ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ XUÂN THƯƠNG
XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC
SINH HỌC 10 THPT BẰNG TIẾNG ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ XUÂN THƯƠNG
XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC
SINH HỌC 10 THPT BẰNG TIẾNG ANH
Ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã ngành: 8 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ HÀ
THÁI NGUYÊN - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.
NGUYỄN THỊ XUÂN THƯƠNG
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ...........................................................................iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................................ v
DANH MỤC CÁC HÌNH.............................................................................................. v
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................1
1. Lý do lựa chọn đề tài .................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................3
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ...........................................................................3
4. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................................3
6. Giả thuyết khoa học ...................................................................................................3
7. Phương pháp nghiên cứu ...........................................................................................3
8. Những đóng góp mới của đề tài .................................................................................5
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .............................. 6
1.1. Vấn đề tích cực hóa trong dạy học .........................................................................6
1.2. Tổng quan tài liệu ...................................................................................................7
1.2.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài .........................................................................7
1.2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam ............................................................................8
1.3. Cơ sở lý luận của đề tài...........................................................................................9
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................69
PHỤ LỤC....................................................................................................................72
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Đọc là
Chữ viết tắt
1
GV
Giáo viên
2
HS
Học sinh
3
PPDH
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1:
Biểu đồ thực trạng dạy học Sinh học bằng tiếng Anh tại một số
trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ...........................................19
Hình 2.1.
Sơ đồ tổng quát quy trình thiết kế và tổ chức trò chơi quy tắc ................23
Hình 2.3.
Minh họa sơ đồ “Dòng năng lượng trong thế giới sống” (tiếng Anh) .....33
Hình 2.4.
Minh họa sơ đồ “Dòng năng lượng trong thế giới sống” (tiếng Việt) .....34
Hình 2.2.
Sơ đồ tổng quát quy trình thiết kế và tổ chức biểu diễn kịch ..................40
Hình 3.1.
Biểu đồ điểm TBTC của 6 bài giảng Sinh học bằng tiếng Anh khi
thực hiện tác động sư phạm .....................................................................64
Hình 3.2:
Yêu cầu đổi mới dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS được pháp
chế hóa trong Luật Giáo dục (2005) quy định tại điều 5.2 “Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học”[18].
Nghị quyết 29 - NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản và toàn
1
diện giáo dục cũng nhấn mạnh “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học” [1].
Như vậy yêu cầu của đổi mới PPDH là phải sử dụng các PPDH nhằm phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo cho HS.
1.3. Xuất phát từ nội dung chương trình Sinh học 10
Có thể nói trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, Sinh học là môn có nhiều thuận
lợi để tiến hành triển khai dạy học bằng tiếng Anh, là một trong các môn có thể áp
dụng nhiều PPDH tích cực. Đồng thời Sinh học là môn khoa học thực nghiệm có
nhiều hiện tượng gần gũi với đời sống. Do đó, trong quá trình dạy học có thể tìm
kiếm được nhiều phương tiện trực quan hỗ trợ. Các hình ảnh trực quan giúp cho việc
truyền tải kiến thức bằng ngôn ngữ tiếng Anh trở nên đơn giản hơn. Chương trình
Sinh học cấp THPT là chương trình Sinh học đại cương, nghiên cứu các cấp độ tổ
chức của sự sống. Trong đó, Sinh học 10 nghiên cứu cấp tổ chức sống đầu tiên là cấp
Tế bào. Nội dung chương trình Sinh học 10 tập trung nghiên cứu về cấu trúc, chức
năng và các quá trình sống diễn ra ở cấp Tế bào cũng như các quá trình sống diễn ra ở
vi sinh vật. Do đó nguồn tài liệu trực quan bằng tiếng Anh về cấu trúc của tế bào và
mô hình động các các quá trình diễn ra trong tế bào, vi sinh vật rất phong phú. Đồng
thời các thuật ngữ tiếng Anh chuyên ngành được sử dụng trong phần Sinh học Tế
bào, Sinh học Vi sinh vật là các thuật ngữ chuyên sâu, rõ ràng. Hơn nữa cách khai
thác kiến thức đối với cấp Tế bào ở nhiều tài liệu tiếng Anh khá tương đồng nhau tạo
điều kiện thuận lợi cho GV trong việc thiết kế bài giảng.
- Nghiên cứu các văn bản về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới giáo dục.
- Nghiên cứu tổng hợp tài liệu, các công trình khoa học đã công bố có liên
quan đến các biện pháp dạy học tích cực và dạy học bằng tiếng Anh.
- Nghiên cứu chương trình Sinh học 10 - SGK nâng cao, các giáo trình, sách
tham khảo, luận án, luận văn làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra
Điều tra thực trạng việc dạy học Sinh học bằng tiếng Anh và sử dụng các
phương pháp, biện pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn Sinh học bằng tiếng
Anh tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thông qua phiếu tham khảo ý
kiến GV và HS.
3
7.2.2. Phương pháp chuyên gia
Tiến hành phỏng vấn, xin ý kiến các chuyên gia về ngôn ngữ, chuyên gia về
phương pháp kỹ thuật dạy học tích cực.
7.2.3. Phương pháp kiểm nghiệm sư phạm
Tổ chức giảng dạy một số bài giảng Sinh học 10 bằng tiếng Anh tại trường
THPT để kiểm tra tính đúng đắn của các biện pháp đã đề xuất thông qua phiếu hỏi.
7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
GV tiến hành đo tính tích cực của HS thông qua thang đo tính tích cực đã lựa
chọn. Phiếu đánh giá theo các tiêu chí được đánh giá ở các mức điểm khác nhau.
Lập bảng phân phối tần suất các mức điểm. Xác định hệ số của từng tiêu chí
sau đó số liệu tính toán được xử lý bằng thống kê toán học sử dụng phần mềm
Microsoft Excel và phần mềm SPSS 20.0 với các tham số sau:
- Giá trị trung bình : là tham số xác định giá trị trung bình của dãy số thống kê.
- Độ lệch chuẩn: là một đại lượng thống kê mô tả dùng để đo mức độ phân tán
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Vấn đề tích cực hóa trong dạy học
Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của
giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển
cộng đồng. Tích cực và tích cực hóa hoạt động nhận thức đã được nhiều nhà nghiên
cứu đề cập. Nghiên cứu của Trần Bá Hoành, Ngô Quang Sơn và Bùi Văn Đoàn đã
xây dựng cơ sở lý luận của các PPDH nhằm tích cực hóa hoạt động của người học gọi
là các PPDH tích cực. Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của sự phát
triển nhân cách trong quá trình giáo dục [12].
Tác giả Thái Duy Tuyên viết trong cuốn Giáo dục học hiện đại có quan niệm
như sau “Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động nhằm chuyển biến các vị trí của
người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm
kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập” [23]. Trong một nghiên cứu khác, Thái
Duy Tuyên cũng xây dựng cơ sở lý luận về bản chất của tính tích cực nhận thức, các
mức độ nhận thức và các biểu hiện của tính tích cực hoạt động nhận thức của HS đặt
nền móng cho việc đánh giá hiệu quả tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong
các hoạt động giáo dục [24].
PPDH tích cực là thuật ngữ rút gọn, để chỉ các phương pháp nhằm đề cao vai
trò tự giác, tích cực, độc lập nhận thức của người học dưới vai trò tổ chức, định
hướng của người dạy. Như vậy, PPDH tích cực được thực hiện theo hướng tích cực
hóa hoạt động nhận thức của người học, nhằm phát huy tính tự giác, chủ động, sáng
tạo của người học.
PPDH tích cực (Active Teaching and Learning) hướng tới tích cực hóa hoạt
động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung phát huy tính tích cực của người
học chứ không chỉ tập trung hoạt động tích cực của người dạy. Với PPDH tích cực,
người dạy đóng vai trò chủ đạo - người học đóng vai trò chủ động chiếm lĩnh tri thức.
Tuy nhiên, mọi PPDH nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng cách đều có thể phát
huy tính tích cực học tập của HS. Theo Trần Bá Hoành [10], PPDH tích cực là thuật
văn bản, hoặc bằng cách ra các quyết định theo một cấu trúc đã được định sẵn để phát
triển nhân vật hay tình tiết. Các hành động của người chơi có thể tuân theo hoặc
không tuân theo một hệ thống các quy định và hướng dẫn [26].
7
Năm 2013, Marco Antonio Ferreira Randi và Hernandes Faustino de Carvalho
(Brazil) đã công bố những nghiên cứu từ năm 2008 đến 2010 về “Học qua các trò
chơi nhập vai: cách tiếp cận để học hỏi tích cực và giảng dạy” (Learning through
role-playing games: an approach for active learning and teaching) [29]. Nghiên cứu
này đánh giá việc sử dụng các trò chơi nhập vai (RPG) như một cách tiếp cận phương
pháp luận để dạy Sinh học tế bào. Nghiên cứu đã đánh giá được sự hài lòng của HS,
kết quả học tập và sự ghi nhớ kiến thức đã học. Các sinh viên Y khoa năm thứ nhất
tại hai trường đại học công của Braxin đã tham dự một lớp RPG hoặc một bài giảng
về các chủ đề liên quan đến Sinh học tế bào. Các bảng câu hỏi dựa trên lớp trước và
sau RPG được so sánh với điểm trong các kỳ thi thường lệ và trong một bài kiểm tra
không báo trước một năm sau để đánh giá thái độ và học tập của HS. Với 230 sinh
viên tham dự lớp RPG, sau khóa học có 81% trả lời rằng họ sẽ sử dụng phương pháp
này. Các lớp RPG đều có hiệu quả như các bài giảng chính thức, được các sinh viên
chấp nhận và có thể phục vụ như là công cụ giáo dục, tạo cho sinh viên cơ hội để học
hỏi tích cực và có khả năng giữ được kiến thức có được hiệu quả hơn.
Như vậy, có nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu và áp dụng phương pháp
đóng vai trong dạy học, các nghiên cứu cũng khẳng định khả năng phát huy tính tích
cực học tập của người học của phương pháp này. Đó là những quan điểm làm cơ sở
lý luận cho việc sử dụng các biện pháp (thuộc phương pháp đóng vai) trong dạy học
nói chung và dạy học Sinh học 10 bằng tiếng Anh nói riêng.
1.2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Năm 2015, Lê Thị Ngọc Hà đã nêu trong Luận văn thạc sỹ giáo dục học (Tiểu
học) như sau “Việc vận dụng phương pháp đóng vai trong các phân môn Tiếng Việt
nhớ ngắn hạn - trong đó xử lí các thông tin đã được cung cấp bởi bộ nhớ cảm giác và
(3) bộ nhớ dài hạn - khu vực ít lưu trữ kiến thức thường trực. Theo mô hình lý thuyết
này, quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc, có ảnh hưởng quyết định đến hành
vi. Vậy trong dạy học nhiệm vụ của GV là phải thiết kế các hoạt động học tập hấp
dẫn nhằm tối ưu hóa quá trình nhận thức của người học.
1.3.1.2. Cơ sở tâm lý học hoạt động
P.Ia Galpêrin là nhà tâm lý học thuộc dòng phái tâm lý học hoạt động. Trên cơ sở
lý luận và thực tiễn tâm lý học, P.Ia Galpêrin đã đưa ra lý thuyết hình thành hành động trí
tuệ với quan điểm là: “hoạt động tâm lý là kết quả của việc chuyển các hành động vật
chất bên ngoài vào lĩnh vực phản ánh- vào lĩnh vực tri giác, biểu tượng và khái niệm.
9
Quá trình di chuyển ấy tiến hành theo một số bước; ở mỗi bước có sự phản ánh mới, một
lần tái hiện hành động và sự cải tổ một cách có hệ thống hành động đó” [16]. Dựa trên
cơ sở lý thuyết hoạt động, quá trình dạy học sử dụng trò chơi quy tắc cần được chia
thành các bước với hai hoạt động chính là phần định hướng và phần thực hiện.
1.3.1.3. Cơ sở tâm sinh lý lứa tuổi [11], [15]
- Đặc điểm của hoạt động học tập: HS THPT đã có ý thức học tập nâng cao,
động cơ học tập được thể hiện rõ ràng. Hơn nữa ở độ tuổi này khả năng tư duy lý
luận, trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo đã khá phát triển, có năng lực phân
tích, phê phán và nhận định.
- Đặc điểm phát triển tâm lý: Độ tuổi HS THPT có những cảm giác, tri giác có
mục đích nên năng lực cảm thụ được nâng cao. Cũng ở lứa tuổi này, trí nhớ phát
triển, có khả năng sử dụng nhiều phương pháp để ghi nhớ.
Các đặc điểm tâm lý trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức HS tham gia
vào các hoạt động trò chơi quy tắc bằng tiếng Anh.
1.3.1.4. Cơ sở lý luận dạy học
Quá trình học tập là một chuỗi các hành động và thao tác tư duy để lĩnh hội tri
- Đóng vai “mở” hay đóng vai “tự do”: Không có quy định bắt buộc về hành
động chi tiết của người học mà phụ thuộc vào sự sáng tạo và tự kiến tạo của người
tham gia.
Cũng theo tác giả Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường, tiến trình của trò chơi
đóng vai được sử dụng trong dạy học thường bao gồm các giai đoạn [2].
- Giai đoạn chuẩn bị: GV xác định đề tài, mô phỏng các tình huống và các vai,
đưa ra thông tin về các vai và chọn vai.
- Giai đoạn tiếp nhận: GV giải thích rõ các vai, quy tắc tham gia đồng thời xác
định các tiêu chí quan sát và giao nhiệm vụ quan sát cho HS.
- Giai đoạn tương tác: HS đóng vai trò là người chơi sẽ nhập vai và thực hiện
hành động, HS không trực tiếp tham gia đóng vai sẽ đóng vai trò là người quan sát.
- Giai đoạn đánh giá: Người chơi tách ra khỏi vai trò của mình, cùng với
người quan sát để đánh giá trò chơi đóng vai. Cuối cùng GV hỗ trợ quá trình rút ra
kiến thức từ trò chơi.
Dựa trên cơ sở các lý thuyết đã nêu về phương pháp đóng vai, việc xây dựng
quy trình thiết kế và tổ chức các biện pháp được đề xuất trong luận văn cần căn cứ
vào các giai đoạn chung của phương pháp đóng vai.
11
1.3.2.1. Biện pháp trò chơi quy tắc
Hiện nay, có nhiều hình thức trò chơi được sử dụng trong dạy học với những
tên gọi khác nhau như trò chơi dạy học, trò chơi học tập, trò chơi giáo dục, trò chơi
kiến tạo….
Theo tác giả Nguyễn Kim Chuyên, tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học
như là phương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập…không tính đến nội dung và tính
chất trò chơi đều được gọi là trò chơi dạy học. Trò chơi dạy học còn được hiểu là trò
chơi có luật có định hướng đối với sự phát triển trí tuệ của người học, thường do GV
nghĩ ra và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học [7].
của mình theo kịch bản có sẵn [30].
Trò chơi nhập vai trực tiếp được sử dụng trong lớp học có thể hỗ trợ giải quyết
một vấn đề phức tạp thông qua việc đề xuất một kịch bản hành động [28].
Trong thực tiễn dạy học, biểu diễn kịch được sử dụng khá phổ biến ở một số
môn như Lịch sử, Văn học, Giáo dục công dân, tiếng Anh….với tên gọi khác như
đóng kịch, sân khấu hóa. Trong cuốn Dạy học và PPDH trong nhà trường, tác giả
Phan Trọng Ngọ đã đề cập đến phương pháp đóng kịch “Phương pháp đóng kịch
trong dạy học là giáo viên cung cấp kịch bản và đạo diễn, học viên hành động theo
các vai diễn” [16]. Theo PGS.TS. Trần Thị Tuyết Oanh “Đóng kịch là phương pháp
dạy học, trong đó giáo viên tổ chức quá trình dạy học bằng cách xây dựng kịch bản
và thực hiện kịch bản đó nhằm giúp HS hiểu sâu sắc nội dung học tập” [17].
Dù sử dụng với tên gọi nào thì hiện nay hình thức này cũng được áp dụng khá
phổ biến trong dạy học bởi một số ưu điểm như:
- Tạo hứng thú học tập: việc sử dụng biểu diễn kịch tạo cảm giác thoải mái,
vui tươi trong lớp học, kích thích tư duy sáng tạo của HS.
- Tạo điều kiện gắn kết các thành viên trong lớp: tinh thần hợp tác nhóm được
tăng cường trong quá trình tập luyện, hòa mình trong hoạt động của tập thể.
- Giáo dục kỹ năng cho HS: HS có cơ hộit thể hiện năng khiếu trước đám đông
nên sự tự tin được tăng cường. Đồng thời kỹ năng giao tiếp được rèn luyện trong quá
trình thực hiện các nhiệm vụ GV giao cho nhóm….
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ biểu diễn kịch với vai trò như
một biện pháp dạy học.
13
1.3.3. Tính tích cực
Theo góc độ Tâm lý học, tính tích cực được biểu đạt dưới những quan niệm
khác nhau như:
- Tính tích cực là động lực cá nhân của các cơ thể sống với tư cách là nguồn
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy môn Sinh học bằng tiếng Anh nói
riêng, phương pháp đóng vai nếu được sử dụng hợp lý sẽ thúc đẩy tự nhiên tính năng
động và tích cực tham gia học tập của HS. Đồng thời tạo được không khí học tập vui
vẻ mà ở đó quá trình học tập không chỉ là quá trình tiếp thu kiến thức mà còn rèn
luyện được kỹ năng học tập và phát triển nhiều năng lực cho HS.
Phương pháp đóng vai được sử dụng hợp lý có thể giúp HS lĩnh hội tri thức
trong các khâu của quá trình dạy học, gây hứng thú học tập đối với bộ môn, làm cho
kiến thức HS chiếm lĩnh được thêm sâu sắc. Trò chơi đóng vai thường mang tính hấp
dẫn, lôi cuốn với mọi đối tượng, nó khuyến khích mức độ tập trung công việc thực sự
cũng như kích thích niềm đam mê đối với bài học.
Phương pháp đóng vai là một trong những phương pháp có khả năng phát huy
tính tích cực học tập hiệu quả, hướng tới mục đích cao nhất là phát triển tính sáng tạo
của HS bởi những nghiên cứu về tâm lý học nhận thức đã cho biết “tính tích cực học
tập liên quan đến động cơ học tập, động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là yếu tố
dẫn tới sự tự giác. Hứng thú và tự giác là 2 yếu tố tâm lý bảo đảm tính tích cực. Tự
giác, tích cực dẫn tới phong cách suy nghĩ độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống
của sự sáng tạo. Ngược lại, phong cách học tập tích cực, độc lập, sáng tạo có ảnh
hưởng tới sự phát triển hứng thú và tự giác” [10].
Như vậy, vấn đề tích cực hóa hoạt động của HS thông qua phương pháp đóng
vai có tầm quan trọng đặc biệt nhằm tạo ra một quá trình tương tác, thu hút, động
viên HS tham gia và hợp tác nhằm nâng cao tính chủ thể và tự giác tạo cơ hội phát
huy sự độc lập, sáng tạo.
1.4. Cơ sở thực tiễn của đề tài
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, phương pháp và phạm vi nghiên cứu của luận
văn, chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng dạy học Sinh học bằng tiếng Anh và thực
trạng sử dụng phương pháp, biện pháp tích cực trong dạy học Sinh học bằng tiếng
Anh thông qua phiếu tham khảo ý kiến dành cho GV và HS.
1.4.1. Phiếu tham khảo ý kiến GV
Tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến gồm 12 câu hỏi (phụ lục 1)
dành cho 32 GV dạy học môn Sinh học ở 07 trường THPT tại Thái Nguyên (Chu Văn
tiếng Anh (90,62%) và một số ít GV hiếm khi sử dụng trong dạy học Sinh học bằng
tiếng Anh. Trong đó những GV đã từng sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học
Sinh học bằng tiếng Anh cũng khẳng định chưa có quy trình cụ thể cho việc tổ chức
dạy học bằng phương pháp này, việc sử dụng chỉ dựa trên kinh nghiệm và cảm tính.
16
- Các GV được hỏi tự đánh giá khả năng sử dụng các phương pháp tích cực ở
mức trung bình, khá trong dạy học Sinh học là 31,25% và dạy Sinh học bằng tiếng
Anh là 6,26%.
- Qua phân tích kết quả về vấn đề 2 cho thấy GV đã tiếp cận với phương pháp
đóng vai trong dạy học Sinh học bằng tiếng Anh. Tuy nhiên tần số sử dụng còn rất
thấp và chưa có quy trình cụ thể. Hầu hết các GV cũng tự đánh giá về khả năng sử
dụng các phương pháp tích cực trong dạy học Sinh học bằng tiếng Anh còn nhiều hạn
chế, chưa có quy trình cụ thể để GV thực hiện một cách có hiệu quả nhất. Vì vậy cần
có những nghiên cứu cụ thể về sử dụng phương pháp tích cực nói chung và phương
pháp đóng vai nói riêng trong dạy học Sinh học bằng tiếng Anh.
- Vấn đề 3: Thực trạng về sử dụng các biện pháp tích cực trong dạy học Sinh
học bằng tiếng Anh
Kết quả tham khảo ý kiến GV thực trạng về sử dụng các biện pháp tích cực
trong dạy học Sinh học bằng tiếng Anh tại phụ lục 7 cho thấy:
- Trong số các GV sử dụng các phương pháp tích cực thì chỉ có 9,38% sử
dụng biện pháp trò chơi quy tắc và 6,25% sử dụng biện pháp biểu diễn kịch trong
dạy học Sinh học bằng tiếng Anh. Như vậy, tính trên tổng số GV được hỏi thì tỉ lệ
này rất nhỏ.
- Chỉ có 6,26 % GV khẳng định kỹ năng sử dụng các biện pháp tích cực trong
dạy học Sinh học bằng tiếng Anh ở mức trung bình và khá. Đó là một nguyên nhân
dẫn đến các GV còn chưa mạnh dạn áp dụng các biện pháp tích cực trong dạy hoc
Sinh học bằng tiếng Anh.