(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình trồng và chăm sóc bảo vệ rừng sau trồng tại đội sản xuất Hợp Tiến thuộc Công ty Lâm nghiệp Đồng Hỷ huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên - Pdf 54

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------

NINH NÔNG HUY
THỰC HIỆN QUY TRÌNH TRỒNG VÀ CHĂM SÓC BẢO VỆ RỪNG
SAU TRỒNG TẠI ĐỘI SẢN XUẤT HỢP TIẾN THUỘC CÔNG TY
LÂM NGHIỆP ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý tài nguyên rừng

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2014 - 2018

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Giảng viên hướng dẫn : TS. Đặng Kim Tuyến

Thái Nguyên, năm 2018


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là quá trình điều tra
trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên tài liệu nào.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.
Thái Nguyên, tháng năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD

Người viết cam đoan

Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước

TS. Đặng Kim Tuyến

Ninh Nông Huy

Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu.
(Ký, ghi rõ họ tên)


DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Biểu hiện trạng sử dụng đất xã năm 2010 ...................................... 20
Bảng 2.2: Hiện trang dân số xã năm 2010 ...................................................... 22
Bảng 2.3: Diện tích, năng xuất và sản lượng cây trồng xã Hợp Tiến 2010 .... 22
Bảng 4.1. Khảo sát các yếu tố tự nhiên ........................................................... 28
Bảng 4.2: Các kỹ thuật trồng rừng và các nội dung chăm sóc bảo vệ rừng .. 29
Bảng 4.3: Dự toán chi phí trồng và chăm sóc, bảo vệ rừng năm thứ nhất ..... 30
Bảng 4.4: Điều tra về sinh trưởng và phẩm chất của cây keo hạt ngoại sau khi
trồng 3 tháng ................................................................................. 35
Bảng 4.5: Kết quả đánh giá tỷ lệ sống sau trồng rừng (3 tháng) theo dự án xã
Hợp Tiến năm 2017 ...................................................................... 36
Bảng 4.6 kết quả trồng rừng theo dự án của xã Hợp Tiến năm 2017 ............. 38


iv

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
PHẦN 1. MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài ..................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu ................................................................................... 3
1.2.1. Mục tiêu................................................................................................... 3
1.2.2. Yêu cầu.................................................................................................... 3
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 4
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ............................................................. 4

4.1.2. Các biện pháp kỹ thuật trồng rừng ........................................................ 29
4.1.3. Dự tính chi phí trồng rừng và chăm sóc rừng năm đầu ........................ 30
4.2. Thực hiện quy trình trồng và chăm sóc bảo vệ sau khi trồng .................. 31
4.2.1. Xử lý thực bì ......................................................................................... 31
4.2.2. Kỹ thuật làm đất .................................................................................... 31
4.2.3. Kỹ thuật trồng ....................................................................................... 32
4.2.4. Kỹ thuật chăm sóc và bảo vệ sau khi trồng .......................................... 34
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ........................................................... 39
5.1. Kết luận .................................................................................................... 39
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 40


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài
Tính đến 31 tháng 12 năm 2016, tổng diện tích rừng toàn quốc gần
14.377.682 ha, trong đó có gần 10.242.14 ha rừng tự nhiên và hơn 4.135.541
ha rừng trồng, độ che của rừng trên toàn quốc là 13.631.934 ha, độ che phủ
tương ứng là 41,19%. Tuy diện tích rừng và độ che phủ của rừng đã tăng lên
đáng kể nhưng chất lượng rừng vẫn còn rất thấp. Hầu hết diện tích rừng tự
nhiên là rừng trung bình và rừng nghèo, không còn khả năng đáp ứng được
nhu cầu sản xuất hiện nay. Đặc biệt là rừng trồng trong những năm vừa qua
năng suất đã nâng lên gần 20m3/ha/năm nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nguyên
liệu cho nhu cầu sản xuất của xã hội.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT, hiện nay cả nước có hơn
14.377.682ha rừng trồng có khả năng cung cấp một lượng gỗ khoảng 30,6
triệu m3. Tuy nhiên, lượng gỗ này chủ yếu chỉ phục vụ cho ngành chế biến

những năm qua công tác trồng rừng đã được các cấp chính quyền và người
dân quan tâm nhiều hơn, diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể, đặc biệt là
rừng sản xuất. Theo báo cáo về diễn biến tài nguyên rừng của tỉnh Thái
Nguyên, năm 2017 toàn tỉnh có 187 nghìn ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là
77 nghìn ha, và hơn 110 nghìn ha rừng trồng, tổng trữ lượng gỗ trên 3 triệu
m3 và có khoảng 24 triệu cây tre nứa. Hàng năm toàn tỉnh khai thác khoảng
20.000 m3 gỗ và 650 tấn tre nứa, lượng lâm sản này một phần phục vụ cho
nhu cầu sử dụng của người dân trong vùng, phần còn lại cung cấp nguyên
liệu cho Công ty ván dăm Thái Nguyên và Nhà máy giấy Bãi Bằng. Trong
những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có chủ trương đẩy mạnh công tác
trồng rừng sản xuất và loài cây trồng chính được lựa chọn là cây Keo lai và
Keo tai tượng. Mặc dù phần lớn diện tích đất trồng rừng sản xuất là trồng 2
loài cây trên, nhưng theo đánh giá sơ bộ của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh
Thái Nguyên thì lượng tăng trưởng bình quân hàng năm chỉ đạt khoảng 16 –


3

18m3/ha/năm. Với lượng tăng trưởng như vậy thì khả năng đáp ứng nhu cầu
về gỗ nguyên liệu cho địa phương là không đủ. Do đó, cần phải nâng cao
được năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng. Để đáp ứng được các yêu cầu trên
cần phải lựa chọn giống tốt, điều kiện lập địa và áp dụng các biện pháp kỹ
thuật thâm canh phù hợp, cũng như chăm sóc bảo vệ rừng sau trồng một cách
hiệu quả. Vì vậy, thực hiện đề tài “Thực hiện quy trình trồng và chăm sóc
bảo vệ rừng sau trồng tại đội sản xuất Hợp Tiến thuộc Công ty Lâm nghiệp
Đồng Hỷ- huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu
1.2.1. Mục tiêu
- Nắm được quy trình trồng và chăm sóc cây Keo ở xã Hợp Tiến, huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

nhiên này được phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern và Shim vào năm 1972
trong số các cây Keo tai tượng và Keo lá tràm trồng ven đường ở Sook
Telupid thuộc bang Sabah, Malaysia. Năm 1976, M.Tham đã kết luận thông
qua việc thụ phấn chéo giữa Keo Tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai
có sức sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ. Đến tháng 7 năm 1978, kết luận
trên cũng đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại
phòng tiêu bản thực vật ở Queensland - Australia (dẫn theo Lê Đình Khả,
1999) [11] . Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và
Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun và cộng sự, 1987,
Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabah (Rufelds, 1987) và Ulu Kukut
(Darus và Rasip, 1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của
Thái Lan (Kijkar, 1992). Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá Số


5

hóa bởi Trung tâm Học liệu 6 tràm đã được phát
hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội với
bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân dưới
cành lớn ( dẫn theo Lê Đình Khả và CS, 1999) [11] . Nghiên cứu về hình thái
cây Keo lai có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Rufelds (1988).
(Gan.E và Sim Boom Liang 1991) [17] các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất
hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm.
Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5, Keo
tai tượng lại thường xuất hiện ở lá thứ 8-9 còn ở Keo lai thì thường bắt đầu
xuất hiện ở lá thứ 5-6.
2.1.3 Những kết quả nghiên cứu về điều kiện lập địa
Nghiên cứu của Laurie (1974) đã cho thấy đất đai ở vùng nhiệt đới rất
khác nhau về nguồn gốc và lịch sử phát triển, điều này được thể hiện ở sự
khác nhau về đặc điểm của các phẫu diện đất, đó là độ dày tầng đất, cấu trúc

lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng. Đối với mỗi
dạng lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách
sắp xếp, bố trí mật độ khác nhau.
Tại Colombia, (Bolstand và cộng sự 1988) [16] cũng đã tìm thấy một vài
loại phân có phản ứng tích cực đối với rừng trồng Thông P. caribeae, đó là
Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium. Tại Cu Ba, cũng với đối tượng
là rừng Thông P. caribeae, khi nghiên cứu các công thức bón phân cho đối
tượng này (Herrero và cộng sự 1988) [18] đã kết luận bón phân Phosphate sau
13 năm trồng nâng cao sản lượng rừng từ 56m3/ha lên 69m3/ha. Từ những kết
quả nghiên cứu trên, một lần nữa đã khẳng định bón phân cho rừng trồng
mang lại những hiệu quả rõ rệt: nâng cao tỷ lệ sống, tăng sức đề kháng của
cây đối với các điều kiện bất lợi của môi trường, tăng sinh trưởng, nâng cao
sản lượng, chất lượng sản phẩm rừng trồng.


7

Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau
trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình là các công trình nghiên cứu của
(Julian Evans 1992) [19] khi nghiên cứu mật độ trồng rừng cho Bạch đàn E.
deglupta ở Papua New Guinea đã bố trí 4 công thức có mật độ trồng khác
nhau (2.985 cây/ha; 1.680 cây/ha; 1.075 cây/ha; 750 cây/ha), số liệu thu được
sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm
tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang lại tăng theo
chiều tăng của mật độ, điều này có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy
lượng tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng vẫn
nhỏ hơn những công thức trồng ở mật độ cao. Trong một nghiên cứu khác với
thông P. caribeae ở Quensland - Australia, tác giả cũng đã thí nghiệm với 5
công thức mật độ khác nhau (2.200 cây/ha; 1.680 cây/ha; 1.330 cây/ha; 1.075
cây/ha và 750 cây/ha), sau hơn 9 năm trồng cũng thu được kết quả tương tự,

đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá.
Trên quan điểm về sở hữu, Thomas Enters và Patrick B. Durst đã dẫn ra
rằng rừng trồng có thể phân theo các hình thức sở hữu sau:
- Sở hữu công cộng hay sở hữu Nhà nước.
- Sở hữu tư nhân: Rừng trồng thuộc hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã,
doanh nghiệp và các nhà máy chế biến gỗ.
- Sở hữu tập thể: Rừng trồng thuộc các tổ chức xã hội.
Liu Jinlong dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong
những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát
triển trồng rừng như:
- Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá. - Ký hợp đồng hoặc cho tư
nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước.
- Giảm thuế đánh vào các lâm sản.
- Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng.


9

- Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển
trồng rừng.
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ khâu quản lý
chung, vấn đề đất đai, thuế và cả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người
dân. Có thể nói, đây không chỉ là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia
trồng rừng mà còn gợi những định hướng quan trọng cho phát triển rừng
trồng sản xuất tại các nước đang phát triển ở Việt Nam.
Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề
được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các
quốc gia Đông Nam Á chính là:
- Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất.
- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ rừng trồng.

dòng được ký hiệu là KL. (Lê Đình Khả và các cộng sự 1997, 1999. 2006) khi
nghiên cứu về các đặc trưng hình thái và ưu thế lai của Keo lai đã kết luận
Keo lai có tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hai giống
bố mẹ. Keo lai có ưu thế lai về sinh trưởng so với Keo tai tượng và Keo lá
tràm, điều tra sinh trưởng tại rừng trồng khảo nghiệm 4,5 năm tuổi ở Ba Vì
(Hà Tây cũ) cho thấy Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng từ 1,2 1,6 lần về chiều cao và từ 1,3 - 1,8 lần về đường kính, gấp 2 lần về thể tích.
Tại Sông Mây (Đồng Nai) ở rừng trồng sau 3 năm tuổi Keo lai sinh trưởng
nhanh hơn Keo lá tràm 1,3 lần về chiều cao; 1,5 lần về đường kính. Một số
dòng vừa có sinh trưởng nhanh vừa có các chỉ tiêu chất lượng tốt đã được
công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật là các dòng BV5,
BV10, BV16, BV32, BV33. Khi nghiên cứu sự thoái hóa và phân ly của cây
Keo lai, (Lê Đình Khả 1997) [10] đã khẳng định: Không nên dùng hạt của cây
Keo lai để gây trồng rừng mới. Keo lai đời F1 có hình thái trung gian giữa hai
loài bố mẹ và tương đối đồng nhất, đến đời F2 Keo lai có biểu hiện thoái hóa
và phân ly khá rõ rệt, cây lai F2 sinh trưởng kém hơn cây lai F1 và có biến


11

động lớn về sinh trưởng. Do đó, để phát triển giống Keo lai vào sản xuất thì
phải dùng phương pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy mô từ những
dòng Keo lai tốt nhất đã được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ
kỹ thuật.
(Đoàn Thị Mai 1997) [12] thông báo kết quả nhân giống một số dòng
keo lai bằng kỹ thuật nuôi cấy mô, cũng cho kết quả tương tự như tác giả.
Nguyễn Ngọc Tân, để nhân tạo chồi keo lai với hệ số nhân cao, chỉ cần
dùng riêng BAP mà không cần phối hợp với chất khác, với nồng độ BAP 2,0
mg/l cho kết quả cao nhất.
(Lê Đình Khả và cộng sự 1999) [11] nốt sần và khả năng cải tạo đất của
keo lai đã thông báo kết quả ở giai đoạn 3 tháng tuổi, số lượng và khối lượng

công tác nghiên cứu cải thiện giống đã đạt được những thành tựu đáng kể. Từ
khảo nghiệm hàng chục giống Keo lai đã có 4 dòng có năng suất cao và thích
hợp với nhiều vùng sinh thái đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là
giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia là BV10; BV16; BV32; BV33 (Lê
Đình Khả, 1999) [11]. Gần đây một số dòng khác cũng đã được Bộ Nông
nghiệp và PTNT công nhận giống tiến bộ kỹ thuật là BV71; BV73; BV75;
TB3; TB5; TB6; TB12; BT1; BT7; BT11; KL2; KL20; KLTA3 (Lê Đình
Khả, 1999) [11]. Lai giống nhân tạo giữa các cây trội đã được chọn lọc từ các
xuất xứ có triển vọng nhất của Keo tai tượng và Keo lá tràm cùng một số
dòng Keo lai tự nhiên như BV10, BV16, BV32, BV33 đã được thực hiện
trong các năm 1997-1999 tại Ba Vì (Hà Tây cũ), từ thụ phấn có kiểm soát đã
thu được 10 tổ hợp lai đầu tiên. Những tổ hợp lai này có sinh trưởng tương
đối nhanh, có thân cây thẳng, cành nhánh nhỏ, ngọn phát triển tốt, đây
chính là cơ sở khoa học làm tiền đề để phát triển gỗ nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến trong nước cũng như xuất khẩu trong những năm tới (Lê
Đình Khả, 1999).


13

2.2.3. Những nghiên cứu về trồng rừng nguyên liệu công nghiệp
Ở Việt Nam, trong những thập kỷ vừa qua, vấn đề trồng rừng và kinh
doanh rừng trồng ngày càng được quan tâm. Bên cạnh những cây bản địa
được gây trồng thành công, như mỡ, tre luồng, thông nhựa... thì một số loài
cây mọc nhanh như keo, bạch đàn, với nhiều xuất xứ cũng được tham gia vào
cơ cấu cây trồng trong lâm nghiệp
Trồng rừng công nghiệp đã có nhiều tác giả nghiên cứu Những năm
1992 - 1995, trong khuôn khổ của chương trình KN03 - 03 năm 2001, (Hoàng
Xuân Tý) [14] và các cộng sự đã tiến hành đề tài KN03 - 13 “Nâng cao công
nghệ thâm canh rừng trồng (Keo, Bạch đàn), sử dụng cây họ đậu để cải tạo

thương phẩm/8 năm thì hoà vốn, nếu năng suất đạt 130m3 gỗ thương phẩm
(tương ứng 160m3 trữ lượng cây đứng, tức là tăng trưởng bình quân 20m3
/ha/năm) thì có lãi 8.100.000 đồng/ha. Chính phủ chỉ đạo nhà máy phải gắn
chặt với vùng nguyên liệu để giá mua nguyên liệu cho người sản xuất được
cao hơn. Nếu giá cây nguyên liệu giấy được cải thiện thì hiệu quả rừng trồng
còn cao hơn nữa.
(Đoàn Thị Mai 1997) [12] đã đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường vì
mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất canh tác
trong lâm nghiệp và vùng nguyên liệu giấy. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
năng suất rừng trồng công nghiệp và lập địa gây trồng có quan hệ mật thiết
với nhau. Tác giả đã dựa vào độ dốc, thực bì đặc trưng và độ sâu tầng đất để
phân dạng lập địa trồng rừng keo tai tượng ở vùng trung tâm thành 5 dạng,
đánh giá sinh trưởng của keo tai tượng, 8 tuổi, mật độ từ 930 - 1100 cây /ha
trên các dạng lập địa.
Trong khi đó ở Đông Nam Bộ, điều tra năng suất rừng trồng keo tai
tượng cũng nhận thấy, độ dầy tầng đất và loại đất có ảnh hưởng lớn tới năng
suất rừng. ở Bầu Bàng trên đất xám, tầng đất dày năng suất rừng 8 tuổi, mật
độ 1600 cây/ha, đạt 16-22m3 /ha/năm, còn ở Sông Mây, đất mỏng lớp hơn,


15

trên phiến sét năng suất đạt 15-19 m3 /ha/năm, ở Minh Đức (Bình Dương)
trên đất xám dày, năng suất rừng 6 tuổi đạt khá cao, từ 25-29 m3/ha/năm.
Năng suất rừng trồng còn phụ thuộc nhiều vào giống, làm đất và bón phân.
Các kết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 16 quả
điều tra đánh giá thấy, giống được cải thiện, làm đất và bón phân hợp lý đều
nâng cao năng suất rừng trồng. Keo lá tràm các trị số tương ứng là 34,4 so với
20,2m3 /ha/năm. Rõ ràng là để nâng cao năng suất rừng trồng công nghiệp,
cần phải chọn giống đã được cải thiện, phải chọn lập địa phù hợp để phát huy

cứu phương pháp đánh giá về sản lượng rừng trồng Keo lai ở vùng Đông
Nam Bộ, (Phạm Thế Dũng và Hồ Văn Phúc 2004) [1] đã chỉ ra rằng Keo lai
cho năng suất khác nhau trên các điều kiện lập địa khác nhau.
Nghiên cứu của (Trần Công Quân 2012) [13] về một số cơ sở khoa học
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng nguyên liệu bằng Keo lai và Bạch
đàn tại hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Với hai phương pháp phân chia lập
địa hương pháp dựa vào 6 yếu tố lập địa (Kiểu khí hậu, Dạng khí hậu, dạng
ẩm lập địa, dạng địa hình – địa thế, dạng đất và nền vật chất tạo đất, trạng thái
thực vật) đã phân chia được trên địa bàn nghiên cứu thành các dạng, nhóm lập
địa cụ thể. Phương pháp dựa trên 4 yếu tố chủ đạo (loại đất – đá mẹ; độ dốc;
độ dày tầng đất – tỷ lệ đá lẫn và thực vật chỉ thị). Kết quả của nghiên cứu cho
thấy trên địa bàn nghiên cứu có hai loại dạng lập địa chủ yếu là: FsII2a và
FSII2b thuộc nhóm dạng lập địa C1 và C2 phù hợp với trồng Keo lai và Bạch
đàn urophylla dòng U6. Mức độ thích hợp của Keo lai trên các lập địa ở địa
bàn nghiên cứu đạt trung bình cả vùng diện tích 4.488,8ha/ 8.831 ha, chiếm tỷ
lệ trung bình 50,86%. Ảnh hưởng của các yếu tố lập địa (hàm lượng mùn
trong đất, độ dày tấng đất…); hay việc tuân thủ các biện pháp kỹ thuật liên
hoàn (phát dọn thực bì, làm đất, bón phân, chăm sóc…) đến sinh trưởng của
cây Keo lai và Bạch đàn U6 rất rõ rệt, kiểm tra thống kê đều có Ft>F05, hoặc
Ut>1,96. Tại các điểm nghiên cứu, trồng rừng Keo lai và Bạch đàn U6 chu kỳ


17

kinh doanh 7 năm đều cho hiệu quả kinh tế cao. Hiệu quả kinh tế rừng trồng
Keo lai và Bạch đàn U6 phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn điều kiện lập
địa, tuân thủ các biện pháp kỹ thuật liên hoàn (phát dọn thực bì, làm đất, chọn
giống, bón phân, mật độ cây trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng…); các yếu tố kinh
tế (mức đầu tư cho trồng rừng, giá cả các yếu tố đầu vào, giá cả gỗ nguyên
liệu đầu ra, công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm…), luận án đã dần chứng minh

và sử dụng bền vững. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra những khó khăn và
hạn chế củachính sách giao đất khoán rừng đồng thời đề xuất các khuyến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng.
Đỗ Doãn Triệu (1997) [15] với nghiên cứu xây dựng một số luận cứ
khoa học và thực tiễn góp phần hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu
tư nước ngoài vào trồng rừng nguyên liệu công nghiệp.
Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát (2005) [6] đánh giá thực tế triển khai
thực hiện chính sách về quyền hưởng lợi (QĐ 178).
Nghiên cứu thị trường lâm sản cũng được nhiều tác giả quan tâm vì đây
là vấn đề có quan hệ mật thiết tới trồng rừng, có thể điểm qua một số công
trình nghiên cứu như sau:
Võ Đại Hải (2004) [4] trong nghiên cứu về yếu tố đầu vào và đầu ra
trong sản xuất nông lâm sản hàng hoá ở miền núi phía Bắc, tác giả đã phân
tích những lợi thế cũng như bất lợi và hiệu quả của sản xuất nông sản hàng
hoá ở miền núi. Võ Đại Hải (2003 - 2005) [3] [5] khi tiến hành nghiên cứu về
thị trường lâm sản rừng trồng miền núi phía Bắc đã tổng hợp nên các kênh
tiêu thụ gỗ rừng trồng cũng như lâm sản ngoài gỗ. Tác giả cũng chỉ ra rằng để
phát triển thị trường lâm sản rừng trồng cần phát triển công nghệ chế biến lâm
sản cũng như hình thành được phương thức liên doanh liên kết giữa người
dân và xí nghiệp lâm nghiệp.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status