Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ
trẻ. Các em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người quyết
định sự phát triển của đất nước trong những năm tới. Nếu không có kĩ năng sống,
các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng
và xã hội.
Trong trường học, việc giáo dục kĩ năng sống và rèn luyện sức khỏe cho học
sinh là vấn đề hết sức cần thiết. Nó góp phần hình thành nhân cách cho các em,
giúp các em tự tin chủ động, biết cách xử lý tình huống trong cuộc sống và quan
trọng hơn là khơi gợi những khả năng tư duy, sáng tạo.
Từ năm 2010 – 2011, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã đưa nội dung giáo dục kĩ năng
sống lồng ghép vào các môn học như: Tự nhiên và Xã hội, Tiếng Việt, đạo đức, lịch
sử- Địa lí, Âm nhạc, Mĩ thuật…. và các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở bậc tiểu học.
Tuy nhiên, để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố
chứ không chỉ từ các bài giảng. Kĩ năng sống không phải tự nhiên có được mà phải
hình thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống. Quá
trình hình thành kĩ năng sống diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục.
Thực tế cho thấy, lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị
nhân cách, giàu ước mơ, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về
xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động... Đặc biệt trong bối
cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu
tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn
cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức.
Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, nếu thiếu kĩ năng sống các em dễ bị lôi kéo
các hành vi tiêu cực, bạo lực, lối sống ích kỉ, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về
nhân cách. Một trong nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tiêu cực của một bộ
phận học sinh phổ thông trong thời gian qua như: đua xe, nghiện hút, bạo lực, ăn
chơi sa đoạ... chính là do các em thiếu những kĩ năng sống cần thiết như: kĩ năng
xác định giá trị, kĩ năng từ chối, kĩ năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ
năng thương lượng, kĩ năng giao tiếp... Vì vậy, giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ
II. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng việc dạy lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh lớp 1 dân
tộc thiểu số trong phân môn đạo đức. Trên cơ sở đó đề xuất rút ra ưu điểm, hạn chế,
nguyên nhân và nêu lên giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh trong thời gian tới.
Giúp học sinh có khả năng ứng xử trước các tình huống xảy ra trong cuộc
sống như tự tin, tự phục vụ, mạnh dạn giao tiếp và hợp tác, trung thực, có khả năng
tự giải quyết vấn đề.
Phần thứ 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
1. Kĩ năng sống là gì?
- Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), kĩ năng sống là khả năng để có hành vi
thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và
thách thức của cuộc sống hàng ngày.
- Theo UNICEF, kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành
hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức hình
thành thái độ và kĩ năng.
- Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO),
kĩ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết, học làm người, học
để sống với người khác, học để làm.
Từ những quan niệm trên có thể thấy kĩ năng sống bao gồm một loạt các kĩ
năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của kĩ
năng sống là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự
lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, kĩ năng sống là
khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những
2
người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống trong
cuộc sống.
xã hội. Dạy học môn đạo đức kết hợp hài hòa giữa việc trang bị kiến thức với bồi
dưỡng tình cảm, niềm tin và hình thành kĩ năng hành vi cho học sinh.
Bản thân nội dung môn Đạo đức chứa đựng nhiều nội dung liên quan đến kĩ
năng sống như: kĩ năng giao tiếp, ứng xử (với ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè,
thầy cô giáo và mọi người xung quanh); kĩ năng bày tỏ ý kiến của bản thân, kĩ năng
ra quyết định và giải quyết vấn đề phù hợp với lứa tuổi; kĩ năng giữ gìn vệ sinh cá
nhân, kĩ năng tự phục vụ và tự quản lí thời gian, kĩ năng thu thập và xử lí thông tin
về các vấn đề trong thực tiễn đời sống ở nhà trường, ở cộng đồng có liên quan đến
chuẩn mực hành vi đạo đức …
3
Như vậy, việc giáo dục kĩ năng sống qua môn đạo đức cho học sinh lớp 1dân
tộc thiểu số nói riêng, cho học sinh bậc học phổ thông nói chung có tầm quan trọng
rất lớn trong việc giáo dục học sinh những kĩ năng cần thiết khi các em mới bước
vào lớp học đầu tiên của bậc Tiểu học..
II. Thực trạng vấn đề
1. Đặc điểm tình hình
Trường tiểu học Ea Bông có tổng số học sinh lớp Một là 66 em được chia
thành 03 lớp, trong đó có 02 lớp nằm trên địa bàn vùng khó khăn của xã Ea Bông –
huyện Krông Ana – tỉnh Đăk Lăk. Năm học 2018 – 2019, tôi được nhận nhiệm vụ
chủ nhiệm lớp 1C, với 22 em và 100% là học sinh con em đồng bào dân tộc thiểu
số. Trong số đó có nhiều gia đình có vợ, chồng hoặc cả vợ và chồng đi làm ăn xa.
Có em bố mẹ ly hôn phải ở với ông bà từ khi còn nhỏ.
Thực tế, khi các em rời trường Mầm non và bước chân vào lớp 1, tất cả mọi nề
nếp, giờ giấc học tập, sinh hoạt còn xa lạ chưa vào một khuôn khổ nhất định, các
em khá rụt rè chưa quen với cách học cũng như mạnh dạn bày tỏ ý kiến nhất là các
em học sinh dân tộc thiểu số có sự chênh lệch rất lớn về kỹ năng sống so với các
em học sinh ở vùng thuận lợi, khả năng giao tiếp, ứng xử của các em thấp, nhiều
em rụt rè, nhút nhát, không tự tin, buông thả không điều chỉnh được hành vi của
thưa gửi, còn nói trống không, ngại giao tiếp với các bạn và thầy cô giáo.
Các em chưa biết cách ứng xử đơn giản nhất với cô giáo và các bạn, nhiều em
chưa nói được cụ thể họ và tên mình, họ tên bố mẹ, chưa phân biệt được anh em
trong nhà với anh em họ. Một số học sinh gần như ngồi im, chưa biết nói đủ một
câu, chưa có ý thức về học tập nghe giảng, chưa biết lĩnh hội kiến thức.
Đa số các em là người dân tộc thiểu số sống tại địa bàn sử dụng cả hai ngôn
ngữ: tiếng mẹ đẻ và Tiếng Việt, trong đó ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế và có
nhiều khó khăn, các em nói tiếng phổ thông chưa rành nên khi giảng dạy Kĩ năng
sống cho các em rất khó tiếp cận nhất là các kĩ năng giao tiếp, ứng xử đối với ông
bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè, thầy cô giáo và mọi người xung quanh, kĩ năng bày
tỏ ý kiến của bản thân, kĩ năng giữ gìn vệ sinh cá nhân, kĩ năng tự phục vụ về các
vấn đề trong thực tiễn đời sống ở nhà trường, ở nhà có liên quan đến chuẩn mực
hành vi đạo đức….. hầu như các em còn hạn chế.
Nhà trường, đoàn đội chưa tổ chức được nhiều các hoạt động ngoại khóa như:
Thi kể chuyện đạo đức, học tập tấm gương người tốt việc tốt để học sinh được thực
hành hành vi đã học vào những tình huống cụ thể trong cuộc sống. Đối với bản
thân là giáo viên chủ nhiệm, tôi thấy việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn
khá nhiều bỡ ngỡ về nội dung giáo dục, phạm vi giáo dục, chưa có kế hoạch cụ thể,
rõ ràng nên chưa có được sự phối hợp đồng điệu giữa phụ huynh học sinh. Việc rèn
kĩ năng sống qua môn đạo đức còn chưa được chú trọng. Công tác tuyên truyền cho
các bậc cha mẹ thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho các em chưa nhiều. Trước
những khó khăn trên tôi luôn trăn trở làm thế nào giúp các em có được các kĩ năng
cơ bản để vận dụng trong cuộc sống hằng ngày. Sau khi điều tra học sinh tôi tiến
hành khảo sát phân các nhóm đối tượng như sau:
Năm
TS
Kĩ năng
học
HS
Biết nói năng Bạo dạn trong Ngại giao tiếp, Học sinh học hòa
sinh phát triển chưa toàn diện rất là ít, đa phần các em chưa tự tin trong giao tiếp
còn rụt rè, nhút nhát, giao tiếp chưa rõ.
Từ tình hình thực tế trên chúng ta phải biết đặc điểm tình hình của từng đối
tượng học sinh và có các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng giảng dạy cũng
như trang bị cho học sinh những kĩ năng sống cơ bản thì mỗi giáo viên là một tấm
gương sáng mẫu mực cho học sinh noi theo, giáo viên cần phải gần gũi, thường
xuyên khuyến khích, tạo môi trường học tập công bằng, tôn trọng, động viên kịp
thời để học sinh thích học, ham học. Giáo dục học sinh bước đầu biết cách sống và
ứng xử phù hợp với các chuẩn mực xã hội thông qua môn đạo đức. Phối kết hợp
với gia đình trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, thông qua hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động Đội trong và ngoài nhà trường để quản lý
và giáo dục học sinh.
Nhận thức rõ điều này, thấy những khó khăn cơ bản trên tôi đã thực hiện một
số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số qua môn
Đạo đức.
III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
- Một bài giáo dục kĩ năng sống thường được thực hiện theo 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Khám phá
Tìm hiểu kĩ năng hiểu biết của học sinh về những việc làm hoặc sự kiện diễn
ra trong cuộc sống .
Giai đoạn 2: Kết nối
Giới thiệu thông tin, kiến thức và kĩ năng mới thông qua việc tạo “cầu nối”
liên kết giữa cái đã biết và “cái chưa biết”.
Giai đoạn 3: Thực hành / Luyện tập
Tạo cơ hội cho người học vận dụng kiến thức và kĩ năng mới học vào hoàn
cảnh, điều kiện có ý nghĩa.
Giai đoạn 4: Vận dụng
Nâng cao hơn mức độ vận dụng kiến thức và kĩ năng.
khuôn mẫu. Mọi vấn đề thầy cô giải quyết, mọi việc thầy cô làm, mọi điều thầy cô
nói với các em luôn là đúng. Đặc biệt với học sinh lớp 1 các em nghe, làm theo
thầy cô còn hơn ông bà, cha mẹ. Các em thường rất hay bắt chước thầy cô của
mình từng nét chữ, lời nói đến cả cử chỉ, điệu bộ và nhất là cách ứng xử của cô
trước các tình huống. Vì thế bản thân phải luôn mẫu mực trong mọi cử chỉ, hành
động, lời nói, phải nghiêm minh, công bằng khách quan trong đánh giá học sinh,
cần cụ thể gương mẫu về mọi mặt như: về trang phục và thời gian làm việc; về
chào hỏi, xưng hô, xã giao, khi tiếp đón khách, tiếp dân, ứng xử trong sử dụng điện
thoại, ứng xử trong liên hoan, chiêu đãi, ứng xử trong nhận và tặng vật lưu niệm,
ứng xử đối với những bất đồng, mâu thuẫn, ứng xử trong công bố, tiếp nhận thông
tin... Đặc biệt là trong cách xử lý công việc hàng ngày, bản thân tôi không dám tuỳ
tiện theo kiểu “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột”; mà phải thấu đáo, đã nói
là làm, làm đến nơi đến chốn và thật thấu tình đạt lý. Có như thế mới thuyết phục
được học sinh, mới tập hợp được các em xung quanh mình cùng hoàn thành tốt kế
hoạch đã định.
Việc đánh giá học sinh cũng cần khách quan và công bằng.Với học sinh Tiểu
học nói chung và học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số nói riêng, việc các em được khen
trước bạn bè, được cô giáo động viên kịp thời đúng lúc sẽ là động lực rất lớn giúp
các em mạnh dạn, tự tin và hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. Để động viên, khuyến
khích học sinh thực hiện tốt việc rèn luyện kĩ năng, ngay từ đầu năm học tôi đã lên
kế hoạch rèn luyện cho các em, hằng ngày các em được phân công theo dõi các
bạn, ghi vào sổ đến cuối tuần, cuối tháng bình chọn ra những bạn thực hiện tốt,
những bạn ngoan, luôn được tôi tuyên dương, khen thưởng. Cuối tháng, tôi luôn
dành những phần quà nho nhỏ, bất ngờ cho các em. Khi thì chiếc bút chì hay những
viên kẹo, những cục tẩy, viên phấn… Tất cả chỉ là sự động viên, khích lệ các em và
đó là động lực để các em có sự tiến bộ. Những học sinh chưa biết vâng lời tôi luôn
nhắc nhở bằng cử chỉ nhẹ nhàng và cả tình thương yêu. Tôi cho các em thấy sự gần
gũi trong mỗi việc làm. Khi đã xóa dần khoảng cách, việc giáo dục sẽ nhẹ nhàng
hơn.
7
kĩ năng giải quyết vấn đề để thể hiện lòng kính yêu đối với ông bà, cha mẹ. Ví dụ:
Qua bài tập 1 tôi yêu cầu từng cặp học sinh kể cho nhau nghe về gia đình mình
( gia đình em có những ai? Thường ngày những người trong gia đình em làm gì?
Mọi người trong gia đình yêu quý nhau như thế nào?...) Tôi nhận thấy các em rất
vui khi nói về các thành viên trong gia đình mình, kể cả những em ngại giao tiếp,
rụt rè nhút nhát cũng thấy được những nụ cười, ánh mắt khi nói về gia đình em.
Mỗi bài tập tôi lại dạy bảo các em những điều hay, lẽ phải như: đi phải xin phép, về
phải chào hỏi, ăn nói nhẹ nhàng, phải có thưa gửi, biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, nghe
theo lời chỉ bảo của người lớn…Có như vậy các em mới là người con ngoan, cháu
ngoan, ông bà cha mẹ vui lòng.
Bài 11: Đi bộ đúng quy định
8
Qua bài học “ Đi bộ đúng quy định” giúp học sinh hiểu đi bộ đúng quy định là
đi trên vỉa hè, theo tín hiệu giao thông, theo vạch sơn quy định; ở những đường
giao thông khác thì đi sát lề đường phía bên tay phải.
Thông qua bài học tôi lồng ghép kĩ năng an toàn khi đi bộ. Ví dụ: Qua bài tập
5 tôi lồng ghép kĩ năng sống qua phần tham gia trò chơi. Tôi phổ biến luật chơi, tổ
chức cho các em đứng tại chỗ khi cô hô “Đèn xanh” học sinh cho hai tay quay
nhanh, khi cô hô “Đèn vàng” học sinh cho hai tay quay từ từ, khi cô hô “Đèn đỏ”
học sinh tay không chuyển động. Kết thúc trò chơi tôi luôn tuyên dương những em
thực hiện đúng đồng thời nhắc nhở các em về việc đi lại hằng ngày, trong đó có
việc đi học, luôn lưu ý những đoạn đường nguy hiểm dễ xảy ra tai nạn giao thông.
Đối với học sinh dân tộc thiểu số lớp tôi đa số các em sống gần trường nên
thường đi bộ đi học, các em sang đường thường thiếu quan sát, cũng chính bởi các
em còn quá nhỏ chưa ý thức được hành vi của mình, gia đình điều kiện kinh tế khó
khăn, thiếu thốn nên có những hôm không thể đưa đón con đi học bởi vậy tôi luôn
nhắc nhở các em hằng ngày, hàng giờ: đi học phải chú ý quan sát khi sang đường,
phục tốt nhất nhằm nâng cao không ngừng chất lượng toàn diện cho các em học
sinh.
Thông qua những buổi họp phụ huynh hay những lần trao đổi với cha mẹ các
em cần đặc biệt quan tâm tôi luôn gợi ý phụ huynh học sinh xây dựng và kiểm tra
việc thực hiện thời gian biểu ở nhà. Tôi sẽ chịu trách nhiệm hướng dẫn các em thực
hiện thời gian biểu phù hợp. Ngay từ đầu năm học tôi đã hướng dẫn cho phụ huynh
và các em chọn sách vở, đồ dùng học tập theo đúng quy định, hướng dẫn, nhắc nhở
các em giữ gìn sách vở, đồ dùng học tập, tôi quy định cách sắp xếp sách vở ở lớp
cũng như ở nhà. Ở lớp các em được treo cặp rõ ràng, sách vở đồ dùng học tập sử
dụng chúng đúng mục đích, dùng xong sắp xếp đúng nơi quy định, luôn giữ sạch
sẽ, không được bôi bẩn, vẽ bậy, viết bậy vào sách vở, không làm rách nát hỏng đồ
dùng học tập, ở nhà các em treo đúng nới quy định, soạn sách vở đầy đủ theo từng
ngày học trách mang hết sách vở, đồ dùng học tập gây nhàu nát, hư hỏng. Ngày đầu
đi học tôi cùng các em phân loại sách vở, ghi nhãn tên, bao bọc gọn gàng, kiểm tra
và tuyên dương những em thực hiện tốt trước lớp, động viên giúp đỡ các em còn
khó khăn hoàn thành tốt kĩ năng tự phục vụ cho học tập. Nhà trường chỉ quản lí học
sinh trong thời gian ở trường còn khi ra đường về nhà thì cha mẹ mới là người thầy,
người cô thực sự, việc phối hợp với phụ huynh là cực kỳ quan trọng. Nhà trường và
gia đình cùng chung tay chỉ bảo các em đồng thời phụ huynh học sinh cũng phải là
tấm gương cho các em noi theo. Phối hợp trong việc tạo điều kiện cho các em tham
gia các hoạt động ngoại khóa, tham gia Hội khỏe Phù Đổng, biểu diễn văn nghệ mà
nhà trường tổ chức, hỗ trợ kinh phí cho việc khen thưởng động viên các phong
trào, phối hợp tổ chức lao động định kì. Việc phối kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm
và phụ huynh học sinh nhằm mục đích cùng chăm lo giáo dục học sinh chưa ngoan
về đạo đức, chưa ngoan về học tập. Đặc biệt đối với diện học sinh chưa ngoan, mối
quan hệ này lại cần thiết hơn bao giờ hết.
Trong nhà trường học sinh thường mắc những sai lệch mà chúng ta cùng với
phụ huynh phải lo toan cần giáo dục. Theo tôi các em thường có những biểu hiện
sai lệch sau:
- Ý thức tự giác học tập chưa cao.
trong nhận thức. Trong cư xử, đối xử tốt với bạn bè, người lớn và linh hoạt xử lí
trong mọi tình huống. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua học tập sinh
hoạt ở nhà trường là điều hết sức cần thiết cho tương lai các em. Để đạt được điều
đó, bản thân tôi cần kiên trì, quyết tâm thực hiện từng bước và liên tục trong suốt
quá trình giảng dạy, nâng dần kĩ năng giao tiếp – tự nhận thức cho các em như biết
sử dụng đúng các quy tắc: chào hỏi, xin phép, cảm ơn, xin lỗi, … Biết cảm thông
cảm chia sẻ buồn vui với mọi người . Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh dân tộc
thiểu số lại càng cần thiết bởi hầu hết các em chưa có khả năng: Tự phục vụ, tự
quản; Giao tiếp, hợp tác; Tự học và giải quyết vấn đề hiệu quả; Chăm học, chăm
làm, tích Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm; Trung thực, kỷ luật, đoàn kết; Yêu
gia đình, bạn bè và những người khác. Bên cạnh đó cần trang bị cho học sịnh các
kỹ năng cần thiết cho cuộc sống hiện nay: đề phòng hỏa hoạn, phòng đuối nước, tự
bảo vệ bản thân, phòng tránh bị xâm hại, phòng tránh tai nạn giao thông, tai nạn
thương tích.....Giúp những em có thói quen xấu và hành vi tiêu cực trở thành con
ngoan, trò giỏi và là người có ích cho xã hội sau này.
4. Biện pháp 4: Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt
động Đội, trong và ngoài nhà trường để quản lý và giáo dục học sinh.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGD NGLL) là một bộ phận của quá
trình giáo dục ở nhà trường phổ thông nói chung và trường Tiểu học nói riêng. Đó
là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học văn hoá ở trên lớp.
HĐGD NGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là cầu nối gắn lí thuyết với
thực tiễn và đời sống xã hội, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động,
góp phần hình thành tình cảm, niềm tin đúng đắn ở học sinh.
Các nghiên cứu về tâm lí - giáo dục cũng cho thấy, nhiều nét tính cách cơ bản
của con người được hình thành trước và trong tuổi học đường. Việc tham gia vào
nhiều hoạt động GDNGLL phong phú, đa dạng sẽ tạo cơ hội cho HS được thể hiện,
bộc lộ, tự khẳng định bản thân; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi bạn bè
11
vi, môi trường hoạt động tập thể đa dạng hơn, phong phú hơn và sinh động lý thú
hơn là rất cần thiết. Tổ chức Đội với những hoạt động bổ ích đã thực sự đáp ứng
được nhu cầu chính đáng đó của các em. Với các chủ đề, chủ điểm thi đua phù hợp
với lứa tuổi, sinh động và hấp dẫn cho các em, phong trào hoạt động Đội trong và
ngoài nhà trường đã thu hút và lôi cuốn các em một cách lành mạnh, có tác dụng
tích cực cho việc hình thành nhân cách của các em. Chính vì vậy, giáo viên chủ
nhiệm cần phải “trẻ hoá” để cùng am hiểu tường tận về tổ chức Đội, cùng tham gia
hoạt động vui chơi với các em, cùng hoà nhập để hiểu hơn tâm tư, tình cảm và
nguyện vọng của các em để từ đó mà thông cảm hơn, yêu thương hơn, hiểu hơn và
có trách nhiệm nhiều với các em học sinh lớp mình phụ trách, mới thực sự trở
thành người mẹ, người cha, người chị, người anh gần gũi thân thiết của các em để
công tác giáo dục đạo đức học sinh đạt hiệu quả hơn.
12
Thành lập đội sao đỏ theo dõi chấm điểm thi đua và báo cáo kịp thời các bạn vi
phạm nội quy của nhà trường để thầy cô giáo chủ nhiệm cùng với thầy Tổng phụ
trách kịp thời chấn chỉnh.
Hàng tháng liên đội phải tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống đạo đức,
các hoạt động vui chơi nhằm thu hút các em tham gia và tạo luồng sinh khí mới
trong học tập như: Hội thi văn nghệ, tổ chức đố vui để học, tổ chức các trò chơi dân
gian, các hoạt động thể thao, các hoạt động ngoại khoá khác ...
Như chúng ta đã biết, Đội là nơi giúp trẻ phát triển một cách toàn diện. Nhiều
khi học sinh thích được tham gia hoạt động Đội hơn là các hoạt động học tập, bởi ở
đó các em được tham gia các trò chơi, được chạy nhảy, và rất nhiều hoạt động khác
nữa.
Cũng chính bởi lý do trên, hằng tuần, tôi luôn trao đổi với cô tổng phụ trách về
nội dung, phương pháp và kết quả các hoạt động giáo dục học sinh. Đồng thời, tôi
còn nhờ thầy kiểm tra, nhắc nhở các mặt giáo dục học sinh của bản thân.
Như vậy bằng nhiều hình thức khác nhau, tôi luôn cố gắng rèn cho học sinh
học.
- Luôn tạo mọi điều kiện để các em có thể bày tỏ, thể hiện mình, tham gia tốt
các buổi hoạt động ngoại khóa của trường, lớp.
Sống, học tập, lao động là những vấn đề thiết yếu mà tôi luôn cố gắng để ươm
mầm cho thế hệ trẻ. Bởi trẻ em là hạnh phúc của gia đình, tương lai của đất nước,
là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nhân tố để cây đời
mãi mãi xanh tươi. Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em, bồi dưỡng trẻ em trở thành
công dân tốt của đất nước là một công việc vô cùng quan trọng mà mỗi giáo viên
chúng tôi phải cùng có trách nhiệm.
V. Hiệu quả Sáng kiến kinh nghiệm
Từ những khó khăn nhất định khi tôi nhận lớp 1C là đa số các em khá rụt rè
chưa quen với cách học cũng như mạnh dạn bày tỏ ý kiến. Khi phát biểu các em nói
không rõ ràng, trả lời trống không, không tròn câu và không nói lời cảm ơn, xin lỗi
với thầy cô, ban bè.
Nhờ vận dụng các phương pháp giảng dạy như đã trình bày ở trên, đến giữa
học kì II, tôi thấy các em có tiến bộ rõ rệt, các em đã cởi mở hơn, thích thú bày tỏ ý
kiến hơn và quan trọng nhất đó là qua giờ đạo đức học sinh nắm bắt được những tri
thức sơ đẳng, những cần thiết về các chuẩn mực đạo đức, việc sinh hoạt ở lớp cũng
như ở nhà, trong việc giao tiếp bằng lời nói các em đã biết nói lời thân thiện vào
thực tế, những lời chào, cảm ơn hay xin lỗi... đã trở thành thói quen, được các em
vận dụng hằng ngày. Kĩ năng giao tiếp ,ứng xử của học sinh tiến bộ rõ rệt. Một số
học sinh đầu năm còn rụt rè nay đã trở nên tự tin thể hiện mình trước lớp trong việc
trình bày suy nghĩ và phát biểu ý kiến .
Thông qua dạy môn Đạo đức tôi luôn kết hợp giáo dục học sinh rèn kỹ năng
sống nhờ vậy mà các em tự tin hơn và đặc biệt các em chủ yếu là học sinh dân tộc
thiểu số, gia đình khó khăn nên bản thân các em đã tự mình làm lấy một số công
việc tự phục vụ cho mình mà không cần nhờ vả bố mẹ như: rửa ly chén, quét nhà,
nấu cơm, rửa bát, trông em,..
Tỉ lệ học sinh có các kỹ năng tự phục vụ, tự quản, giao tiếp, hợp tác, tự học, ...
tăng dần. Cụ thể như sau:
thức chưa
ghi nhớ
được.
% SL %
14
Biết nói
năng lễ
phép, tự
tin, biết
hợp tác
SL
Bạo dạn
trong
giao tiếp
nhưng
nói
trống
không
% SL %
Ngại giao
tiếp, trầm
lặng, nhút
nhát:
6 27,3
7 31,8
8 36,4
1
4,5
Mặc dù chưa đạt được kết quả như mong đợi, nhưng tôi hi vọng với những
phương pháp trên và lòng nhiệt tình của mình, đến cuối năm học số học sinh rụt rè,
nhút nhát sẽ giảm dần và không còn số học sinh thụ động.
Phần thứ 3: Kết luận, kiến nghị
I. Kết luận
Qua bài học, học sinh có được những kĩ năng cơ bản, biết phân biệt được cái tốt
với cái xấu, cái đúng với cái sai, việc gì nên làm và không nên làm, điều quan trọng
nhất là các em phát huy tính dân chủ. Học sinh có những xúc cảm đạo đức tích cực.
Yêu cái đúng, cái tốt. Ghét cái xấu xa, cái sai, không đồng tình và đấu tranh với các
biểu hiện sai trái, xấu xa. Học sinh có những kỹ năng hành vi đơn giản. Thực hiện
các hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức.
Qua những phần trình bày ở trên, ta có thể thấy : Việc rèn kĩ năng sống qua
môn đạo đức lớp 1 có tầm quan trọng đặc biệt trong việc làm cho học sinh hiểu biết
các chuẩn mực đạo đức qua các mẫu hành vi đạo đức để từ đó các em ứng xử đúng
đắn với gia đình, cộng đồng ... Vì vậy công tác giáo dục đạo đức cho học sinh đó là
cái căn bản, cái gốc cho sự phát triển nhân cách.
Việc nâng cao chất lượng hiệu quả giờ dạy đạo đức lồng ghép kĩ năng sống cho
học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số trường TH Ea Bông nhằm khắc phục những khó
khăn từng bước nâng cao chất lượng giáo dục. Qua việc thực hiện các giải pháp đa
Người viết
Nguyễn Thị Hằng
16
NHẬN XÉT CỦA HĐKH TRƯỜNG TIỂU HỌC EA BÔNG
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
NHẬN XÉT CỦA HĐKH HUYỆN KRÔNG ANA
………………………………………………………………………………………..
.
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
17