỏi, giao tiếp, tương tác. Phát huy việc “nói”, thể hiện mình của những
học sinh còn rụt rè, thụ động. Học sinh có thể sưu tầm, tìm hiểu những câu chuyện, câu
10


đố, bài thơ hay, đoạn văn hay... làm đề tài để trao đổi, thảo luận, phát biểu ý kiến cá
nhân...
+ Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh văn nghệ (hát đơn ca, tốp ca, múa hát tập
thể, đóng kịch...) để học sinh tập dần sự mạnh dạn, tự tin trước tập thể.
+ Giáo viên cần tổ chức cho học sinh một số hoạt động ngoại khóa như: thăm mẹ
Việt Nam anh hùng; viếng nghĩa trang liệt sĩ; trồng và chăm sóc cây, hoa; lao động công
ích (làm vệ sinh...). Qua đó, cho học sinh phát biểu suy nghĩ của mình về việc đã làm,
viết bài nói về cảm nhận của em.

Học sinh lớp 3A tham gia trò chơi ở Hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo viên cần định hướng, khơi gợi,
giúp đỡ, khích lệ tinh thần cho học sinh; uốn nắn dần cho học sinh cách diễn đạt cá
nhân, học tập điều hay từ bạn, rút kinh nghiệm cho bản thân mình.
- Trong việc tiến hành hoạt động ngoài giờ lên lớp, học sinh đóng vai trò trọng
tâm, là chủ thể hoạt động, tự điều hành mọi hoạt động. Giáo viên lúc này là người “bạn”
lớn hơn, giúp đỡ, khích lệ học sinh thể hiện mình hoặc giáo viên chỉ là đại biểu tham
dự.
- Học sinh phải chuẩn bị đầy đủ mọi phương tiện cho hoạt động:
+ Tập dẫn chương trình, biểu diễn văn nghệ, diễn kịch, tập nói, thể hiện điệu bộ.
+ Thi tìm hiểu kiến thức, phát biểu cảm tưởng.
+ Tích cực nghiên cứu, tập trung chú ý để thể hiện mình, tìm ra những hình thức
tổ chức hay và sáng tạo.
+ Nâng cao ý thức phối hợp, thảo luận nhóm.

cho học sinh, em nào cũng chờ đợi đến giờ sinh hoạt hàng tuần để được tham gia tiếp
các hoạt động, không những thế mà các em đã sưu tầm được mẫu chuyện vui, trò chơi
hay. Đặc biệt giáo dục cho học sinh hiểu: Muốn hoàn thành việc gì đều cần sự đoàn kết,
hợp tác với nhau. Cần có sự khéo léo, tự tin, mạnh dạn thì mới có kết quả.
c.4. Giao tiếp - ứng xử trong gia đình (ông bà, cha mẹ, anh chị em, khách...)
* Đối với người lớn tuổi trong gia đình:
- Mỗi giáo viên phải luôn thường xuyên rèn luyện kỹ năng giao tiếp - ứng xử;
luôn thể hiện là tấm gương sáng, mẫu mực cho học sinh noi theo. Giáo viên luôn đổi
mới phương pháp để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh (Ví dụ: thảo
luận, đóng vai).
- Học sinh ít nhiều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự giao tiếp trong gia đình, chịu
ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình. Hiện nay, không ít học sinh được
cưng chiều từ ông bà, cha mẹ đã trở nên “ngang ngược”. Vì thế, giáo viên cần phối hợp
với cha mẹ học sinh, gia đình học sinh để tìm hiểu hoàn cảnh sống, nắm bắt kịp thời đặc
điểm tâm sinh lý của học sinh để giúp học sinh hiểu được: Giao tiếp trong gia đình là
“Trên kính - dưới nhường”, học sinh cần:
+ Lễ phép, kính trọng ông bà, cha mẹ.
+ Vâng lời, giúp đỡ bố mẹ; nhường nhịn em nhỏ.
+ Biết tối thiểu những tình huống trong ứng xử với mọi người trong gia đình,
biết nói lời “cảm ơn”, “xin lỗi”, “vâng, ạ, dạ, thưa”... với cả những người thân thiết
trong gia đình, biết dùng từ ngữ phù hợp, đúng mực, phù hợp với từng hoàn cảnh đồng
thời phải biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến mọi người ngay cả khi bất đồng quan điểm, cả
khi việc không theo ý mình.
* Đối với bản thân học sinh:
Ví dụ: Bài “Quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em” (Đạo đức lớp
3).
- Giáo viên sử dụng các phương pháp:
12



Giáo viên kết luận: Mỗi chúng ta đều có một gia đình và được ông bà, cha mẹ,
anh chị em yêu thương, quan tâm, chăm sóc. Đó là hạnh phúc và là quyền mà mọi trẻ
em đều được hưởng. Tuy nhiên, do nhiều lý do, vẫn còn có các bạn nhỏ bị thiệt thòi,
sống thiếu sự quan tâm, chăm sóc của ông bà, cha mẹ. Chúng ta cần cảm thông, chia sẻ
với các bạn đó. Xã hội và mọi người cần có trách nhiệm hỗ trợ, giúp đỡ các bạn đó cả
về vật chất và tinh thần.
* Xử lý tình huống:
- Giáo viên chia học sinh thành các nhóm, yêu cầu thảo luận, đóng vai để xử lý
các tình huống sau:
a. Lan đang ngồi học trong nhà thì thấy em bé chơi trò chơi nghịch dao ở ngoài
sân. Nếu em là bạn Lan, em sẽ làm gì?
b. Ông của Huy có thói quen đọc báo hàng ngày nhưng mấy hôm nay ông bị đau
mắt không đọc báo được. Nếu em là bạn Huy em sẽ làm gì?
- Giáo viên gọi các nhóm lên đóng vai.
- Yêu cầu học sinh thảo luận về cách ứng xử và cảm xúc của mỗi nhân vật khi
ứng hoặc nhận được cách ứng xử đó.
- Học sinh thảo luận bàn cách xử lý và tập đóng vai.

13


Kỹ năng giải quyết vấn đề
Giáo viên kết luận:
a. Lan cần chạy ra khuyên em không nên chơi gần bờ ao vì sẽ nguy hiểm nếu bị
ngã xuống ao.
b. Huy dành thời gian đọc báo cho ông nghe.
* Bày tỏ ý kiến:
- Giáo viên nêu các ý kiến:
a. Trẻ em có bổn phận phải quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em
trong gia đình.

sinh sẽ cảm thấy tự tin hơn khi có cơ hội được trình bày vấn đề của mình.
c.5. Giao tiếp - ứng xử trong những tình huống của cuộc sống thực (ngoài xã
hội)
* Đối với giáo viên và xã hội:
- Cần định hướng cho học sinh: trong giao tiếp hàng ngày ta thường dùng những
nghi thức lời nói, đó là:
+ Lời đề nghị khi yêu cầu, mong muốn được giúp đỡ.
+ Lời từ chối khi không đồng ý, không muốn hoặc không thể thực hiện đúng yêu
cầu của người khác.
15


+ Lời xin lỗi khi làm phiền, khi mắc lỗi, khi không làm đúng, khi từ chối...
- Giáo viên có thể đưa ra những ví dụ hoặc gợi ý để học sinh nêu ví dụ, yêu cầu
học sinh diễn đạt bằng các cách khác nhau để thấy được sự phong phú của Tiếng Việt và
hiệu quả việc dùng từ ngữ phù hợp.
- Để giao tiếp tế nhị, khéo léo; giáo viên cần định hướng cho học sinh biết cách
xác định các nhân tố giao tiếp:
+ Xác định nhân vật giao tiếp.
+ Xác định nội dung giao tiếp.
+ Xác định khả năng của bản thân.
+ Xác định ngữ cảnh.
+ Xác định phương tiện biểu đạt.
+ Có thể đề xuất một số ý kiến để giúp người khác thực hiện yêu cầu của mình.
* Đối với học sinh:
Cần thể hiện những nội dung được học, được giáo dục vào thực tế, các em có khả
năng ứng xử các tình huống khác nhau của cuộc sống.
Ví dụ: Lời đề nghị yêu cầu muốn được giúp đỡ.
- Giáo viên đưa ra tình huống cụ thể: “Nhờ một người cùng trang lứa đóng
giúp cửa sổ khi ngồi trên xe buýt”.

16


khả năng giao tiếp - ứng xử linh hoạt, đúng mực với các bạn, với thầy cô,... Cho nên khi
sử dụng biện pháp này cần chú ý:
+ Sách phải được sự cho phép lưu hành nội bộ của ngành Văn hóa thông tin.
+ Nội dung sách, báo phải phù hợp với lứa tuổi, gần gũi với cuộc sống, gần gũi
với thiên nhiên.
+ Nội dung cô động, xúc tích, dễ hiểu.
- Ở lớp học thầy - trò chúng tôi có trang trí góc thư viện xanh với những quyển
sách chứa đựng nhiều hình thức giáo dục đạo đức và vốn tri thức cao tạo điều kiện cho
các em ham đọc sách, mở rộng hiểu biết, phát triển khả năng đọc cho các em. Từ đó
giúp các em giao tiếp - ứng xử tốt, rèn kỹ năng cho học sinh có trách nhiệm bảo quản tài
sản chung, gọn gàng, ngăn nắp.

Học sinh tham gia đọc sách, báo vào giờ ra chơi
c.7. Phối hợp với Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
- Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh là một tổ chức của lứa tuổi thiếu niên,
nhi đồng có vai trò rất lớn trong việc tập hợp, tổ chức sinh hoạt, giáo dục thiếu niên nhi
đồng theo những chương trình nội dung bổ ích, góp phần hình thành và phát triển phẩm
chất, lý tưởng... cho học sinh.
- Trong hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp - ứng xử, nhà trường và giáo viên
cần phát huy vai trò tổ chức Đội của nhà trường trong rèn luyện kỹ năng giao tiếp - ứng
xử cho học sinh tiểu học thông qua các phong trào, các hoạt động theo chủ đề, chủ điểm
của Đội.
- Hằng năm, để tạo cho các em có nhiều hoạt động ý nghĩa, Liên đội của trường
đã tổ chức nhiều chương trình như: văn nghệ, các trò chơi dân gian, tổ chức các cuộc
thi, tuyên truyền về an toàn giao thông,... Qua các hoạt động đó các em có thêm cơ hội
được giao lưu, tìm hiểu, học cách làm việc nhóm, mở rộng vốn sống thực tế, tăng khả
năng thuyết trình trước đám đông. Từ đó sẽ giúp các em tự tin, có khả năng giải quyết

+ Cha mẹ và các thành viên trong gia đình luôn làm gương cho con em trong các
hoạt động, trong cuộc sống. Thực hiện những chuẩn mực đạo đức và cách ứng xử có
văn hóa.
+ Khuyến khích những thái độ, hành vi tốt trong giao tiếp - ứng xử của các em.
+ Thiết lập cách giao tiếp trong gia đình phù hợp chuẩn mực đạo đức.
+ Thường xuyên có sự phản ánh, liên hệ với nhà trường để tham gia vào quá trình
giáo dục các em.
IV. Hiệu quả đạt được:
1. Những điểm khác biệt trước và sau khi áp dụng đề tài sáng kiến
* Trước khi áp dụng đề tài sáng kiến:
- Trong các tiết học còn thụ động chưa tích cực phát biểu, thiếu tính sáng tạo…
- Mối quan hệ thầy - trò, trò - trò chưa thật sự gần gũi, dân chủ.
- Phát huy hiệu quả trong đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học còn nhiều
hạn chế do các em còn xa lạ, bỡ ngỡ, kỹ năng luyện tập, thực hành còn lúng túng. Thiếu
các hoạt động tập thể cho các em tham gia để giáo dục kỹ năng sống cần thiết phục vụ
cho chính bản thân học sinh trong mọi sinh hoạt, đời sống.
- Công tác giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử để tư tưởng, tình cảm của các
em đối với quê hương, đất nước được khắc sâu hơn chỉ còn trong sách vở, giờ lên lớp,
không tổ chức các hoạt động tham quan về nguồn, tham gia thực tế để các em trải
nghiệm và khẳng định mình.
- Một số học sinh chưa có thói quen tốt trong việc chào hỏi khách lạ đến trường.
- Tham gia các họat động chưa đều, thiếu tích cực khi thực hiện các nhiệm vụ được
giao.
18


- Xử lý tình huống, vận dụng thực hành các nội dung học tập có liên quan đến
nhiệm vụ các em còn bỡ ngỡ, lúng túng.
* Sau khi áp dụng đề tài sáng kiến:
Trong quá trình thực hiện các biện pháp giúp các em thực hiện tốt nhiệm vụ ở lớp

dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.

19


Học sinh lớp 3A lao động, vệ sinh và chăm sóc bồn hoa
- Đối với lớp tôi chủ nhiệm trong các năm học qua thu được kết quả như sau:

Năm học

2015-2016
2016-2017
2017-2018
đến cuối HKI

Tổng
số
học
sinh
30
32
30

Số HS
giao tiếp tốt

Số HS chưa có
kỹ năng giao tiếp,
chưa mạnh dạn, tự tin


Tỉ lệ
g
7
23,33%
5
15,62%
3
10%

20


- Tăng so với cùng kỳ năm học trước.
- Thực tế khẳng định: Khi nhiệm vụ được thực hiện tốt, tất cả học sinh đều có kỹ
năng giao tiếp ứng xử đúng đắn, chuẩn mực sẽ góp phần cải thiện chất lượng học tập và
các em đạt kết quả tốt trong các phong trào thi đua.
- Đặc biệt hơn đầu năm học này lớp tôi có em Nguyễn Thanh Phong và em
Trương Thị Mỹ Ngân từ một học sinh hết sức nhút nhát, rụt rè, vào đầu năm khi tôi gọi
hai em này lên bảng, hai em không thể tự giới thiệu bất cứ một điều gì về bản thân và
gia đình của mình. Nhờ áp dụng tốt các biện pháp nêu trên và có sự động viên tốt, quan
tâm, theo dõi chặt chẽ của giáo viên chủ nhiệm cùng với Ban giám hiệu, thầy cô bộ
môn, Đoàn-Đội và sự phối hợp của cha mẹ học sinh đến nay hai em đã có nhiều chuyển
biến tích cực hiện tại hai em đã tự tin hơn khi giao tiếp với thầy cô. Tuy nhiên, sự linh
hoạt, sức biểu lộ tình cảm, cảm xúc của em vẫn chưa bằng các bạn.
2. Lợi ích thu được khi đề tài sáng kiến áp dụng
- Đối với học sinh:
Góp phần nâng cao chất lượng học tập và khả năng giao tiếp -ứng xử, trả lời câu
hỏi của người lớn, thầy cô... (trình bày câu trả lời).
Trong học tập các em sẽ mạnh dạn phát biểu bày tỏ quan điểm của mình, biết
giúp bạn sửa chữa khuyết điểm. Giúp các em tự tin hơn trong cuộc sống. Học sinh tự có

dục các môn văn hóa, huy động tối đa học sinh vào các hoạt động tập thể của trường,
của lớp.
Tạo môi trường thuận lợi cho việc giảng dạy sẽ dễ dàng hơn, nâng cao được chất
lượng kỹ năng giao tiếp - ứng xử học sinh làm cho quá trình hình thành nhân cách tốt
hơn.
- Đối với Đoàn - Đội, cha mẹ học sinh và cộng đồng: có sự phối hợp với giáo
viên dạy lớp, chọn lọc những hình thức giáo dục phù hợp, hiệu quả cùng chung tay hình
thành nhân cách thế hệ trẻ. Hy vọng rằng với những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn sẽ
góp phần đáng kể vào việc ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức học đường, xây dựng
thế hệ học sinh năng động, thân thiện, phát triển toàn diện.
- Đối với đơn vị, ngành: Sẽ bớt đi gánh nặng, từ đó sẽ không có những thói quen
chưa tốt của các em gây ra. Phối hợp giáo dục của trường đạt hiệu quả cao hơn.
Thực hiện tốt kỹ năng giao tiếp - ứng xử và các văn bản chỉ đạo của Bộ làm nền
tảng trong lãnh, chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, ngành
giáo dục góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.
V. Mức độ ảnh hưởng:
1. Khả năng áp dụng giải pháp
Những biện pháp bản thân đã thực hiện trong việc giúp cho học sinh của lớp rèn
luyện tốt kỹ năng giao tiếp - ứng xử có thể áp dụng cho các lớp tiểu học của đơn vị và
các lớp tiểu học trên toàn tỉnh và cả nước trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học
các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp của Đoàn, Đội. Vận dụng trong công tác
phối hợp giữa giáo viên với gia đình học sinh, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường,
mục đích là để góp phần giáo dục cho học sinh hoàn thành nhiệm vụ đạt kết quả như
mong muốn.
2. Những điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp đó
- Giáo viên phải gương mẫu, chuẩn mực, bình tĩnh xử lý trong các tình huống.
Luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
- Thường xuyên kết hợp chặt chẽ với tổ chức Đoàn - Đội, các giáo viên bộ môn,
giáo viên trong trường, cha mẹ học sinh của lớp để tạo môi trường học tập rộng lớn cho
các em. Từ đó, các em có thể tự tin trong giao tiếp - ứng xử, sống hòa đồng cùng tập

các tình huống thực tế trong môi trường giáo dục Nhà trường - Gia đình - Xã hội. Tùy
từng đối tượng học sinh mà áp dụng cho phù hợp với tình hình thực tế của lớp mình và
đối tượng học sinh. Thông qua giao tiếp, học sinh tự điều chỉnh hành vi của mình cho
phù hợp, văn minh, lịch sự hơn; mạnh dạn, tự tin, hòa đồng trong mọi trường hợp. Học
sinh biết nói nhiều lời hay - làm nhiều việc tốt, có thể là từ những việc nhỏ nhất, góp
phần thúc đẩy sự phát triển nhân cách của mình.
- Gắn nhà trường với đời sống cộng đồng, góp phần xây dựng các chuẩn mực
văn hóa vì các em đều tham gia các hoạt động ngoài nhà trường trong hiện tại và tương
lai.
Tôi xin cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.

Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến

Người viết sáng kiến

Lê Thị Việt Chương

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status